Thứ Ba, 21 tháng 9, 2010

Một bức thư chứa nhiều tư liệu

Saigon 15.9.1999

Thân mến gửi anh Đặng Tiến,

Ngày 25.8 vừa qua, tôi đã nhận được những bài thơ họa của anh, và thư thơ của anh Chương viết cho anh, mà anh đã phôtô lại.

Chưa kịp viết thư hồi âm, thì hôm 14.9.99 thật bất ngờ Thầy Thanh Tuệ ở Pháp về, đã đến gặp tôi. Thầy phải xưng danh tôi mới nhận ra, gần 30 năm rồi làm sao nhận được. Hồi trước, Thầy mặc nâu sồng... nay mặc âu phục... Vả lại hồi đó tôi cũng ít tiếp xúc, chỉ hai, ba lần là cùng.

Cũng như anh, có lẽ tôi chưa gặp lần nào, nên không nhận ra cũng là chuyện thường thôi.

Thầy Thanh Tuệ đã trao quà của anh gửi cho tôi, gồm Thư - Thơ - Ảnh cùng hai xấp lụa và một xấp gấm để may áo dài. Nhưng gấm chắc chỉ để ngắm thôi, giữ làm kỷ niệm, chứ không dám may mặc đâu... Vì nó quá lộng lẫy. Dù sao cũng rất cám ơn anh chị. Ảnh của anh chị và ba cháu rất trẻ đẹp và tươi vui quá. Bác cám ơn ba cháu nhiều.

Xin cám ơn anh về mấy bài thơ Họa, nhất là mấy tờ phôtô Thơ - Thư của anh Chương và bài Thơ Hoa Quỳnh. Xem lại bút tích cứ tưởng như là mới hôm nào. Súc động và nhớ lại những buổi Họp Thơ tại Úc Viên, lần nào Hoa Quỳnh sắp nở, Nữ sĩ Mộng Tuyết cũng tổ chức mời các văn nhân thi sĩ, đêm đó đến dự tiệc chờ Hoa Quỳnh nở để làm Thơ. Anh Chương thì mê cái cảnh này lắm, chẳng lần nào Hoa Quỳnh nở mà thiếu anh. Những lần đó đều chụp nhiều ảnh. Tiếc rằng mấy album đó đã bị tịch thu hết. Chắc chắn ở nhà bà Mộng Tuyết thì còn, nhưng nay bà đã bán villa Úc Viên chuyển về quê Hà Tiên xây nhà Lưu Niệm Thi Sĩ Đông Hồ... rồi ở đó luôn.

Để cám ơn anh, và xin tặng anh mấy vần thơ này:
Trang Thơ Gợi Ý (nhớ anh Chương)
Vừa mới hôm nào Giải Quán Quân
Tuyên dương văn nghiệp giữa mùa Xuân.
Mà nay hồn đã về Tây Trúc
Nhớ tới anh chung hưởng rượu cần
Quỳnh dao họp bạn vui đoàn kết
Đẹp biết bao tình nghĩa chí thân
Những tấm lòng son luôn rộng mở,
Mặc cho năm tháng cứ xoay vần.
Thục Oanh

Về tờ niên biểu: Tiểu sử Vũ Hoàng Chương. Anh ghi rất rõ ràng, tôi gửi một bản theo đây, vì tôi đã có sẵn để anh xem chỗ nào cần bổ xung thì anh thêm vào. Anh sưu tầm như vậy là quá đầy đủ, chỉ phải sửa một vài lỗi nhỏ thôi anh ạ.

Giáo sư Hoàng Như Mai, năm nay 81 tuổi bằng tuổi tôi. Thời kháng chiến chống Pháp, anh ấy cùng tản cư với chúng tôi về làng Khước thuộc tỉnh Nam Định cùng dạy học một trường với anh Chương. Một thời gian, thì anh Chương đổi sang Thái Bình dạy học. Hoàng Như Mai ở lại. Giải phóng vài năm, thì H.N.Mai chuyển cả gia đình vào Saigon định cư và dạy học ở đây.

Năm 1992. Nhà xuất bản Hội nhà văn Hànội tái bản cuốn Thơ Say và cuốn Mây. 1993 tái bản cuốn Hồi Ký: Ta đã làm chi đời Ta. Khi cuốn Mây in xong, Huy Cận và Hoàng Như Mai, cùng nhà xuất bản Hội nhà văn Hànội có tổ chức một buổi nói chuyện giới thiệu cuốn thơ Mây tại Nhà Văn Hóa Lao Động Tp.Hồ Chí Minh. Có mời đông đảo các văn nghệ sĩ ở đây và sinh viên các trường đến dự. Có mấy ngâm sĩ chuyên nghiệp xưa và nay lên ngâm những bài thơ mà nhiều người ưa thích trong cuốn thơ Mây và Say.

Buổi họp rất thành công, Huy Cận, H.N.Mai lên nói hết lời ca ngợi thơ V.H.C. Huy Cận còn kể một câu chuyện như sau: Một hôm trên đường lên Việt Bắc tôi gặp mấy thanh niên đeo ba lô hành trang đi đến đơn vị nhập ngũ, có một anh đeo balô coi bộ nặng lắm, khi ngồi nghỉ ở dưới gốc cây, tôi cũng ghé ngồi cùng và hỏi đùa anh ta: Đi hành quân, mà đeo balô nặng thế này gặp địch thì chạy sao kịp... Anh mang những gì mà vất vả thế? Thấy tôi có vẻ thắc mắc nghi ngờ về cái balô, để chứng minh, anh ra mở balô ra cho tôi xem, và lôi ra một đống sách, toàn là thi phẩm Mây, Say v.v... của Vũ Hoàng Chương... Tôi bèn nói: Đi đánh giặc thì giờ đâu mà đọc thơ. Anh ta nói: Lúc không đánh giặc tôi đọc thơ, lời thơ sẽ làm tôi phấn khởi nên đánh giặc càng hăng... Chuyện chắc có thật không phải bịa. Không hiểu sao họ lại làm thế, chắc để xua tan lòng hận thù phi lý, mà chính họ đã gây ra. Riêng gia đình Hoàng Như Mai với gia đình tôi, vẫn là bạn tốt từ xưa, thỉnh thoảng vẫn qua lại thăm hỏi, không có điều gì mất lòng nhau cả.

Năm 1987, tôi có ra Hànội thăm quê hương, vì còn bà chị ruột hơn tôi tám tuổi, chồng chị ấy chỉ là công chức thời Pháp thuộc, cả nhà không có ai tham gia C.M cả, các cháu đã trưởng thành. Tôi có đến thăm chị ruột anh Chương là Vũ Cẩm Liên, vợ Bác sĩ Phan Quang Chấn. Tôi hỏi chị có nhớ gì đặc biệt thời thơ ấu của anh Chương không? Chị kể em nghe đi, anh Chương làm Thơ từ năm bao nhiêu tuổi? Nghĩ một lát chị nói: “Cậu Chương làm thơ năm 13 tuổi, chị cũng chẳng để ý cho là trẻ con thơ thẩn lăng nhăng... Nhưng có một lần cậu ấy đi theo Thầy (thân phụ) cùng ông Cử Luyện, đi thăm lăng tẩm ở vùng huyện Hiệp Hòa. Đến lăng một vị Quận Công họ La. Đứng xem bia ghi chiến công... rồi cậu làm một bài thơ như thế này:
Thăm viếng người xưa đất Hiệp Hòa,
Lăng này có phải Quận Công La?
Ngày nay cửa miếu chầu voi ngựa
Thuở trước thành công dậy trống loa
Voi ngựa bia ngai nề nếp cũ
Côn quyền thao lược nước non xưa
Công danh phú quý âu là thế
Để lại ngàn sau nét chữ nhòa

V.H.C

Đưa cho ông Cử Luyện xem. Ông nói với Thầy: “Có chí khí, cháu này làm thơ niêm luật vững lắm, chắc sau này biết đâu chẳng giỏi về thơ phú.”

Còn vài bài nữa, nhưng thuộc về Thơ cổ xưa, đó là những năm cậu ấy 15, 16 tuổi, không hợp với Thơ mới bây giờ."

Viết kể lại để anh xem chơi, vì những di cảo của người đã khuất, có nhắc lại cũng không phải là thừa phải không anh?

Tôi sẽ viết kể lại một câu chuyện vui, và một chuyện buồn của anh Chương, trước và sau giải phóng. Để anh biết rõ thêm về cuộc sống gian nan và lúc chết như thế nào. Biết để suy gẫm chứ không phải để phổ biến, được không anh?

(...) Còn một tuần nữa giỗ anh Chương. Thầy Thanh Tuệ cũng có quà cho tôi, cuối tháng này Thầy sẽ ghé lấy tư liệu này trước khi qua Pháp. Nhận được anh có thư cho tôi nhé. Tôi sẽ gửi thư cho anh lấy tên cháu: Lâm Thùy. Tên anh họ... sợ và mình cũng... sợ (mất thư!) Thôi hẹn thư sau. Chúc anh cùng quý quyến vạn an.

Thục Oanh

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét