Thứ Ba, 7 tháng 9, 2010

TƯƠNG LAI TÔN GIÁO TRONG XÃ HỘI HẬU TÂN TIẾN

Nguyễn Hoài Vân

(Tiếp theo) - Kỳ 3

II) Tôn Giáo : nền tảng luân lý của một xã hội

Theo một lý thuyết xã hội học danh tiếng (Emile Durkheim: “Formes élémentaires de la vie religieuse”) thì mô hình tổ chức xã hội là một trong những nển tảng đưa đến sự hình thành của các tôn giáo. Để tồn tại và phát triển từ giai đoạn sơ khai, các xã hội con người phải đặt vấn đề tổ chức, với những quy luật và hệ thống giá trị. Các quy định « tốt, xấu » này, theo Durkheim, chỉ vững vàng khi mang ý nghĩa linh thiêng, tôn giáo. Tức là tôn giáo, hay một biến thái của tôn giáo, bắt buộc phải hiện hữu trong bất cứ xã hội nào.

Mặt khác, người ta cũng đặt vấn đề vai trò của những giá trị đề ra bởi một tôn giáo trên sự chuyển hóa của xã hội. Một thí dụ gần chúng ta là ảnh hưởng của Đạo Tin Lành trong cuộc “cách mạng kỹ nghệ” ở Âu và Mỹ Châu được nghiên cứu bởi Max Weber (L'Ethique Protestante et l'esprit du capitalisme). Các giá trị Tin Lành được Weber coi như phần nào đưa đến hình thái hiện tại của Tư Bản Chủ Nghĩa. Đạo Tin Lành quan niệm công việc làm chính là bổn phận của mỗi con người đối với Thiên Chúa và là tôn vinh Thiên Chúa. Để được cứu rỗi, con người phải « chăm chỉ làm công việc mà Đấng Tạo Hóa đã giao cho mình, suốt trong thời gian của một ngày » như lời Phúc Âm (Gioan 9 :4). Bên cạnh đó, hệ thống giá trị của Đạo Tin Lành lại hoàn toàn coi rẻ sự hưởng thụ các của cải vật chất. Tức là anh cật lực làm việc, kiếm được rất nhiều tiền, nhưng lại không có khuynh hướng đem tiền của ấy ra tiêu sài hưởng thụ. Kết quả là tiền bạc anh làm ra sẽ kết tụ, chồng chất, trở thành... vốn tư bản, cho phép đầu tư vào các xí nghiệp ngày một to lớn hơn! Cách mạng kỹ nghệ được nâng đỡ bởi tinh thần ấy, đưa đến xã hội Tư Bản hiện đại.

Nếu nhìn sang các nước Đông Á, thì người ta có thể nhận thấy những quốc gia phát triển sớm và nhanh nhất là những quốc gia có truyền thống Khổng Giáo, đồng thời chịu ảnh hưởng của các nước Tây phương theo đạo Tin Lành. Ảnh hưởng Tin Lành có thể đến từ những trao đổi đa dạng, thông qua hay không thông qua chế độ thuộc địa. Thí dụ An Nam ta có truyền thống Khổng Giáo nhưng lại « lỡ » làm thuộc địa của một nước Công Giáo, nên sự phát triển có « hơi » chậm hơn Singapore, Đài Loan, Nhật, là những nước cũng có truyền thống Khổng Giáo nhưng có nhiều quan hệ với các nước Tây Phương theo đạo Tin Lành. Ngược lại, Phi Luật Tân, vừa không có truyền thống Khổng Giáo, vừa theo Công Giáo, Mã Lai, Indonesia, là thuộc địa Anh, Hòa Lan, nhưng lại theo Hồi Giáo, Lào, Cao Miên, vừa Phật Giáo, vừa là cựu thuộc địa của Pháp (Công Giáo), đều phải chịu trì trệ trong sự phát triển. Thái Lan có khá hơn một chút, nhưng đó là nhờ sự hiện diện của cộng đồng người Hoa. Sự phát triển vượt bực của Trung Quốc hiện nay cũng có thể được phân tích qua lăng kính « hệ thống giá trị ». Ngay khi truyền thống Khổng Giáo của Trung Quốc được phục hồi sau giai đoạn đen tối của cách mạng văn hóa, và ngay khi nước này nối kết những quan hệ với Tây Phương, đặc biệt là Hoa Kỳ (Tin Lành), thì kinh tế liền « nhảy vọt ». Thật vậy, lý thuyết « con mèo trắng, con mèo đen » của Đặng Tiểu Bình, cùng với khẩu hiệu « hãy làm giàu !» rất gần gũi với lý tưởng của người Tin Lành được nghiên cứu bởi Max Weber (Weber quan niệm bốn loại tác động xã hội, trong đó có « tác động theo chủ đích », tức là chỉ cần đạt được mục đích, không cần biết « mèo trắng, mèo đen » - con người Tư Bản, xuất phát từ đạo Tin Lành được thế tục hóa, hành động theo đường lối này).

Để cho chính xác, cần nói là Đạo Tin Lành chỉ ảnh hưởng trên sự hình thành của Tư Bản Chủ Nghĩa ở dạng kỹ nghệ hóa quy mô gần đây. Trước đó, có người cho là mô hình Tư Bản đã bắt đầu với các tu viện Công Giáo Âu Châu thời Trung Cổ, hay với các xí nghiệp dệt vùng Flandres, hay tại Ý trong thế kỷ 15, với sự phát triển của các đô thị giàu mạnh như Venise, Florence, Milan, tất cả đều theo Công Giáo.
Một động cơ tôn giáo khác của sự nảy sinh ra Tư Bản Chủ Nghĩa, chính là thủy tổ của Thiên Chúa Giáo, tức Đạo Do Thái:
Trong khi Công Giáo và Hồi Giáo thời xưa cấm cho vay lấy lời, thì Đạo Do Thái lại cho phép điều này. Thêm vào đó, người Do Thái bị cấm sở hữu ruộng đất và làm một số nghề tự do nên họ buộc phải sinh sống bằng một số ngành nghề hạn chế, như... cho vay lấy lãi! Sự tích lũy tư bản ở mức độ quy mô bắt đầu với sinh hoạt này. Đến khi các nước Âu Châu (và Ả Rập) đều đặn thay phiên nhau chìm trong khói lửa chiến tranh, rồi trong cách mạng, thì các vua chúa quý tộc có nhiều nhu cầu cất giữ tiền để phòng thân, hay đi vay tiền để trang trải cho các cuộc chinh chiến. Khi ấy, họ đều phải nhờ đến hệ thống ngân hàng Do Thái. Hệ thống này trải rộng khắp Âu Châu, hễ nơi này loạn lạc thì có nơi khác yểm trợ, nên an toàn và hiệu quả hơn bất cứ cơ quan tài chính nào khác. Hoàng Đế Charles Quint từng thừa nhận ông đã trở thành Hoàng Đế nhờ mua chuộc các ông Hoàng của Thánh Đế Quốc, bằng tiền vay của… ngân hàng Do Thái!

Tôn giáo cũng có thể có khả năng kềm hãm một mô hình tổ chức xã hội. Max Weber từng tìm cách cắt nghĩa các hình thái tổ chức kinh tế của một số xã hội cổ xưa dưới ảnh hưởng của Khổng Giáo, Ấn Giáo, hay Phật Giáo. Tác động của các giá trị Công Giáo trên Tư Bản Chủ Nghĩa cũng được quan tâm. Khi Giáo Phụ Jean Chrisostome (thế kỷ 4) tuyên bố: « Không có phương cách làm giàu nào mà không bất công », thì người ta thấy ngay là Tư Bản Chủ Nghĩa có chút khó khăn với các giá trị Công Giáo. Rồi khi Giáo phụ Basile cho là những người giàu có đã chiếm đoạt những điều trong bản chất phải thuộc về mọi người, thì chúng ta có thể hình dung một Karl Marx vỗ tay tán thưởng nhiệt liệt! Thật ra, những quan điểm tương tự đã được ghi nhận từ thời Đức Ky Tô (« người giàu vào nước Trời khó hơn con lạc đà chui qua lỗ kim », và « hãy từ bỏ hết của cải và theo ta »), cho đến Thánh Augustin (coi rẻ cuộc sống trần thế, đặt mọi quan tâm vào sự sống « đời sau »), và Pascal (thế kỷ 17). Chúng được xây dựng trên niềm tin vào sự sụp đổ trong ngắn hạn của cái thế giới trong đó người ta đang sống. Sau khi Đức Ky Tô lên trời, người ta tin là tận thế sẽ đến chỉ trong vài năm. Rồi dần dần người ta buộc phải kéo dài thời hạn ấy ra đến một tương lai mỗi lúc mỗi xa hơn, nhưng, trong bản chất, vẫn coi đời sống trần thế như tạm bợ. Thánh Thomas d’Aquin là một trong những nhà thần học đã đảo ngược lại quan điểm này. Ông biện minh cho quyền tư hữu và sinh hoạt thương mại trong một số điều kiện và giới hạn. Giáo Hội Công Giáo hiện theo con đường này.

Thật vậy, từ sứ điệp Rerum Novarum (Giáo Hoàng Leo XIII - 1891) cho đến Centesimus Annus (Gioan Phao Lồ II - 1991) Giáo Hội Công Giáo lập lại sự gắn bó của mình với quyền tư hữu, chống lại Xã Hội Chủ Nghĩa cực đoan, và mâu thuẫn với những Giáo Phụ thời xa xưa (kể cả Đức Ky Tô ?), nhưng đồng thời đề ra một "lý thuyết xã hội" nhằm giảm bớt bất công, bóc lột. Centesimus Annus còn thêm những quan tâm về giáo dục, về bảo vệ môi trường thiên nhiên, chủ trương phát triển con người toàn diện, chống lại sự toàn trị của Tư Bản Chủ Nghĩa. Tựu trung, Giáo Hội Công Giáo hiện tại tìm cách nêu lên một số giá trị, phần nhiều không thực sự là những giá trị đặc thù của Công Giáo (thí dụ Đức Leo XIII viện dẫn các giá trị gia đình, quốc gia...), để đứng trên một lập trường "trung phái", giữa các quan điểm Xã Hội chủ nghĩa và Thị Trường Tự Do, giữa Lao Động và Tư Bản, giữa Tự Do và Bình Đẳng.

Bên cạnh lập trường chính thức của Giáo Hội, nặng tính thực tế, nhiều nhà tư tưởng Công Giáo quay về với những giá trị được cảm nhận từ sự giảng dạy của "con người vô sản" Giê Su (le « sans culotte » Jésus - chữ của Camille Desmoulins), để đề ra một "thần học" rất gần với Xã Hội Chủ Nghĩa. Dòng tư tưởng này không những đã hiện diện trong các cộng đồng Ky Tô Giáo nguyên thủy, mà còn được thấy suốt trong lịch sử Ky Tô Giáo (bao gồm đạo Tin Lành), như với Joachim de Flore vào thế kỷ 12, với Jan Hus vào thế kỷ 15, Thomas Munzer vào thế kỷ 16 (được Enghels gọi là nhà Tiên Tri Cách Mạng - le prophète révolutionnaire), và ngày nay, với các nhà "thần học giải phóng" (Tổng giám mục Helder Camara, Oscar Romero, nhà thần học Leonardo Bof v.v...). Ảnh hưởng của trào lưu này chỉ có thể trở thành quan trọng trong một bối cảnh khủng hoảng kinh tế trầm trọng và lâu dài, đủ để đảo ngược niềm tin của người nghèo vào Thị Trường Tự Do như phương tiện cải tiến đời sống cơ cực của họ. Một điều không mấy gì ảo tưởng cho lắm...

Thật ra, nếu nhìn sâu vào bản chất của Xã Hội Chủ Nghĩa "khoa học" hay Cộng Sản chủ nghĩa, thì người ta không khỏi nhận thấy các mô hình ấy cũng rập khuôn theo một hệ thống giá trị có tính cách tôn giáo. Như đã nói ở trên, ý tưởng Cách Mạng đến từ quan niệm thời gian tiến theo đường thẳng của người du mục, cộng với niềm tin vào một lời hứa của Thiên Chúa, sẽ cho những người tin theo Ngài một tương lai huy hoàng, một Đất Hứa, được hiểu như một xã hội hoàn hảo. Lịch sử trở thành một con đường dẫn đến xã hội lý tưởng ấy, tức một thực tại hoàn toàn khác biệt với cái thực tại mà người ta đang sống. Đó là định nghĩa của Cách Mạng. Các xã hội đã từng thí nghiệm con đường được tin là đưa đến một xã hội Cộng Sản "văn minh", trong bản chất, chính là đi tìm một Đất Hứa. Họ trông cậy vào một tiến trình được coi là tất yếu, như trông cậy vào lời hứa của Thiên Chúa, cho dù Thiên Chúa trong hệ thống này đã bị biến dạng thành một chủ thuyết toàn năng, "bách chiến bách thắng", kết tinh của mọi chân lý. Thuyết Duy Vật giáo điều hay "hạ cấp" (matérialisme vulgaire), từng bị Marx chỉ trích, trong thực chất đã hoán chuyển vị trí của một Thiên Chúa "duy tâm" với cái gọi là « Vật Chất », biểu trưng bằng một tập hợp quy luật được nâng lên vị trí thần thánh, vạn năng.

Nói chung, trong mọi xã hội rập khuôn theo mô hình Tây Phương, dù cho tôn giáo có bị đặt ra ngoài những cấu trúc chính thức, dù cho người ta có tuyên dương tính cách thế tục của mọi cơ chế và giá trị điều hành xã hội, thì một hình bóng tôn giáo nào đó vẫn ẩn tàng sau những giá trị gọi là thế tục ấy. Như đã nói ở trên, các tư tưởng Tân Tiến hay Nhân Quyền... đều có nguồn gốc tôn giáo. Chúng ta có thể đề ra hai thí dụ :

- Khi một nền cộng hòa chọn đề cao tôn chỉ « Tình Huynh Đệ » để dung hòa hai tôn chỉ khác hoàn toàn chống chọi nhau là « Tự Do » và « Bình Đẳng » thì người ta không khỏi nhận thấy dấu ấn của Ky Tô Giáo trên sự chọn lựa ấy. Thật vậy, trong một xã hội đa dạng, quy tụ nhiều sắc dân, nhiều giai cấp, nhiều vùng miền lắm lúc mâu thuẫn, đối nghịch nhau, thì tôn chỉ « Tình Huynh Đệ » vô cùng cần thiết, và, trong các xã hội ấy, không gì biện minh cho nó một cách gọn gàng hơn sự giảng dạy của Ky Tô Giáo.

- Trong một sinh hoạt có thể nói là hoàn toàn thế tục, như tiền tệ, người ta cũng lôi Thiên Chúa ra làm « chứng nhân ». Khi in trên tờ giấy bạc “in God we trust”, người ta tìm cách thay thế niềm tin chủ quan vào Thiên Chúa bằng một sự tín nhiệm có tính toán vào đồng tiền và thị trường trong đó đồng tiền vận hành, dưới sự « bảo đảm » của Thiên Chúa. Người ta không « TIN » vào Thiên Chúa theo nghĩa chữ « believe », mà người ta tín nhiệm một cách có tính toán vào Thiên Chúa, theo nghĩa chữ « trust ». Cần hiểu là thị trường đặt nền tảng trên tính toán nên cần sự tín nhiệm có tính toán, chứ không cần một Niềm Tin trừu tượng. Sự tín nhiệm có tính toán tự gán cho mình một nhãn hiệu khoa học, nên mang tham vọng phổ quát và khả năng đồng loạt hóa. Thí dụ như cần làm cho thật nhiều người tiêu thụ nhất loạt tín nhiệm và trung thành với một nhãn hiệu hàng hóa… Nhìn từ một góc độ khác, có thể nói: Thần Đô La đã thay thế Thiên Chúa! Cấu trúc tư bản chỉ đứng vững nếu người ta đặt mọi sự tín nhiệm vào vị Chúa mới ấy. Chỉ cần xét qua nguyên do của cuộc khủng hoảng tài chính khởi đầu vào tháng 9 năm 2009, thì sẽ thấy ngay là: trước những món nợ dây chuyền, ngày nào mọi người còn Tín Nhiệm, thì hệ thống tài chính vẫn vững mạnh, vẫn có thể tự cho phép mình cho vay những món tiền mà mình không có, đồng thời đi vay tiền của những kẻ không có tiền! Cho đến khi sự tín nhiệm tan biến. Khi ấy, hệ thống sụp đổ.

Công bằng mà nói, ý tưởng cho rằng một hình thái tôn giáo nào đó luôn hiện diện trong hệ thống giá trị của mọi xã hội, kể cả trong những trường hợp tôn giáo có vẻ như bị đặt ra ngoài sự vận hành của các xã hội ấy, đã từng bị loại bỏ bởi Auguste Comte, người được coi như đã sáng lập ra môn Xã Hội Học. Comte cho rằng tôn giáo chỉ thể hiện một trạng thái ấu trĩ của xã hội, trước khi nhường chỗ cho giai đoạn siêu hình, rồi đến giai đoạn khoa học. Với những tiến triển của khoa học gần đây, tìm ra được những quy luật và cấu trúc giải thích được cho những hiện tượng tâm lý, xã hội và cả... tôn giáo, thì không chừng quan điểm của Auguste Comte có thể không xa lắm đối với sự thật?

Theo thiển ý, có thể nói là đến một trình độ nhận thức nào đó, thì một xã hội cần có tôn giáo để biện minh cho các giá trị mà xã hội ấy cần đề cao. Sự chọn lựa các giá trị cần được đề cao đến từ nhu cầu thích nghi với một thực tại nhất định, để cho một xã hội có thể tiếp tục tồn tại. Có những giá trị phổ quát thuộc về luân lý thông thường. Nguồn gốc của các giá trị luân lý ấy là nhu cầu nâng cao sự hợp tác, tương trợ, giao dịch tốt đẹp giữa các thành viên của một cộng đồng. Cộng đồng người nguyên thủy nào thiếu « thảo trình hợp tác » này trong cấu trúc tâm lý thì sẽ tàn lụi và biến mất một cách nhanh chóng. Các thành viên của cộng đồng ấy cư xử ích kỷ, lừa đảo, dối trá, khinh bạc, lạnh lẽo, thậm chí ác độc đối với nhau, chưa kể đối với người ngoài, và phủ lên môi trường sống của họ một không khí đối kháng, bạo lực, chia rẽ, đưa đến tàn phá, hủy diệt. Ngược lại, các cộng đồng hiện hữu và phát triển được trong dòng thời gian chính là những cộng đồng với nhiều thành viên mang « thảo trình hợp tác ». Họ truyền cho hậu duệ của họ, là chúng ta, thảo trình ấy. Vì thế đa số chúng ta đều có ý thức về cái tốt, về sự thiện, trong cấu trúc tâm lý của mình. Ý thức ấy thường được kết tụ trong tôn giáo. Và tôn giáo trở thành biện minh cho những giá trị của xã hội, với lợi điểm to lớn là được gắn liền với một thế lực Tối Cao, Toàn Năng, không thể bàn cãi, bắt buộc phải tuân phục. Khi xã hội có nhu cầu chuyển hóa, thì ngoài các giá trị phổ quát thuộc về luân lý ấy, còn cần thêm một số giá trị đặc thù khác. Đó là lúc tôn giáo này hay tôn giáo khác nhập cuộc để đem những giáo điều của mình giúp cho sự phát triển của một hình thái đặc biệt nào đó của xã hội, như trường hợp Đạo Tin Lành với xã hội Tư Bản hiện đại. Nói cách khác, tôi không nghĩ tôn giáo có khả năng tạo nên một mô hình xã hội. Nhưng vì áp lực của thực tại, một xã hội có thể biến thái từ mô hình này sang một mô hình khác, với sự trợ giúp của một tôn giáo. Điều này có giá trị cho đến một tương lai nào đó, khi con người quan niệm được một nền tảng phi tôn giáo cho luân lý, và cho những giá trị khác cần được đề cao. Triết học của thế kỷ 20 đã có nhều cố gắng trong lãnh vực này, với một số thành quả đáng kể. Vấn đề là những tư tưởng ấy có hy vọng gì được phổ biến rộng rãi trong quần chúng hay không?

(Còn tiếp)

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét