Thứ Ba, 7 tháng 9, 2010

ĐỪNG LẶP LẠI KINH NGHIỆM CHIẾN TRANH VIỆT NAM (RICHARD NIXON – NO MORE VIETNAMS – NEW YORK: ARBOR HOUSE, 1985)

Nường Lý chuyển ngữ

(Tiếp theo) - Kỳ 3

Hoang tưởng III: Câu trả lời hay nhất cho “chiến tranh giải phóng quốc gia” của Cộng Sản là ngồi vào bàn thương thuyết mà không cần sự yểm trợ của sức mạnh quân sự.

Tương tự như mọi hoang tưởng về Chiến tranh Việt Nam, điều quan trọng là chúng ta phải phân biệt được giữa kẻ “thực sự tin tưởng” và kẻ “lợi dụng niềm tin” để đạt đến mục đích cuối cùng của họ. Một số người không muốn Hoa Kỳ hỗ trợ các chính quyền không Cộng Sản vì họ nghĩ mọi sự sẽ tốt đẹp hơn khi Cộng Sản nắm chính quyền. Những người khác tin rằng khả năng quân sự của Hoa Kỳ đã bị vô hiệu hóa trong sự xung đột tại thế giới thứ ba vì chúng ta đã không sử dụng được sức mạnh quân sự của mình tại Việt Nam. Sau rốt, họ lý luận rằng, vì chúng ta bị một nước nhỏ tí xíu như Bắc Việt Nam đánh bại trận, chúng ta hẳn đã quên mất cách “làm thế nào để chiến thắng.”
Hậu quả là, trong thời hậu chiến tranh Việt Nam vào những năm 1970s, giữa lúc luận điệu tuyên truyền về sự giới hạn của sức mạnh cùng khả năng giữ đúng lời hứa của các hiệp định phủ mờ khung cảnh chính trị Hoa Kỳ, Nga Sô Viết cùng các chư hầu đã nuốt chửng Nam Yemen, Ethiopia, Angola, Mozambique, Afghanistan, và Nicaragua. Đồng thời, các giáo sĩ đạo Hồi của Ayatollah đẩy Iran xuống vực thẳm thời Trung Cổ. Mỗi 100 triệu người dân mất đi tại phương Tây trong 5 năm Hoa Kỳ tạm nghỉ phép trên chính trường thế giới là một chứng nhân hùng hồn nhất cho sự bế tắc cuả lập luận “thương thuyết hòa bình.” Bất kỳ nước nào quyết định theo đuổi đường lối “hòa hiệp hòa giải” không có sức mạnh quân sự yểm trợ chẳng chóng thì chày cũng sẽ bị nước kia nuốt chửng. Kẻ thù của họ sẽ nhanh chóng lợi dụng lòng tốt của họ.
Nhiều phê bình gia tin rằng chúng ta không bao giờ nên dùng thế lực quân sự để trợ giúp đồng minh đang bị đe dọa tấn công. Những người khác cho rằng chúng ta chỉ nên tiếp tay các chính quyền theo kịp tiêu chuẩn chính trị rất khắt khe của chúng ta. Hoa Kỳ đang trực diện với thử thách này tại Trung Mỹ. Cũng như trường hợp Việt Nam, sự xâm lăng của Cộng Sản độc tài toàn trị trên nước Việt, vốn không thể tồn tại nếu không được Nga Xô và Tàu Cộng hỗ trợ, đã tạo rất nhiều thử thách cho chính quyền miền Nam, trên cả hai mặt công khai và núp sau các chiêu bài giả tạo. Chính quyền miền Nam Việt Nam hiển nhiên tốt đẹp hơn Cộng sản rất xa, nhưng đã không thể vượt qua ban giám khảo khó tính trong không khí khác thường của giới trí thức Mỹ vào giai đoạn này.
Càng ngày, cán cân thế lực quốc tế càng bị quyết định bởi kẻ thắng những mâu thuẫn chính yếu trong Thế giới thứ ba. Để có một vai trò hữu hiệu, Hoa Kỳ đôi khi phải đứng về phe các chính quyền chưa đạt đến yêu cầu của chúng ta về nhân quyền hầu có thể tránh nạn quyền hành rơi vào tay các chính thể độc tài toàn trị và hoàn toàn không đếm xỉa gì đến nhân quyền. Rất nhiều khi, nhà bình luận tại Quốc Hội và các cơ quan truyền thông quên mất bổn phận giám sát quốc tế của Hoa Kỳ, chỉ vì quá chú trọng đến vai trò giáo viên mẫu giáo, đòi chúng ta phải khẻ tay các học sinh liệng giấy trong lớp học mà quên không trừng phạt bọn quăng lựu đạn đầy đường. Hoa Kỳ phải học chấp nhận sự thật rằng thỉnh thoảng đồng minh của mình cũng vấp phải vài lỗi lầm, vì nếu không thì chúng ta sẽ tự tạo cho mình rất nhiều kẻ thù.
Nhiều lời phê bình sâu sắc về sự bang giao của chúng ta với các chính thể thiếu tiêu chuẩn dân quyền, nhân quyền, có thể đều rất đúng.Tuy nhiên, những ai muốn Hoa Kỳ giữ vai trò chính yếu trên sân khấu thế giới mà còn sợ rằng chúng ta sẽ thua trận lần nữa cần được chỉ cho thấy rằng sự thất bại tại chiến trường Việt Nam đã có thể tránh được.

Hoang tưởng IV: Chúng ta đứng về phía thiếu chính nghĩa trong lịch sử của Việt Nam.
Sử gia người Anh Paul Johnson từng viết rằng điều chính yếu trong chính trị theo vùng là khả năng phân biệt mức độ xấu xa của từng phe. Đáng lẽ ông ta nên thêm vào điểm quan trọng nữa là khả năng tự nguyện của mình trong cố gắng vô tư khi cân nhắc động lực và hành động của cả hai phe trong sự xung đột với con mắt phê bình thật công bằng. Trường hợp Việt Nam đã chứng minh rằng, ít nhất thì đối với giới trí thức Hoa Kỳ, điều này hoàn toàn không thể làm được. Trong thời kỳ chiến tranh Việt Nam, một con số lớn đến kinh ngạc của những người Mỹ “thường thì biết suy nghĩ sâu sắc” đã phê bình phe ta một cách rất khắc nghiệt, trong khi luôn nồng nhiệt tìm mọi lý lẽ biện hộ cho những hành động tàn bạo của phe địch.
Các lời tuyên bố của giới chức có thẩm quyền về quân sự miền Nam Việt Nam hay Hoa Kỳ hầu như luôn bị phóng viên xem là “nói dối”, trong khi cũng chính phóng viên ấy cho in lên báo các lời láo khoét trắng trợn của Bắc Việt mà không bao giờ kiểm chứng. Khi một trường hợp đơn lẻ của vụ án Mỹ Lai được đưa ra, mọi người la khóc rầm rộ lên án Hoa Kỳ; thế mà khi phương Tây được báo về vụ Cộng Sản thảm sát dân lành tại Huế dịp Tết Mậu Thân, khi số người dân bị Việt Cộng giết nhiều gấp 25 lần vụ Mỹ Lai, thì Hội Ân Xá Quốc Tế lại rất thản nhiên đổ lỗi cho “hậu quả đau buồn của chiến tranh”, thay vì phải nhìn nhận rằng đó là do sự tàn ác bất nhân giết người không gớm tay của Việt Cộng. Những kẻ chỉ nhìn thấy lỗi lầm của đồng minh bên phải chúng ta lại thường như mù trước tội ác của kẻ địch bên trái.
Không hẳn các bình luận gia này ghét Hoa Kỳ. Mà thực ra là họ bị hớp hồn, như rất nhiều trường hợp trước đó, bởi luận điệu tuyên truyền mị dân của Cộng Sản, cái máy vẽ ảo tưởng cho giới trí thức từ thời Cách Mạng Nga năm 1917, đã lừa người trí thức phương Tây với hình ảnh nô lệ công nhân đưa đến giấc mơ một thế giới đại đồng, nhìn hành động xâm lăng và thống trị mà tưởng đó là sự giải phóng, nhìn vào hành động giết người man rợ mà tưởng đó là sự “cải cách ruộng đất”, nhìn vào “chân dung đã được lý tưởng hóa” của Hồ Chí Minh với ánh mắt âu yếm trên đám trẻ quây quần chung quanh và tưởng tượng ra một hình ảnh “cha già dân tộc” chứ không thấy con người thực rất độc tài tàn bạo của ông ta.
Rất nhiều người khi tham gia phong trào phản chiến đã thành thực tin, vì Cộng Sản bảo họ vậy, rằng miền Nam Việt Nam sẽ tự do hạnh phúc dưới sự cai trị của Cộng Sản, và giản dị là người Mỹ không hiểu gì về đời sống thực tại Đông Dương. Từ 1975, các điều xảy ra đã chứng minh ngược lại, là kẻ lầm lẫn chính là các phóng viên tự do nhẹ dạ, các chủ bút, học giả, và chính khách đã không tin vào những gì Hoa Kỳ tuyên bố đang theo đuổi ngay từ phút đầu tiên: giúp miền Nam Việt Nam chống lại sự xâm lăng của Cộng Sản, thế lực sẽ biến người Việt thành nô lệ cho nó.
Ba năm trước đây (1982), nhà văn Susan Sontag xuất hiện trong một cuộc họp được phe thân Cộng tổ chức vội vã tại New York với hy vọng vớt vát danh dự cho việc Nga Xô Viết thẳng tay đàn áp phong trào Công Nhân Ba Lan. Nhưng khi bước lên khán đài, bà đã làm phe thiên tả nổi giận vì tuyên bố Cộng sản là một hình thức Phát-xít, và những ai đọc tờ báo bảo thủ “Reader’s Digest” hiểu Cộng Sản rõ hơn là những kẻ đọc tờ báo cách mạng “Nation”. Lời phát biểu này tuy đúng nhưng tự nó chưa thành chuyện. Điều đáng kể là suốt những tuần sau đó, Susan Sontag đã bị phe thân Cộng lăng mạ tơi bời. Đây là bằng chứng hiển nhiên cho thấy người Hoa Kỳ chúng ta vẫn còn nhiều khả năng tự đánh lừa chính mình – cho dù sau khi chứng kiến cái chết của hàng trăm triệu người dưới tay Lenin, Stalin, Mao, và Cộng Sản Cam Bốt Pol Pot. Điều này nhắc nhở chúng ta rằng trong số những kẻ nói “phe đồng minh phương Tây đã đứng vào phía thiếu chính nghĩa trong cuộc chiến chống Cộng Sản” có những kẻ mưu đồ điều hướng lịch sử. Thật không may, những người này vẫn còn có thể tiếp tục ảnh hưởng mạnh mẽ trên các tranh luận về chính sách đối ngoại của chúng ta.
Để chống lại “Mặc cảm Việt Nam”, chúng ta cần mở ra hai mặt trận. Thứ nhất, chúng ta phải hết sức tránh tính “lý tưởng” của người Mỹ, tuy rất đáng ca ngợi nhưng nhiều khi hơi thừa thãi, đã khiến chúng ta không nghi ngờ thắc mắc gì về các chiêu bài “Lực lượng giải phóng quốc gia” , mà tin như lời thầy dạy sử trong lớp học. Thứ hai, chúng ta phải lấy lại lòng tự tin vào chính khả năng mình trong việc sử dụng sức mạnh quân sự một cách hữu hiệu.
Tìm hiểu về kinh nghiệm Việt Nam sẽ giúp chúng ta trên cả hai phương diện. Nó cho ta nhìn thấy bản chất thực của kẻ thù trong cuộc chiến tại Thế giới thứ ba, và khả năng che dấu ý đồ một cách tài tình của họ, ẩn núp sau những tấm bình phong tuyên truyền dầy đặc và những mánh lới chính trị. Kinh nghiệm này dạy chúng ta rằng không phải chiến tranh như chiến tranh Việt Nam dẫn tới thảm họa, mà chính là cách tham chiến thiếu hiệu quả đưa đến thua trận mới tạo ra bi kịch.
Ai ai cũng hy vọng Hoa Kỳ sẽ không phải chiến đấu trong một cuộc chiến như Chiến tranh Việt Nam nữa. Cách hay nhất để tránh một kinh nghiệm tương tự là phải thật rõ ràng mạnh mẽ trong ý chí và tự tin vào khả năng chiến đấu của mình nếu chúng ta phải tham chiến. Nhưng vượt qua được “mặc cảm Việt Nam” còn có nhiều ý nghĩa khác hơn là chỉ sẵn sàng sử dụng sức mạnh quân sự của Hoa Kỳ. Nó còn có nghĩa là sẵn sàng viện trợ quân sự cho các đồng minh khi họ cần tới; còn có nghĩa là chúng ta cùng một lòng với nhau và với các đồng minh, trong cách đối kháng với các lực lượng xâm lăng do Cộng Sản yểm trợ trên toàn thế giới; và trên tất cả, có sự khôn ngoan và tầm nhìn rộng đủ để hỗ trợ các chương trình dân sự nhằm giải quyết nạn nghèo đói, bất công xã hội, và tình hình chính trị nhiễu nhương tại các nước trong Thế giới thứ ba.
Phong trào phản chiến không có tác dụng quyết định trên hậu quả cuộc
chiến, nhưng nó đã tạo ra một ảnh hưởng rõ rệt trên trường chính trị bắt đầu từ thời gian này cho tới mãi hôm nay. Những kẻ phản chiến xuống đường và thả bom, tất cả dưới danh nghĩa hoà bình, kết thúc bằng sự triệt thoái của quân đội Hoa Kỳ ra khỏi vùng Đông Nam Á. Hầu hết các thiệt hại vật chất đã được tái thiết. Vết thương tinh thần và tâm lý, trái lại, vẫn còn tiếp tục làm độc và ảnh hưởng đến các tranh luận của chúng ta trong chính sách đối ngoại. Hàng chục năm sau, những luận điệu xuyên tạc về chiến tranh Việt Nam đã từng vinh danh kẻ phản chiến là anh hùng trong khuôn viên nhà truờng vẫn còn tiếp tục được xem là “sự thực” trên các đài truyền hình, trên báo chí, và trong lớp học. Trước khi chúng ta có thể tự chữa căn bệnh “mặc cảm Việt Nam”, chúng ta phải thanh lọc món ăn tinh thần của mình, loại bỏ các loại rác rưởi gây bệnh cho chúng ta ngay từ đầu.

(Còn tiếp)

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét