Thứ Sáu, 24 tháng 9, 2010

MỘT THẾ GIỚI HẬU HOA KỲ (THE POST-AMERICAN WORLD)

Tác giả: Fareed Zakaria
Người dịch: Lê Quốc Tuấn

Kỳ 5 (Tiếp theo)

Thượng đế có liên quan gì đến chính sách ngoại giao? Theo lịch sử, những đất nước chịu ảnh hưởng của Kitô giáo và Hồi giáo đã phát triển một sức đẩy để phát tán quan điểm của họ đồng thời cải hóa thiên hạ theo đức tin của mình. Tinh thần truyền đạo ấy rõ ràng trong chính sách ngoại giao của những quốc gia khác nhau như Anh quốc, Hoa Kỳ, Pháp, Saudi Arabia và Iran. Trong trường hợp của Hoa Kỳ và Anh quốc, có lẽ bởi vì họ quá mạnh cho nên chiều hướng có mục đích của Phản Thệ giáo nằm ngay trọng tâm chính sách ngoại giao của họ đã tạo thành một dấu hằn sâu trong các quan hệ quốc tế. Ngược lại, Trung quốc chẳng bao giờ đòi hỏi đến một ý hướng tương tự về định mạng. Chỉ đơn giản là một nước Trung quốc, trở nên một sức mạnh tầm thế giới, trong ý nghĩa của việc hoàn thành được mục đích lịch sử của mình. Họ chẳng cần phải phát tán bất cứ điều gì cho bất cứ ai để minh chứng chính mình. Do đó, khi Bắc kinh có vẻ như không hề chảy máu trưóc những vấn đề như nhân quyền, không chỉ có nghĩa giản đơn là chế độ ấy áp bức hay cầm giữ một quan điểm chính trị thô bạo về các quyền lợi của mình - dù rằng những điều ấy quả có một vai trò nào đó. Người Trung quốc nhìn những vấn đề này khác, không phải với một tập hợp những điều sai/đúng khó hiểu, mà với một ý nghĩa của tính thực tiễn vốn đã phục vụ như một triết lý dẫn đường .


Các thương nhân Tây phương thường nhận thấy rằng các đối tác Trung quốc của mình có vẻ ít chú ý đến lề luật, pháp lý và hợp đồng khế ước. Ý thức của họ về đạo đức có tính hoàn cảnh hơn. Nếu một thương gia hoặc một viên chức Trung quốc nghĩ luật pháp là một thứ bá láp (theo lời kiểu diễn đạt của người Anh), ông ta sẽ lờ đi, tránh né đi hoặc đơn giản đề nghị soạn thảo một hợp đồng mới. Tôn kính một tư tưởng không thực tế là một cái gì đó xa lạ đối với suy nghĩ của Trung quốc. Các mối liên hệ xã hội và lòng tin quan trọng hơn nhiều so với các hứa hẹn trên giấy tờ. Microsoft không thể khiến Bắc kinh tăng sức ép lên luật bản quyền trí tuệ của mình trong bao nhiêu năm trời – cho đến khi công ty này bỏ thời gian và nỗ lực ra để phát triển quan hệ với chính phủ và nói rõ rằng họ thực sự muốn giúp phát triển hệ thống kinh tế và giáo dục của Trung quốc. Một khi Microsoft đã thuyết phục được chính phủ Trung quốc về ý định vô hại của mình, chính những lề luật ấy mới được đưa vào áp dụng. Một số người Trung quốc thực sự tiếp nhận quan niệm rằng những hợp đồng, pháp lệ, lề luật khó hiểu thực ra quan trọng hơn một lý giải có tính tùy hoàn cảnh tiện tay của mình, có nghĩa là phát triển chính trị và pháp lý của người Trung quốc có thể sẽ phải đi một còn đường lòng vòng phức tạp hơn là như một ai đó đã từng tiên liệu.

Truyền thống văn hóa của Trung quốc cũng ảnh hưởng lối tiếp cận đến thương thảo của họ. Robert Weller thuộc trường ĐH Boston đã lập luận, “Người Trung quốc đặt căn bản hiểu biết của họ chung quanh ý tưởng về khí lực (qienergy). Khí là chất liệu của phong thủy, là những phần tử trong cơ thể vốn được vận dụng bằng cách điểm huyệt hay bằng các dược thảo của Trung quốc. Đó là một phần phương cách rộng rãi của sự am hiểu về cấu trúc thế giới như là một tập hợp của các lực giao tiếp, quan hệ với nhau một cách phức tạp hơn là giải quyết bằng một nguyên nhân và kết quả giản đơn thẳng thướm”. Weller cho rằng “Điều này cũng có ảnh hưởng trong chính sách ngoại giao”i. Suy xét như thế đôi khi có thể quá đáng và rồ dại. Nhưng qua việc đàm đạo với người Trung quốc về những phương cách suy nghĩ của họ, người ta có thể nhanh chóng nhận ra rằng những khái niệm như khí lực là trọng tâm suy nghĩ của họ cũng như tự do ý chí hay Đấng tạo hóa đạo hạnh đối với người Tây phương vậy. Chính sách ngoại giao bị tác động bởi nhiều sức mạnh chung, nhưng không còn nghi ngờ gì rằng một thế giới quan căn bản sẽ tổ chức cách thức con người nhận biết, hành động, phản ứng, đặc biệt khi ở trong những cơn khủng hoảng.

Tuy nhiên, văn hóa không hiện diện trong chân không. Quá khứ của Trung quốc và phân tử di truyền DNA của họ đang được định dạng bởi lịch sử hiện đại của họ - tác động của phương Tây, cuộc sát hại truyền thống của chủ nghĩa cộng sản, hậu quả trống rỗng trong chủ thuyết duy linh của người Trung quốc, và có lẽ quan trọng hơn cả là những nỗ lực gần đây của họ để hóa giải truyền thống và hiện đại. Khi chúng ta nói chuyện với một kinh tế gia Trung quốc, họ không để lộ ra một kiểu cách Khổng tử để tạo nên phát triển kinh tế hay hạn chế lạm phát. Ngân hàng trung ương Trung quốc có lẽ rất là hiện đại và (trong ý nghĩa đó) rất Tây phương trong lối tiếp cận của họ. Nghĩa là khi họ không nhảy dựng lên khi Hoa Kỳ yêu cầu họ phải tái định giá lại tiền tệ của họ có thể cho chúng ta biết nhiều hơn về chủ nghĩa dân tộc hơn là về văn hóa. (Nói cho cùng, lần cuối cùng mà Hoa Kỳ phải thay đổi chính sách kinh tế của mình bởi vì một chính phủ ngoại quốc đã la lối ầm ĩ là khi nào?). Người Trung quốc đã áp dụng chủ nghĩa duy lý Tây phương trong nhiều lãnh vực. Một số nhà phân tích chính sách ngoại giao của Trung quốc tự gọi mình là những “nhà Khổng học Kitô giáo” – có nghĩa là không phải họ đã đổi đạo mà là người Trung quốc mang một quan điểm phương Tây, tìm cách để nhuộm các chính sách Trung quốc với ý nghĩa vĩ đại hơn về mục tiêu và giá trị. Tương tự như các nước Không-tây phương, Trung quốc sẽ tự pha chế ly rượu cocktail văn hóa của riêng mình - một số phần Đông phương, một số phần Tây phương - để phát triển nhanh trong thế kỷ hai mươi mốt.

Quá lớn để mà Che giấu

Vấn nạn lớn nhất của Trung quốc phải giải quyết không phải là những đặc thù của văn hóa mà là những cái phổ biến của sức mạnh. Trung quốc tự nhìn mình như một đất nước mang ý định vươn lên một cách hòa bình, tính cách của họ được ghi nhận bởi sự khiêm tốn, không can thiệp và các mối giao hảo tốt đẹp với mọi người. Nhưng nhiều quốc gia từng vươn dậy trong quá khứ cũng có những niềm tin tương tự vào những động cơ hiền lành của mình – mà cuối cùng vẫn đi đến chỗ làm đảo lộn cả hệ thống. Nhà khoa học chính trị Robert Gilpin ghi nhận rằng, khi sức mạnh của một quốc gia tăng lên, họ “sẽ bị cám dỗ phải cố gắng để tăng ảnh hưởng của mình lên môi trường chung quanh. Để tăng cường an ninh của mình, họ sẽ phát tán các kiểm soát về chính trị, kinh tế và lãnh thổ, họ sẽ cố gắng thay đổi cơ chế quốc tế để phù hợp với các tập hợp quyền lợi riêng của mình”ii. Điểm quan yếu ở đây chính là, thông qua lịch sử, các quyền lực vĩ đại đã nhìn mình như có được các ý định tốt đẹp nhất nhưng bị bắt buộc bởi nhu cầu phải hành động để bảo vệ các quyền lợi không ngừng tăng trưởng của mình. Và trong vị trí là nước đứng thứ nhì trên thế giới, Trung quốc thực chất sẽ phải bành trướng quyền lợi của mình.

Sau cùng, các ý định của Trung quốc có thể không thích hợp.Trong thế giới rối rắm của chính trị quốc tế, ý định và kết quả thường không dính dáng trực tiếp với nhau. (Không đất nước nào muốn có một cuộc chiến tranh thế giới như năm 1914). Tựa như trong một thị trường mà tất cả các công ty đều muốn tối đa hóa lợi nhuận của mình bằng cách tăng giá cao lên: kết quả phổ biến sẽ đúng là điều ngược lại – giá cả sẽ tụt xuống. Tương tự, trong chính trị quốc tế, một hệ thống khác không có thẩm quyền tối thượng ngoại lệ nào, các ý định của mọi quốc gia thường không đoán được kết quả chính xác. Do đó mới có câu cách ngôn La Mã “Nếu ta muốn hòa bình, phải chuẩn bị chiến tranh”.

Riêng việc Trung quốc có thể vươn dậy an bình bằng cách nào có thể quyết đoán được từ sự phối hợp của các hành động từ Trung quốc với các phản ứng từ những quốc gia khác, và các hậu quả có tính cơ chế mà sự giao tiếp này đem lại. Vì kích cỡ hiện tại của mình, Trung quốc không thể hy vọng bò trườn nhẹ nhàng vào sân khấu thế giới mà không một ai biết. Thí dụ như, công cuộc tìm kiếm vật liệu, năng lượng của họ là hoàn toàn có thể hiểu được. Trung quốc đã phát triển nhanh, tiêu thụ năng lượng, tất cả các loại hàng hóa và cần phải tìm nguồn bổ xung vững vàng cho những thứ ấy. Các quốc gia khác mua dầu hỏa, sao Trung quốc lại không thể mua những thứ tương tự? Nhưng vấn nạn là ở kích cỡ. Trung quốc hoạt động trên một bình diện quá rộng lớn khiến không tránh khỏi việc thay đổi về bản chất của cuộc chơi.

Nhận thức của Trung quốc về quyền lợi của họ đang thay đổi. Những con người như Wu Jianmin xuất thân từ các thế hệ xưa cũ hơn của ngành ngoại giao, còn các thế hệ trẻ hơn đều hiểu rõ sức mạnh mới của Trung quốc. Một số giới theo dõi Trung quốc lo lắng rằng, đến lúc, sức mạnh sẽ ăn sâu vào suy nghĩ của người Trung quốc. Trong một loạt các câu chữ cảnh báo tế nhị gửi đến Trung quốc từ năm 2005, Lý Quang Diệu đã diễn tả mối quan tâm của ông không phải về tầng lớp lãnh đạo hiện nay, hay tầng lớp lãnh đạo thế hệ kế tiếp mà về thế hệ sau đó nữa, thế hệ sẽ được sinh ra trong một thời đại ổn định, thịnh vượng và ảnh hưởng Trung quốc đã tăng cao. “Giới trẻ của Trung quốc phải được tạo cho ý thức về nhu cầu bảo đảm với thế giới rằng cuộc vươn dậy của Trung quốc sẽ không đi đến việc trở thành một sức mạnh bị gãy đổ”, ông đã phát biểu như thế trong một bài diễn văn đọc tại trường Đại học Fudan. Ông Lý đã ám chỉ đến những điều từng giữ cho các nhà lãnh đạo Trung quốc khiêm tốn từ thời Đặng Tiểu Bình bởi vì những quá khứ cay đắng về những lỗi lầm của Mao – Xúi dục các cuộc cách mạng ở ngoại quốc, Bước Nhảy vọt Vĩ đại và cuộc cách mạng văn hóa, tất cả dẫn đến kết quả tử vong của bốn mươi triệu người Trung quốc. “Đó là điều có tính sống còn” Ông Lý nói tiếp, “rằng thế hệ trẻ hơn của người Trung quốc, sẽ từng chỉ được sống qua những thời gian của an bình và thịnh vượng và không có một chút kinh nghiệm gì về quá khứ huyên náo của Trung quốc và không được giáo dục để ý thức các lỗi lầm mà Trung quốc đã phạm phải khiến dẫn đến kết quả của những sự ngạo mạn và quá đáng trong tư tưởng”.

Cho đến nay, chính sách đối ngoại của Trung quốc vẫn còn đặt trọng tâm hoàn toàn vào thương mại, ngay cả điều này, Trung quốc cũng vẫn bao phủ bóng mình vào chung quanh. Chẳng hạn như ở Phi châu, Trung quốc đang nỗ lực xây dựng mối liên hệ kinh tế. Lục địa này có các trữ lượng thiên nhiên, đặc biệt là dầu hỏa và khí thiên nhiên mà Trung quốc cần đến cho sự phát triển của mình. Cả chính phủ Trung quốc và các chính phủ Phi Châu đều hoan nghênh các mối quan hệ giao thương mới - một phần bởi vì không có quá khứ thực dân hay lịch sử phức tạp làm rối thêm vấn đề - và doanh thương phát triển mạnh. Giao thương lên đến khoảng 50 phần trăm một năm, các đầu tư của Trung quốc còn nhanh hơn thế. Trong nhiều quốc gia ở châu Phi, phát triển kinh tế đạt mức kỷ lục, một thực tế nhờ vào mối quan hệ mới mẻ của họ với Trung quốc. Nhưng một số quốc gia trong lục địa này lại nhìn mối liên hệ này như một sự bóc lột và oán hận sức mạnh mới của Trung quốc, do đó Bắc kinh phải chịu đau khổ mà minh chứng các thiện ý của mình. Vào tháng Mười một năm 2006, chủ tịch Hồ Cẩm Đào tổ chức một cuộc họp thượng đỉnh về mối quan hệ Trung-Phi. Tất cả bốn mươi tám quốc gia Phi châu vốn có mối quan hệ tốt đẹp với Trung quốc đều tham dự, hầu hết đều được đại diện bởi các tổng thống hoặc thủ tướng của họ. Đó là một cuộc hội nghị lớn nhất từng được tổ chức bên ngoài lục địa này. Trong hội nghị, Trung quốc đã hứa hẹn tăng gấp đôi số tiền viện trợ cho Phi châu trong 2 năm, mang đến 5 tỉ mỹ kim tiền cho vay và tín dụng, thiết lập một quỹ tài trợ trị giá 5 tỉ để khuyến khích thêm các đầu tư của người Trung quốc vào Phi châu, hủy bỏ hầu hết các món nợ của các nước này đối với Trung quốc, cung cấp các phương tiện tốt hơn cho sự tham dự vào thị trường Trung quốc, huấn luyện mười lăm ngàn chuyên viên Phi châu và xây các bệnh viện mới cùng trường học khắp lục địa. Thủ tướng Ethiopia, ông Meles Zenawi, đã thốt lên rằng "Trung quốc là một niềm cảm hứng cho tất cả chúng tôi"iii.

Xây dựng mối quan hệ như thế có gì là sai? Không có gì sai cả - ngoại trừ việc Trung quốc di chuyển vào Phi châu đã choán mất các khu vực về kinh tế, chính trị và quân sự vốn đã từng được nắm giữ bởi Anh, Pháp và Hoa Kỳ. Điều này chắc chắn sẽ có ý nghĩa của sự va chạm khi mỗi quyền lực lớn đấu tranh để bảo vệ quyền lợi của mình và quan niệm của riêng họ về việc thực hiện những điều đúng đắn ở Phi châu. Diễn giải của Trung quốc về hành động của mình là họ không can thiệp vào nội bộ các nước này - nghĩa là, trong một ý nghĩa nào đó, có giá trị trung dung. Nhưng có phải thế không? Moisé Naím, bỉnh bút của tờ Foreign Policy, kể một câu chuyện về việc chính phủ Nigeria mặc cả một món nợ 5 triệu cho hệ thống hoả xa với Ngân hàng thế giới vào năm 2007. Ngân hàng này khăng khăng là chính phủ phải dọn sạch các vụ nhũng lạm nổi tiếng trong quan liêu ngành hỏa xa trước khi họ có thể phê chuẩn món nợ. Vụ thương thảo gần như sắp xong thì chính phủ Trung quốc nhảy vào hứa hẹn cho chính phủ này vay 9 tỉ để tái xây dựng toàn bộ hệ thống hỏa xa - không lằng nhằng dây nhợ, không đòi hỏi gì, không cần bất kỳ thay đổi nào. Thế là Ngân Hàng quốc tế bị gửi trả về chỉ trong một vài ngày. Chẳng cần phải nói thêm, chắc chắn đa số khoản tiền ấy sẽ đi thẳng vào các trương mục của những viên chức cao cấp trong chính phủ hơn là đi vào hệ thống hỏa xa tốt đẹp hơn cho người dân Nigeria.

Bắc kinh đã tự thấy mình hữu dụng khi giao hảo trực tiếp với các chính phủ, bởi vì họ hầu như luôn luôn duy trì gìn giữ được chủ quyền của nguồn sản lượng mà Trung quốc cần đến. Các thương vụ trở nên dễ dàng hơn nhiều khi giao tiếp với một thẩm quyền tập trung, đặc biệt nếu như đấy là một kẻ bị ruồng bỏ không thể trông vào ai ngoài Trung quốc. Do đó Trung quốc mua được platinum và quặng sắt từ Zimbabue để đổi lại việc bán vũ khí cho Robert Mugabe cùng các thiết bị phá sóng phát thanh - bất chấp ngăn cấm của Hoa Kỳ và Liên hiệp Âu châu - để ông ta sử dụng trong những vụ đe dọa, bắt giữ và giết hại các thành phần chống đối trong nước. Bắc kinh là người ủng hộ quan trọng nhất của Mugabe trong Hội đồng Bảo an LHQ.

(Còn tiếp)

________________________
i. Điện thu gửi đến tác giả.

ii. Theo Robert Gilpin, War and Changes in World Politics (Cambridge:Cambridge University Press, 1981) tr. 94-95.
iii. Theo Ernesh Harsch "Big Leap in China-Africa Ties" Africa Renewal 20, số 4 (Jan. 2007) tr. 3

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét