Chủ Nhật, 5 tháng 9, 2010

TƯƠNG LAI TÔN GIÁO TRONG XÃ HỘI HẬU TÂN TIẾN

Nguyễn Hoài Vân

Tôn giáo có vẻ là một vấn đề gây nhiều quan tâm trong cái xã hội « hậu tân tiến » mà chúng ta đang sống. Mặc dù nhiều thành phần ưu tú của xã hội ấy không ngừng tuyên dương sự chết của Thiên Chúa. Mặc dù đa số các trường phái tư tưởng hiện đại xem mọi niềm tin tôn giáo như thuộc về một thời kỳ ấu trĩ, phải bỏ lại sau lưng. Và mặc dù phần lớn các nhà chính trị nỗ lực bảo vệ tính chất thế tục của quốc gia, từ chối mọi liên hệ với những giá trị tôn giáo, thậm chí còn coi tôn giáo như độc

Nếu tôn giáo tổng hợp tất cả những tai ác vừa kể thì tại sao tôn giáo đã không bị đào thải một cách tự nhiên, tại sao tôn giáo vẫn luôn tồn tại để tiếp tục gây tranh cãi, tiếp tục làm nhức óc những người làm chính sách, gây nhiều khó khăn cho giới cầm quyền? Xa hơn một chút, người ta có thể tự hỏi tôn giáo sẽ còn có thể tồn tại được hay không trong chiều dài của thời gian, và giả sử nếu có phải biến hóa thì sẽ trở thành như thế nào?

Muốn trả lời các câu hỏi ấy cần nhìn tôn giáo dưới nhiều khía cạnh.

Trước hết, tôn giáo có thể được nhìn dưới khía cạnh ý thức hệ. Với tính cách ấy, tôn giáo sẽ chỉ hiện hữu như giải đáp cho những vấn đề được đặt ra bởi một xã hội vào một giai đoạn lịch sử cụ thể.

Tôn giáo cũng có thể được coi như nền tảng luân lý của một xã hội. Có tư tưởng cho rằng mọi hệ thống giá trị đều phải được biện minh bởi niềm tin tôn giáo. Đâu sẽ là những giới hạn của quan điểm này ?

Thật ra, có lẽ phương pháp suy luận thích hợp nhất là đặt tôn giáo trong bối cảnh thực tế của xã hội hiện đại. Xã hội hiện đại là một xã hội hàng hóa. Vì thế, cần nhìn tôn giáo như cái nó bắt buộc phải là, tức như một món hàng.

Tuy nhiên, qua màn sương mờ ảo của tương lai, nhiều người có thể nhìn thấy sự thoái trào của xã hội hàng hóa. Khi ấy sự hiện hữu và vai trò của tôn giáo sẽ ra sao, giữa tiến trình chuyển biến và trong bối cảnh của mô hình xã hội mới?

I. Tôn Giáo dưới khía cạnh ý thức hệ

Nếu nhìn tôn giáo qua lăng kính ý thức hệ thì vấn đề đặt ra sẽ là: tôn giáo có đem lại được những giải đáp thỏa đáng cho các vấn đề đặt ra cho xã hội hiện đại hay không? Trước hết chúng ta thử phác họa các vấn đề ấy qua vài suy nghĩ về thời hiện đại.

Thời đại trong đó chúng ta đang sống bao gồm một số tiêu chuẩn được đề ra một cách quy ước. Có nhiều quy ước, và nhiều tiêu chuẩn. Chúng tôi xin chỉ bàn đến ba tiêu chuẩn chính. Đó là :

- sự thống trị của tư tưởng Dân Chủ
- sự phát triển của khoa học
- sự lãnh đạo của một số mô hình kinh tế gắn liền với Tư Bản Chủ Nghĩa.

A) Dân Chủ và Tôn Giáo :
Các tư tưởng gia về dân chủ, từ Hobbes, Locke đến Montesquieu và Rousseau, đều coi tôn giáo, đặc biệt là Giáo Hội Công Giáo, như trở lực chính yếu của dân chủ. Đặt sang một bên những vấn đề quyền lợi thế tục, khiến cho một số giáo quyền trước đây đã không muốn ủng hộ Dân Chủ, chúng ta có thể nghĩ được rằng trở ngại chính cho Dân Chủ nơi các Tôn Giáo Độc Thần nằm ở chỗ các Tôn Giáo này, trong bản chất, là những lý thuyết mặc khải. Tức là có người nào đó đã đón nhận Sự Thật từ chính Thiên Chúa giao truyền cho, và kể lại cho mọi người khác, nhân danh Thiên Chúa. Như thế tức là: một người nói, mọi người khác chỉ có quyền nghe và tuân phục. Làm sao cãi lại được một Chân Lý đến trực tiếp từ Thiên Chúa? Chẳng cần lý luận sâu xa, cũng thấy được rằng cây Dân Chủ rất khó mà bén rễ được trên nền tảng này. Với thời gian, vì tương quan lực lượng ngày càng bất lợi cho Công Giáo, người ta tách rời thế quyền khỏi thần quyền, và đẩy Giáo Hội Công Giáo xa dần ra khỏi sự quản trị xã hội. Ngày nay, từ xa, Giáo Hội Công Giáo có thể ủng hộ Dân Chủ một cách quả quyết, như chúng ta thường thấy...

Thật ra, trong hệ thống Ky Tô Giáo, các giáo phái Tin Lành có thể được coi như những trường hợp riêng biệt. Lý do vì tư tưởng Tin Lành đã biến đổi khái niệm mặc khải để cho phép mỗi người tự tìm hiểu và giải đoán Thánh Kinh theo lương tâm của riêng mình. Vì thế mới nảy sinh ra hàng trăm Giáo Hội Tin Lành khác nhau. Có nhà thần học đã ví các giáo phái Tin Lành như một bầy con ngồi trong một bàn tiệc vắng bóng người cha. Tức là các anh em khi tụ họp lại thì ai cũng như ai, không có người "phán bảo" và những kẻ khác phải tuân phục. Tinh thần này rất thuận lợi cho sự nảy sinh của Dân Chủ. Có thể không lầm lẫn bao nhiêu khi cho rằng mô hình Dân Chủ hiện đại đã phát xuất từ tầng lớp trung lưu Tin Lành.

Đối với người Việt Nam chúng ta thì cũng cần khảo sát tương quan giữa Dân Chủ và Phật Giáo. Trong bản chất thì Phật Giáo là một Đạo thực nghiệm, chứ không đặt nặng sự mặc khải từ bên ngoài. Phật "nói" qua kinh điển, nhưng anh không bắt buộc phải tin, mà chỉ được mời gọi thực nghiệm qua công phu tu tập của chính anh. Đây cũng là một nền móng tốt cho sự xây dựng Dân Chủ. Vả lại, một số sử gia đã cho rằng Đức Thích Ca sanh trong một đô thị được quyền tự trị giữa các vương quốc lớn chung quanh, và sinh hoạt theo thể chế… dân chủ! (Louis Frédéric - Bouddha en son temps - Ed Félin)

Mặc dù Ky Tô Giáo đã có lúc là một trở lực đối với Dân Chủ, tôi vẫn nghĩ quan niệm hiện đại về Dân Chủ chịu ảnh hưởng rất nhiều bởi sự giảng dạy của Đức Ky Tô và những nhà tư tưởng kế thừa Ngài. Khi cho rằng mọi người đều làm một với Ngài, và Ngài làm một với Thiên Chúa, Đức Ky Tô đã cho thấy nơi mọi con người một Thiên Tính. Và mọi con người đều phải được quý trọng vì Thiên Tính ấy. Quyền Con Người hiển lộ, một cách phổ quát, một cách linh thiêng, vì gắn liền với Thiên Chúa. Và vì gắn liền với Thiên Chúa, quyền ấy thoát khỏi sự phán xét của những người khác ("các anh đừng phán xét", Phúc Âm Luca 6 :37), đồng thời vượt khỏi sự phân biệt "tốt - xấu" (Khi Phao Lồ nói: các anh là đền thờ của Thánh Thần Thiên Chúa, ngài không hề bảo: các anh hãy cố gắng ăn hiền ở lành, trở nên những con người tốt, để trở thành đền thờ của Thánh Thần Thiên Chúa, mà hàm ý các anh vốn đã là đền thờ của Thánh Thần Thiên Chúa, mặc dù các anh tốt hay là xấu).
Quan điểm "Phật tính trong mọi người", hay "Phật là chúng sinh, chúng sinh là Phật" cũng rất gần với tư tưởng trên, tuy cần nhận xét là « chúng sinh » trong tư tưởng Phật Giáo vượt ngoài phạm vi của Con Người rất nhiều.

Như thế, quan niệm Con Người của ít ra là Ky Tô Giáo có thể giúp biện minh cho tính phổ quát của Nhân Quyền và của Dân Chủ. Tuy nhiên, « ý thức hệ » này cần được cập nhật trước những công kích nhằm vào khái niệm « Con Người » trên trường tư tưởng hiện đại.

Thật vậy, khái niệm « Con Người nói chung » lệ thuộc vào sự hiện hữu của ba yếu tố: một bản chất con người cách biệt với thiên nhiên một cách rõ rệt, một giá trị hiển nhiên của con người vượt hẳn mọi giá trị khác, và sự cảm thông rộng rãi giữa mọi con người với nhau. Chúng ta có thể nhận xét là trong thời hiện đại, cả ba yếu tố kể trên đều rất lung lay, chao đảo.

- Bản chất con người cách biệt với thiên nhiên? Không gì mơ hồ hơn, khi những chứng minh về liên hệ chặt chẽ giữa con người và thiên nhiên trên tiến trình tiến hóa càng ngày càng rõ nét, trên mặt vật lý cũng như tâm lý. Thậm chí văn hóa của con người cũng phải tuân theo những quy luật cấu trúc khách quan (Claude Levy Strauss). Quan niệm chỗ đứng của con người như một chủ thể độc lập, tự do, vượt trên các thành tố khác của thiên nhiên, hiện phải bị xét lại.

- Giá trị hiển nhiên của con người? Sau những tội ác mà con người đã làm cho đồng loại của mình suốt thế kỷ 20, từ chế độ Gulag, Auschwitz, đến Srebenisca, qua sự tiêu diệt một phần ba của chính dân tộc mình tại Campuchia rồi cuộc thảm sát ở Rwanda, người ta có quyền có đôi chút nghi ngờ về « giá trị » nhân bản ấy.

- Sự cảm thông rộng rãi giữa con người với nhau? Với phản ứng co cụm của từng cộng đồng trong phạm vi văn hóa của riêng mình, để bài bác, thậm chí tấn công bằng bạo lực các cộng đồng khác, chiều hướng thông cảm giữa người với người cũng đang trên đà sút giảm… Thật ra, đã bao giờ người ta coi những con người thuộc văn hóa hay tôn giáo khác như mang cùng bản chất với mình hay chưa? Chỉ cần nghĩ đến việc đa số tôn giáo thường hứa hẹn cho đồng loại không cùng niềm tin với mình một sự đày đọa muôn đời trong địa ngục…

Kết quả của sự khó khăn trong ý thức Nhân Quyền/b>, là tại nhiều nơi người ta buộc phải áp đặt nó, có khi bằng bom đạn, có khi bằng áp lực kinh tế hay chính trị, khiến Nhân Quyền rất dễ bị coi như một phương tiện thống trị của chủ nghĩa thực dân mới.

(Còn tiếp)

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét