Thứ Tư, 15 tháng 9, 2010

Tìm hiểu sơ lược tranh chấp Nhật-Trung về quần đảo Điếu Ngư

Trương Nhân Tuấn

Kỳ 1

Tranh chấp hai bên Nhật-Trung về chủ quyền quần đảo Điếu Ngư trở nên căng thẳng từ tuần lễ đầu tháng 9. Quần đảo này hiện do Nhật quản lý nhưng Trung Quốc và Đài Loan cùng dành chủ quyền. Trung Quốc (và Đài Loan) chỉ mới lên tiếng đòi hỏi chủ quyền quần đảo này vào năm 1972, sau khi Hoa Kỳ trả lại cho Nhật quần đảo Nam Tây (Nansei, tức chuỗi đảo kéo dài từ Đài Loan đến đảo Kyūshū, bao gồm quần đảo Điếu Ngư). Việc tranh chấp ngày càng thêm gay gắt sau khi có dự đoán vùng thềm lục địa khu vực các đảo Điếu Ngư có trữ lượng dầu khí lớn. Từ năm 1982, luật Quốc Tế về Biển lại cho phép các đảo có vùng biển « kinh tế độc quyền – ZEE - Zone Economique Exclusive » và thềm lục địa riêng. Do đó các đảo này trở nên rất quan trọng không chỉ về kinh tế mà còn về chiến lược (đối với tham vọng ra « biển xanh » của Trung Quốc).

Sự việc căng thẳng những ngày gần đây nguyên nhân bắt nguồn từ một chiếc tàu « đánh cá » của Trung Quốc bị Lực lượng bảo vệ hàng hải của Nhật bắt. Toàn bộ thuyền viên đều bị giam giữ. Tàu này đã xâm phạm hải phận của Nhật (tại đảo Điếu Ngư) và do đã có những hành động chống cự, như chủ động đụng vào một chiếc tàu thuộc lực lượng phòng vệ của Nhật, làm chiếc tàu này bị hư hại nhẹ. Vấn đề hiện đang ầm ĩ trên mặt trận « ngoại giao ». Báo chí loan tải là các thuyền viên Trung Quốc đã được Nhật trả tự do, ngoại trừ viên thuyền trưởng. Nhiều lãnh đạo ở Bắc Kinh đã đăng đàn tuyên bố mạnh mẽ, mang đầy tính đe dọa. Ta thấy phía Trung Quốc đang muốn làm lớn chuyện, vì sự việc lý ra sẽ chỉ giải quyết ở tầm đại sứ.

Bài này thử tìm hiểu lịch sử chủ quyền của quần đảo Điếu Ngư, thử phân tích hồ sơ của hai bên Nhật Trung, đồng thời thử tìm hiểu ý đồ của Trung Quốc qua các sự việc đã gây ra từ nước này, bắt đầu từ vùng biển theo bản đồ chữ U chín gạch (biển hoa Nam) cho đến « biến cố » Điếu Ngư (biển Hoa Đông) vừa mới xảy ra.

1. Sơ lược địa lý : Quần đảo Senkaku (tiếng Nhật Senkaku shotō, 尖閣諸島, phiên âm Hán Việt là Tiêm Cát chư đảo), hay 釣魚台 - Diàoyútái (tiếng Hoa), tức Điếu Ngư Đài, có nghĩa là « bục câu cá », có tọa độ vị trí 25° 47′ 53″ Bắc 124° 03′ 21″ Đông, gồm có 5 đảo chính và một số đá, diện tích tổng cộng khoảng 7km², cách bờ biển Phúc Kiến khoảng 320km, cách chỏm đông-bắc Đài Loan 190km, cách nhóm đảo Yaeyama của Nhật là 150km. Đảo lớn nhất có diện tích 4,3km², có tên Nhật Uotsuri-jima, tên Hoa 釣魚島, tức Điếu Ngư Đảo. Các đảo thuộc quần đảo này thì không có người ở.

2. Quần đảo Senkaku hiện nay do Nhật quản lý, sát nhập hành chính cùng với một số quần đảo khác, vào tỉnh (hay huyện ?) Okinawa, tạo thành quần đảo Ryukyu (Lưu Cầu).

Quần đảo Ryukyu, ở phía nam, cùng với quần đảo Satsunan (Satsunan shotō - Tát Nam chư đảo - trực thuộc tỉnh lỵ Kagoshima), ở phía bắc, tạo thành chuỗi đảo (theo hình 1) mang tên Nansei (Nansei Shoto - Nam Tây chư đảo). Quần đảo Nam Tây trải dài từ phía nam đảo Kyūshū cho đến Đài Loan, phía tây là biển Hoa Đông (Mer de Chine Orientale), phía đông là biển Phi Luật Tân (Mer des Philippines), là một phần quan trọng trong « chuỗi đảo thứ nhất » chặn Trung Quốc đi ra « biển lớn ». Tuy nhiên, mỗi khi nhắc quần đảo Nansei (Nam Tây) thì mọi người chỉ liên tưởng đến quần đảo Ryukyu (Lưu Cầu).


Hình 1 : Quần đảo Nansei (Nam Tây) gồm hai quần đảo Ryukyu (Lưu Cầu) và Satsunan (Tát Nam), trải dài từ Đài Loan cho đến Kyūshū, tạo thành một hàng rào thiên nhiên chặn Trung Quốc ra « biển lớn ». Quần đảo Senkaku không ghi trên bản đồ vì quá nhỏ, chỉ mà một chấm nhỏ về phía bắc quần đảo Yaeyama. Nguồn Wikipédia.

Quần đảo Satsunan gồm có các quần đảo :
Quần đảo Ōsumi, gồm có các đảo : Tanega-shima, Mage-shima, Yaku-shima, Kuchino-erabu-jima, Take-shima, Iō-jima, Kuro-shima,
Quần đảo Tokara, gồm có các đảo : Kuchino-shima, Nakano-shima, Suwanose-jima, Taira-jima, Akuseki-jima, Kotakara-jima, Takara-jima,
Quần đảo Amami, gồm có các đảo : Amami-ōshima, Kakeroma-jima, Yoro-shima, Uke-shima, Kikaiga-shima, Tokuno-shima, Okinoerabu-jima, Yoron-jima,
Quần đảo Lưu Cầu - Ryūkyū gồm có 2 nhóm quần đảo Okinawa và Sakishima :
Quần đảo Okinawa, gồm có các đảo : Okinawa Hontō, Ie-jima, Izena-jima, Iheya-jima, Tonaki-shima, Agunijima, Kume-jima.
Quần đảo Kerama, thuộc nhóm Okinawa, gồm có các đảo : Tokashiki-jima, Zamami-jima, Aka-jima, Geruma-jima.
Quần đảo Daitō, thuộc nhóm Okinawa, gồm có các đảo : Kitadaitō và Minamidaitō
Quần đảo Sakishima, gồm có các quần đảo :
Quần đảo Miyako, gồm có các đảo : Miyako-jima, Ikema-jima, Ogami-jima, Irabu-jima, Shimoji-jima, Kurima-jima, Minna-jima và Tarama-jima.
Quần đảo Yaeyama, gồm có các đảo : Ishigaki-jima, Taketomi-jima, Kuro-shima, Kohama-jima, Yubu-jima, Iriomote-jima, Hatoma-jima, Aragusuku-jima, Hateruma-jima và Yonaguni-jima.
Quần đảo Senkaku, đã nói trên.

Ngoại trừ các đảo thuộc Senkaku, tất cả các đảo thuộc các quần đảo trên đều có người ở.

Hình 2 : quần đảo Điếu Ngư – Senkaku. Nguồn http://www.globalsecurity.org/military/world/war/images/senkaku-map0.gif


2. Lược sử tranh chấp chủ quyền quần đảo Điếu Ngư :
Trường hợp tranh chấp quần đảo Điếu Ngư, tương tự như nhiều vùng đất bị Nhật chiếm đóng sau Thế chiến thứ hai, vấn đề chủ quyền hoàn toàn bị đặt lại từ khi Hòa ước San Francisco 1951 được ký kết.

Sau khi Nhật đầu hàng đồng minh tháng 8 - 1945, theo các kết ước trước đó giữa Tưởng Giới Thạch và các lãnh đạo đồng minh, như Tuyên Bố Caire tháng 11 năm 1943 cũng như theo nội dung Hòa ước San Francisco 1951, thì Nhật sẽ từ bỏ chủ quyền đảo Đài Loan và quần đảo Bành Hồ. Mặc dầu điều khoản này mù mờ vì không xác định là Nhật sẽ trả các đảo đó cho ai, nhưng Hòa ước ký kết giữa Trung Hoa Dân Quốc (Đài Loan) và Nhật, được ký tại Đài Bắc ngày 28-4-1952, nội dung đã ghi rõ việc hủy bỏ hiệp ước Shimonoseki 1895. Hiệp ước Shimonoseki buộc Trung Hoa phải nhượng vĩnh viễn Đài Loan và quần đảo Bành Hồ cho Nhật. Như vậy Nhật đã hàm ý trả Đài Loan và quần đảo Bành Hồ lại cho Trung Hoa (nhưng không xác định trả cho phe nào, quốc hay cộng ?). Hòa ước 1952, cũng như hiệp ước Shimonoseki 1895, không hề nhắc đến quần đảo Điếu Ngư.

Theo Trung Quốc quần đảo Điếu Ngư thuộc về Trung Quốc từ lâu và quần đảo này phụ thuộc Đài Loan. Họ cho rằng quần đảo này do nhân dân Trung Hoa khám phá từ thế kỷ thứ 15, được sát nhập Trung Quốc vào thế kỷ 16, dưới thời nhà Thanh.

Trung Quốc nhấn mạnh rằng quần đảo này nhượng cho Nhật theo hiệp ước Shimonoseki 1895 cùng với Đài Loan và quần đảo Bành Hồ. Điều này có nghĩa, nếu Nhật phải từ bỏ chủ quyền ở Đài Loan thì cũng đồng thời từ bỏ chủ quyền tại quần đảo Điếu Ngư.
Lập luận của Trung Quốc như thế là dựa trên lịch sử.

Trong khi lập luận của Nhật dựa trên pháp lý. Họ cho rằng trước năm 1895 thì quần đảo Điếu Ngư thuộc loại đất « vô chủ - terra nullius » và không có người ở. Từ năm 1884 ngư dân Nhật đã bắt đầu khai thác lông chim và phân chim ở các đảo này nhưng không hề gặp một trở ngại nào từ phía triều đình Trung Quốc, cũng như không gặp một người Hoa nào sinh sống hay khai thác kinh tế ở đây. Nhật đã tiến hành thủ tục sát nhập chủ quyền quần đảo này vào tháng giêng năm 1895, tức trước hiệp ước Shimonoseki 3 tháng.

Điểm quan trọng về pháp lý khác, củng cố cho lập luận của Nhật, là mặc dầu hai phía Trung Quốc (Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa) và Đài Loan (Trung Hoa Dân Quốc) đều không tham dự hội nghị San Francisco 1951, nhưng phía Đài Loan sau này được Nhật lựa chọn là đại diện chính thức của Trung Hoa, ký kết hòa ước năm 1952. Riêng về phía Trung Quốc, bị gạt đứng ngoài, do đó không công nhận nội dung Hòa Ước San Francisco 1951. Nhưng nội dung tuyên bố của Chu Ân Lai về việc không công nhận Hòa Ước San Francisco thì không hề đề cập đến quần đảo Điếu Ngư. Mặt khác, đại diện quyền lợi của Trung Quốc tại hội nghị là ông Gromyko, đại sứ của Liên Xô tại Liên Hiệp Quốc, đã đưa đề nghị 12 điểm, trong đó có khoản dành hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa về cho Trung Quốc. Đề nghị này bị hội nghị bác bỏ. Nhưng ta thấy đề nghị của Gromyko cũng không hề nói đến quần đảo Điếu Ngư. Việc này rõ ràng hơn khi ta xét qua tuyên bố về lãnh hải của Trung Quốc năm 1958. Tuyên bố này xác định bề rộng lãnh hải 12 hải lý tính từ bờ, « áp dụng trên toàn bộ lãnh thổ TQ, các hải đảo Đài Loan và các đảo phụ thuộc, đảo Bành Hồ và các đảo phụ thuộc, quần đảo Đông Sa, quần đảo Tây Sa (Hoàng Sa), quần đảo Trung Sa, quần đảo Nam Sa (Trường Sa)… ». Văn kiện này nhắc đến Hoàng Sa và Trường Sa, mặc dầu hai quần đảo này thuộc về Việt Nam, nhưng không hề nhắc đến « Điếu Ngư Đài ». Do đó về mặt pháp lý, lập luận của Nhật thuyết phục hơn Trung Quốc.

Trung Quốc chỉ để ý đến quần đảo Điếu Ngư sau khi các cuộc khảo sát năm 1965 và 1969 cho thấy vùng thềm lục địa đảo Điếu Ngư có mỏ dầu khí có thể khai thác được. Cùng lúc đó, tháng 12 năm 1969, Hoa Kỳ hứa hẹn sẽ trả lại cho Nhật quyền quản lý các đảo đã giao cho Hoa Kỳ quản lý từ sau Thế chiến thứ II.

Thật vậy, quần đảo Điếu Ngư từ năm 1945 đến 1972 được đặt dưới quyền quản lý của Hoa Kỳ.

Trong Thế chiến thứ II, Hoa Kỳ đã hy sinh rất nhiều binh lính để chiếm lần lượt các đảo thuộc chuỗi đảo Nansei của Nhật. Gay go nhất là trận chiếm quần đảo Okinawa. Quân lính Nhật đã chiến đấu tại đây cho đến viên đạn cuối cùng, sau đó xáp lá cà theo lối tự sát, do đó sau khi trận chiến kết thúc thì không còn một người nào sống sót. Điều kinh hãi hơn, dân chúng sống ở một số đảo thuộc quần đảo Ryukyu, như tại quần đảo Okinawa, đã nhảy xuống vực tự sát, sau khi quân Nhật thất bại, chứ không để « lọt » vào tay quân Hoa Kỳ.

Sau khi Nhật đầu hàng tháng 8 năm 1945, theo nội dung của Hòa ước San Francisco năm 1951, tất cả các đảo đã chiếm của các nước trước đó thì Nhật phải khước từ chủ quyền vĩnh viễn. Đồng thời một số các đảo khác, theo nghị quyết năm 1947 của ONU, nếu Hoa Kỳ xét thấy có quan trọng về chiến lược, thì được đặt dưới quyền quản lý của Hoa Kỳ. Quần đảo Nansei được xếp vào trong trường hợp này. Nghị quyết ONU 1947 được khẳng định qua điều 3 của Hòa Ước San Francisco. Theo đó quần đảo Nansei, bắt đầu từ phía nam vĩ tuyến 29, tức toàn bộ quần đảo Ryukyu, sẽ thuộc quản lý của Hoa Kỳ.

Trong thời gian quản lý các đảo này, quần đảo Điếu Ngư được Hoa Kỳ sử dụng như vùng quân sự, dùng vào việc thực tập ném bom, huấn luyện cho các phi công.

Điều ghi nhận khác, mặc dầu được đặt dưới quyền quản lý của Hoa Kỳ nhưng Nhật vẫn giữ được chủ quyền trên pháp lý - souveraineté résiduelle, do đó dân chúng sống tại các đảo do Hoa Kỳ quản lý vẫn giữ quốc tịch Nhật mà không có quốc tịch Hoa Kỳ.

Sau khi Hoa Kỳ tuyên bố sẽ trả lại quyền quản lý các đảo cho Nhật vào tháng 12 năm 1969, thì phía Đài Loan, vào tháng 7 năm 1970 chấp thuận cho hai công ty khai thác dầu của Hoa Kỳ đặc quyền khai thác vùng thềm lục địa thuộc phạm vi quần đảo Điếu Ngư. Lập tức Nhật lên tiếng phản đối. Phía lục địa thì bắt đầu vào tháng 12 năm 1971, ra tuyên bố cho rằng « quần đảo Điếu Ngư từ lâu phụ thuộc Đài Loan, cũng như đảo này, từ lâu là những vùng đất bất khả tách rời của Trung Quốc… Nhân dân Trung Hoa sẽ giải phóng Đài Loan. Nhân dân Trung Hoa sẽ lấy lại đảo Điếu Ngư cũng như tất các các đảo khác phụ thuộc vào Đài Loan ».

Như thế hai phía Trung Quốc (và Đài Loan) đều lên tiếng rất trễ về chủ quyền trên quần đảo Điếu Ngư.

Về quan điểm của Hoa Kỳ thì tùy theo hoàn cảnh mà họ giải thích, vì e ngại phật lòng đồng minh Đài Loan cũng như đối tác lớn là Trung Quốc. Theo nội dung của Hòa Ước San Francisco 1951 thì quần đảo Điếu Ngư phụ thuộc quần đảo Ryukyu, là phần phía nam của quần đảo Nansei, thuộc quyền quản lý của Hoa Kỳ (vùng đảo phía nam vĩ tuyến 29). Như thế nội dung Hòa Ước San Francisco công nhận quần đảo Ryukyu thuộc Nhật. Điểm khác, theo nội dung hiệp ước an ninh hỗ tương Nhật-Mỹ năm 1960, chiếu theo một bản ghi nhớ của Nhật đính kèm hiệp ước, thì Hoa Kỳ sẽ không chỉ bảo đảm an ninh cho các đảo của Nhật mà còn mở rộng ra ở các vùng biển của các đảo này, nếu thấy vùng biển này đe dọa an ninh của Nhật. Tuy nhiên, thời gian gần đây, chính phủ Obama đã khẳng định việc bao gồm vùng biển thuộc Điếu Ngư vào hiệu lực của Hiệp định hỗ tương an ninh Nhật-Mỹ 1960. Như thế, quan điểm của Hoa Kỳ là quần đảo Điếu Ngư thuộc về Nhật. Đây là một điều đáng ghi nhận nếu so sánh với các hiệp ước an ninh hỗ tương giữa Hoa Kỳ và các nước khác. Với Đài Loan, hiệp ước an ninh hỗ tương ký tháng 12 năm 1952 nhưng chỉ bao gồm đảo Đài Loan và quần đảo Bành Hồ gần đó. Hiệp ước này không bao gồm các đảo khác thuộc Đài Loan như Kim Môn, Mã Tổ ở sát bờ biển Trung Quốc, thuộc tỉnh Phúc Kiến. Tuy nhiên, những lúc Trung Quốc pháo kích các đảo này, e ngại bị chiếm, hạm đội Hoa Kỳ cũng trợ giúp bằng cách đảm nhận việc tải lương cho hải quân Đài Loan. Hiệp ước an ninh hỗ tương với Phi cũng có những khoảng tương tự, hiệu lực chỉ giới hạn ở một số đảo chính và không bao gồm các đảo thuộc Trường Sa. Do đó vụ Trung Quốc chiếm rạng san hô Vành Khăn của Phi, mặc dầu có sự yêu cầu của chính phủ Phi đối với Hoa Kỳ, nhưng đã không được sự đáp ứng thích hợp. Riêng trường hợp miền Nam VN, thời VNCH, năm 1974 khi Trung Quốc xâm lăng Hoàng Sa, chính phủ VNCH có kêu cứu nhưng Hoa Lỳ đã không đáp ứng vì lý do miền Nam và Hoa Kỳ không có ký hiệp ước an ninh hỗ tương nào cả. Trường hợp đặc biệt khác, vào thời điểm Trung Quốc xâm lăng các đảo thuộc Trường Sa của Việt Nam, trong lúc VN và Liên Xô có ký kết hiệp ước an ninh hỗ tương, nhưng Liên Xô đã quyết định không giúp VN. Có nhiều lý do giải thích, trong đó có lý do về kinh tế. Nhưng có lẽ lý do chính là thái độ của nước này lúc đại diện cho quyền lợi của Trung Quốc tại Hội Nghị San Francisco. Theo đó lập trường của Liên Xô là hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc về Trung Quốc. Vì thế, xét lại nội dung Hiệp ước an ninh hỗ tương Mỹ-Nhật 1960, ta thấy lớp lãnh đạo của Nhật có tầm nhìn rất xa. Nguyên văn hiệp ước không ghi việc bảo vệ các vùng biển của Nhật nhưng các văn bản ghi nhớ của Nhật gởi đính kèm khi ký kết hiệp ước, đã yêu cầu Hoa Kỳ bảo vệ kể cả các vùng biển ở các đảo xa xôi, cho dầu không có người ở và Hoa Kỳ đã chấp thuận việc này. ĐÂY là một bài học mà các thế hệ lãnh đạo VN nên ghi nhớ.

(Còn tiếp)


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét