Chủ Nhật, 3 tháng 10, 2010

Cà Phê Givral, Cà Phê Seattle

Nguyễn Công Khanh

Ai nghe thấy tên thành phố Seattle đều ngán về cái mưa dai dẳng, một năm gần sáu tháng trời. Biểu tượng của Seattle là một người cầm dù.
Nắng ở đây hiếm hoi như hạnh phúc
Anh có về gọi nắng đến cho em…(thơ Trần Mộng Tú)


Vậy mà chúng tôi đã ở thành phố Seattle hơn 35 năm qua.


Khi chúng tôi từ trại tị nạn Camp Pendleton, Cali hồi 1975, muốn lên Seattle định cư, thì một người bạn đang ở Quận Cam vội vàng vào trại ngăn chúng tôi đừng đến vùng gió lạnh mưa mùa đó. Một người cháu có chồng Hải quân Mỹ cũng sợ chúng tôi không chịu được cái lạnh của vùng Tây Bắc và khuyên chúng tôi nên cố chờ để được ra cư ngụ ở Cali.

Nhưng chắc là số trời đã định nên sau này nhiều lần chúng tôi cố cựa quậy muốn rời nhà về miền nắng ấm, dù đã có những người bạn cố kéo chúng tôi về Cali, và dù đã đặt tiền mua nhà mấy lần tại khu Little Saigon mà rồi chúng tôi vẫn mọc rễ ở Seattle chừng ấy năm trời.

Tới nay đã nghỉ hưu rảnh rỗi, con cái ở khắp mọi nơi, không gì ràng buộc thì chúng tôi lại quen cái mưa phùn của Seattle dai dẳng, cái mưa đã giúp cho thành phố sạch sẽ, không khí trong lành, cây cối lúc nào cũng xanh tươi. Mùa hè nào trời nắng quá hai tuần là chúng tôi lại mong mưa để cây cỏ khỏi bị chết khô và cũng đỡ công tưới nước.

Seattle được nổi tiếng thế giới vì có hãng máy bay Boeing, có Microsoft, có Amazone… và không thể quên được Seattle còn có cà phê Starbucks, Seattle’s Best, Tully’s. Trong thành phố chỉ đi vài chục thước lại thấy có tiệm cà phê. Buổi sáng trên phố từng đám người một tay cầm cellphone, một tay cầm ly cà phê, vội vã băng qua đường đến sở làm. Đó là một hình ảnh quen thuộc của Seattle. Mỗi khi đi xa, chúng tôi thường mang theo cà phê Seattle’s Best như một quà địa phương để tặng bạn.

Tôi không nhớ rõ ngụm cà phê đầu tiên đến với tôi từ khi nào, chắc chắn không phải đến năm mười tám khi tôi rời Hà nội vào Nam năm 1954.

Lúc thiếu niên trong thời tản cư ở miền Bắc vì chiến tranh tôi được nghe có những quán cà phê ở các thị trấn mới mọc lên như Chợ Đại, Đồng Quan, Cống Thần. Sau này, khi trở lại Hà nội, tôi hay chơi đàn banjo bài “Cô hàng Cà Phê” của Canh Thân, mà tự hỏi không hiểu cô hàng cà phê huyền hoặc đến thế nào mà có người chết mê chết mệt được.

Gia đình tôi không ai uống cà phê. Hồi nhỏ ở Hà Nội, có những buổi tối đi qua đầu phố, tôi ngửi thấy được một mùi thơm ấm áp lan tỏa cả một vùng. Dưới ánh sáng đèn đường mờ ảo, mấy người đàn ông ngồi yên lặng trên ghế đẩu thấp, trầm ngâm hút thuốc lá, quanh một một cái bàn nhỏ cũng thấp như ghế, trên để những phin cà phê bằng nhôm. Bên cạnh đó một người đang khều than đỏ rực đun nước nóng trong một cái tủ gỗ nhỏ. Tôi cảm thấy như họ đang sống những giờ phút riêng biệt, xa với đời sống thường nhật của mọi người. Đó là một hàng cà phê gánh. Sau này, tôi còn được biết Hà nội có một số tiệm cà phê, mà cà phê Nhân được nổi tiếng ở phố Cầu Gỗ. Tôi tiếc là hồi đó hãy còn quá trẻ để được ngồi cùng với họ.

*

Hồi mới di cư vào Nam, tôi cùng với một nhóm bạn thường đạp xe lang thang để khám phá thành phố mới. Chúng tôi hay đến nhà một người bạn có tên là Dzư Văn Chất như một trạm nghỉ chân. (Tôi nhớ có hồi anh còn có tên là Phạm Dzư Chất?). Sở dĩ tôi nhớ vì họ của anh được viết một cách đặc biệt là “Dzư” và anh lại là em của một nhà thơ nổi tiếng về một thể thơ lạ. Mỗi lần đến đó, phòng bên ngoài thì các nhà thơ nhà văn ngồi họp chuyện với nhau, còn chúng tôi ngồi ở phòng bên trong nơi có bàn riêng của ba anh. Thay vì lấy nước cho chúng tôi uống, anh tự động như một thói quen lấy nước sôi đổ thêm vào phin cà phê đang pha dở của ông cụ và chia cho chúng tôi. Ly cà phê xái nhì đó chắc là những ngụm cà phê đầu đời của tôi. Một mùi thơm và hương vị nhẹ nhàng qua các giác quan làm tôi tưởng đã thành một người lớn. Chúng tôi lúc đó thích uống ngọt nên cứ lấy muỗng cho thêm đường, nghĩ bụng nếu được uống thứ cà phê pha nước nhất thì chắc hẳn là tuyệt diệu lắm.

Cả thời kỳ trung học tôi không có dịp nào để uống một ly cà phê thực sự. Mãi cho đến khi thi được vào trường Hành Chánh năm 1959, hàng tháng lãnh học bổng ngang với lương một công chức. Tôi để dành tiền mua được một xe Vespa Italy, và có tiền dư rủng rỉnh đi với các bạn ngồi hàng giờ ở các quán cà phê hay quán kem. Lúc đó chúng tôi thường đến hai tiệm Mai Hương và Hà Nội ở góc đường Bonard và Pasteur, ngồi nói chuyện hay chẳng nói câu nào với nhau cho đến khi trong ly chỉ còn nước đá tan lạt nhách. Vừa uống cà phê vừa nhìn người qua lại. Nhìn mãi họ, lại thấy họ nhìn lại mình như một bọn vô công rồi nghề chẳng giống ai. Sau một thời gian, chúng tôi cũng bỏ cái thú ngồi quán nhìn người qua lại.

Trường Hành Chánh những năm đó tọa lạc tại đường Alexandre de Rhode cạnh bộ Ngoại Giao, đằng sau nhà thờ Đức Bà gần ngay đường Tự Do.

Sau giờ tan học, sẵn xe chúng tôi thường rủ nhau lượn một vòng xuống phố và tìm vào các tiệm cà phê trên đường Tự Do. Trong các tiệm đó, tiệm La Pagode hình như để dành cho các văn thi sĩ. Tiệm Brodard là một tiệm ăn hơn là tiệm cà phê. Chỉ có Givral là hợp với chúng tôi vì khung cảnh giản dị hơn, bánh, kem và cà phê ngon mà lại ở ngay góc đường, nhìn sang khách sạn Continental và nhà Hát Lớn của thành phố. Cả hai cùng ở trên đường Tự Do biểu hiện cho một thời thuộc địa thanh lịch của Saigon. Phía bên kia là khách sạn Caravell nhiều tầng xây theo kiến trúc mới. Những nơi đó đã từng chứng kiến biết bao biến cố của lịch sử.

Sau này tiệm Givral càng nhiều khách ngoại quốc đến, chiếm chỗ của chúng tôi và cà phê bắt đầu tăng giá. Chúng tôi phải tìm nơi khác, nhưng Givral đã để lại trong lòng tôi một ấn tượng đẹp mãi mãi.

*

Nhớ lại những thời gian mới vào Nam, gia đình tôi theo sở ra Đà Nẵng, còn tôi ở lại Saigon học trường Chu văn An. Trong những ngày đầu, chưa có chỗ trọ, tôi đạp xe đến trại học sinh di cư Phú Thọ, nhưng trại đã đóng cửa, nhìn vào ngổn ngang rác rưởi. Tôi lại tìm đến nhà Hát Lớn lúc đó vẫn còn một số người di cư vào muộn nên chưa giải tỏa. Tôi đang đứng lớ ngớ ở đại sảnh, thì gặp một người bạn đang lễ mễ khuân hành lý đi xuống. Sau khi biết tôi đang cần nơi trú ngụ, anh bèn dẫn tôi lên đến khúc ngoặt của cầu thang tầng thứ ba, bảo tôi cứ dọn đến chiếm chỗ của anh vì anh đã có một nơi ở bên ngoài rồi. Anh dục tôi vể dọn đến ngay. Hành trang của tôi chẳng có bao nhiêu. Tôi may mắn có một cái xe đạp để di chuyển, một vali nhỏ đựng quần áo, một ít vật dụng và một giường xếp kiểu nhà binh.

Những ngày chờ trường khai giảng, tôi hay nằm một mình nhìn qua khung kính vỡ mà tôi thầm cảm ơn người nào đã đập ra để tôi có thể nhìn xuống những cảnh sinh hoạt dưới đường. Từ đó tôi có thể thấy cái công viên, mà sau này được dựng tượng một người lính Thủy Quân Lục Chiến cầm súng xung phong.

Tôi nhìn thấy cái bồn phun nước mà xe cộ chạy quanh suốt ngày, nhìn dọc theo phố Bonard, mà xa xa là bùng binh chợ Bến Thành. Trước mặt nhà Hát Lớn là phố Catinat, một khu phố Tây có nhiều người ngoại quốc áo quần sang trọng qua lại. Những người thợ chụp hình photostop trên công viên thường bất ngờ nhắm chụp những khách qua lại, sau đó dụ họ mua hình.

Tôi thấy một người đàn ông giữ xe hơi, cứ mỗi lần có xe nào đến đậu trước cửa nhà Hát lớn, là ông ta cầm chổi lông gà lăng xăng chạy đến, mở cửa xe và lấy chổi quơ quơ bụi quanh xe. Sau đó ông ta chờ đóng cửa xe, rồi cúi rạp người nói với họ những câu tiếng Tây gì tôi không được rõ. Lúc chủ xe trở lại, ông ta lập lại những động tác cũ, và cung kính đứng chờ để nhận tiền. Ngày nào tôi cũng nhìn cái hoạt cảnh kiếm tiền của ông ta, quá dễ dàng, mà chẳng phải trả một đồng thuê bãi đậu xe của thành phố.

Nhà hàng Givral ở ngay góc đường, mỗi lần tôi đi xuống phố đều nhìn vào thấy quá xa lạ với mình, mà mãi năm, sáu năm sau tôi mới có dịp vào ngồi uống cà phê như họ.

Mỗi buổi sáng vào khoảng tám giờ, một cái xe lambretta ba bánh của sở Thông Tin mở loa phóng thanh vang suốt khu phố những bản tin và bài bình luận. Xen kẽ là ba bài nhạc mà tôi nhớ mãi. Bài “Hướng Về Hà Nội” của Hoàng Dương gợi lại bao nhiêu kỷ niệm vể thành phố mà mình vừa rời bỏ, bài “Ngày Trở Về” của Phạm Duy thấm cái nỗi buồn của người thương binh sau mười năm chiến tranh lê bước trở về làng cũ và bài “Tiến Về Miền Nam” với biết bao hùng khí của cả triệu người theo gót người xưa Nam tiến đi làm lịch sử.

Một hôm đang nằm nhìn qua khung kính vỡ xuống đường, tôi chợt thấy một cậu bé yên lặng đến ngồi cạnh tôi và cùng nhìn xuống đường. Chúng tôi trở nên thân nhau. Tôi lên thăm gia đình cậu bé trên lầu ba. Họ là những người trong các làng đạo từ vùng Thanh Hoá. Khi hiệp định đình chiến Genève được ký kết, họ tìm cách ra Hải Phòng để được di chuyển vào Nam. Cộng Sản đã cố ngăn cản bằng đủ mọi cách, mãi sau họ mới thoát được và nhờ chuyến tầu há mồm cuối cùng tới được bến bờ tự do. Bố của cậu bé là một ông giáo làng. Nhiều ngày, tôi lấy xe chở cậu lang thang đi thăm khắp phố phường. Thỉnh thoảng, bố mẹ cậu mời tôi cùng ăn những bữa cơm di cư thanh đạm. Vài tuần sau, cậu cho tôi biết gia đình cậu và các người cùng làng sắp đi định cư ở một vùng xa. Tôi lên từ giã họ. Thấy con có vẻ quyến luyến tôi, bố cậu bèn mời tôi cùng đi với họ. Ngày tựu trường còn xa, tôi nhận lời. Tối hôm sau, có xe đến đón và chở chúng tôi đến tập trung tại đình Phú Nhuận để sáng sớm xe sẽ khởi hành đến chỗ định cư.

Đoàn xe gần chục chiếc nối đuôi nhau, xe nào cũng chở đầy dân di cư, thực phẩm và các dụng cụ phá rừng làm rẫy. Khi xe ra khỏi thành phố, tôi không định hướng được họ sẽ đi về đâu. Tôi cũng không muốn hỏi, tìm chỗ nằm dựa vào đống hành lý, nhìn núi rừng chạy lùi sau xe. Xe chạy suốt ngày đến gần tối, dừng lại giữa đường lộ, hai bên là rừng, phía trước phía sau cũng chỉ thấy rừng. Mọi người khuân hành lý xuống xe, mệt mỏi đứng ngẩn ngơ giữa đường, sau đó theo người hướng dẫn lội bộ đến một khu nhà sàn của người Thượng, mở lương khô ra ăn, và tối đó ngủ trong căn nhà dài của họ.

Sáng sau, trong làn sương còn lạnh của núi rừng, tôi thức giấc đã thấy mọi người tụ tập ở bên ngoài. Một số đàn ông nai nịt sẵn sàng và mang theo dao rừng. Tôi bước ra nhập vào với họ và theo chân một vị linh mục dẫn đầu. Đoàn người băng qua đường, dẫm trên cỏ ướt. Những người đi trước vung dao, phạt lối làm quang đường để các người sau tiến lên. Băng một quãng đường, cả đoàn dừng lại bên một dòng suối. Tôi còn nhớ rõ hình ảnh lúc đó.

Mọi người đứng yên lặng, có một cái gì rưng rưng thấy thật là linh thiêng của giây phút khởi đầu. Vị linh mục tìm một tảng đá cao bước lên đứng trước mọi người. Bên dưới, nước suối chẩy ào ào trắng xóa sau những tảng đá.

Họ bắt đầu đọc kinh. Kinh Kính Mừng và kinh Lạy Cha. Tôi cũng cùng đọc với họ. Lời kinh của chúng tôi âm vang trong khu rừng nguyên thủy còn đọng sương sớm. Hai bài kinh này tôi đã thuộc lòng trong những năm đầu tản cư 1946 chạy giặc Pháp ở các làng đạo vùng trung du. Lúc đó tôi học trường đạo ở nhà thờ, ngủ chung với đám trẻ trong nhà mà gia đình tôi đang tạm trú. Sáng nào cũng bị đánh thức dậy từ sớm cùng các người lớn đọc kinh, giọng còn ngái ngủ. Tối đến, tôi cũng cùng họ đọc kinh trước khi đi ngủ. Thành thử dù không phải là con chiên, tôi đã thuộc nằm lòng hai bài kinh nói trên từ thuở ấu thời. Sau đó là bài giảng của vị linh mục mà tôi còn nhớ một số đoạn: Moses lúc đi lánh nạn đem theo một đoàn giáo dân đã tìm đến một dòng suối trong một khu rừng để định cư. Những ngày qua chúng ta cũng đã đi lánh nạn vượt qua hàng ngàn cây số và hôm nay đến được nơi đây, trong khu rừng này, bên cạnh dòng suối này như xưa Moses đã đến. Chúng ta sẽ đốn cây làm nhà, phá rừng phá rẫy để trồng trọt như người xưa. Đây là miền đất hứa của chúng ta và của các con cháu của chúng ta sau này…

Tôi ở lại với họ những ngày sau, theo họ vào rừng phạt cỏ làm lối đi, đốn cây dựng những căn lều tạm cho tới khi gần ngày khai trường. Nhân có chuyến xe lên tiếp tế, tôi từ biệt họ về lại Saigon. Cậu bé tiễn tôi ra tận xe.

Khi xe chạy xa tôi vẫn nhìn thấy bóng cậu đứng lặng cho đến khi xe lái quặt khuất vào một quãng đường rừng.

Từ đó tôi không có dịp nào gặp lại, tôi chỉ có thể đoán ra nơi họ định cư là trên quốc lộ đi Đà Lạt, chắc là vùng Blao.

Tôi trở lại chỗ cầu thang lầu ba của nhà Hát Lớn, xung quanh đã vắng lặng, nhiều gia đình đã đi dịnh cư ở các nơi khác. Tôi nằm một mình trên ghế bố chờ ngày nhập trường, bâng khuâng nhìn xuống đường. Vẫn mấy người thợ chụp hình photostop kiên nhẫn đứng đưa những tấm hình mời khách, vẫn người giữ xe lăng xăng chạy từ xe nọ tới xe kia, vẫn những khách ngoại quốc ra vào quán cà phê Givral góc phố… Nghĩ đến những ngày vừa qua, nghĩ đến những người mình đã chia sẻ một phần lịch sử với họ, tự nhiên thấy lòng buồn vô hạn, nghĩ rằng chắc mình không bao giờ còn được gặp lại họ.

*

Bẵng đi một thời gian, tôi quên hẳn chuyện cà phê vì mải học thi cuối năm. Một buổi tối mấy người bạn đến kéo tôi đi uống cà phê tại một tiệm gần nhà, hình như cũng có tên là Mai Hương trên đường Dakao. Khung cảnh tiệm cà phê bây giờ huyền ảo hơn, có một chút đèn mầu. Sau quầy hai cô gái khá xinh, nét đẹp có vẻ liễu trai, lặng lẽ nói chuyện không để ý đến khách hàng và thỉnh thoảng cười với nhau. Bàn bên cạnh tôi, một thanh niên ngồi lặng lẽ, thỉnh thoảng liếc nhìn hai cô một cách kín đáo, rồi cúi xuống với dáng điệu đau khổ. Không hiểu người ta biết uống cà phê trước khi biết yêu hay sau khi biết yêu?

Saigon lúc đó có tiệm cà phê Gió Bắc trên đường Phan Đình Phùng nổi tiếng vì ông chủ tiệm có cô con gái đẹp. Tôi theo bạn đến đó một lần, nhưng tiệm thì nhỏ, hơi tối và ngạt mùi thuốc lá, lại không còn bàn trống, chúng tôi đành bỏ ra. Tôi đã không có dịp xem mặt cô gái đẹp như thế nào.

Tôi không phải là một dân ghiền cà phê, hay một tay uống cà phê khó tính. Chúng tôi thường chọn tiệm, chọn chỗ ngồi thoải mái, cà phê đừng quá dở, miễn chỉ có chỗ ngồi được lâu cho qua đi cái buồn nản của tuổi trẻ.

Sau khi ra trường, phải đổi đi các quận ở miền Nam, tôi vẫn nhớ những buổi sáng ngồi trong quán của mấy chú ba Tầu, ăn xong tô hủ tíu, uống những ngụm cà phê vị rất lạ hình như có mùi ngô đậu gì trong đó, mà người ta thường gọi là cà phê “bít tất”. Nhìn sang bàn bên cạnh thấy mấy người luống tuổi, ngồi co chân trên ghế, đổ cà phê vào đĩa cho bớt nóng rồi xì xụp uống một cách ngon lành.

Thỉnh thoảng có dịp trở lại Saigon, bạn bè đã đi gần hết, tôi cùng một vài người bạn còn lại như sống vội, đến hết quán này đến quán nọ. Hết Mai Hương đến Hanoi, rời Brodard đến Givral, rồi vòng về Thanh Bạch, ngồi nhìn đường phố, nhìn những tà áo lụa bay mà mình sắp sửa phải rời xa.

Buổi tối lại cùng bạn đến các vũ trường, từ Mỹ Phụng đến Olympia, từ Đại Nam sang Baccara, từ Arc-en-Ciel sang Melody… ngồi trước những ly cà phê, những cái gạt tàn đầy khói thuốc và nghe những bản nhạc rã rời trong nửa đêm về sáng.

Nhớ nhất là sau khi đã lập gia đình, chúng tôi thường đến Phở Tầu Bay trên đường Lý Thái Tổ. Ăn xong một tô xe lửa sung mãn như đồng bằng Cửu Long, nóng toát mồ hôi, chúng tôi không đến tiệm cà phê Nhân ở cách đó mấy căn, mà lại sang ngay cái hẻm nhỏ bên cạnh, gọi một ly cà phê đá và vài cái bánh rán nóng hổi. Gió mát từ bên trong ngõ thổi vào trong lần áo đẫm mồ hôi, thấy mát rượi.

(Còn tiếp)

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét