Thứ Năm, 30 tháng 9, 2010

Ghé thăm các Blog (29/09/2010)

BLO ĐÀO TUẤN

Đăng ngày: 10:51 29-09-2010

“Không phát sóng bộ phim “Lý Công Uẩn- Đường tới thành Thăng Long”, Đài truyền hình nào phát sóng thì tự chịu trách nhiệm với công chúng về chất lượng bộ phim” - Cuối cùng sự kiện ngu dốt nhất trong lịch sử điện ảnh Việt Nam cũng đã chấm dứt, vó ngựa của “Lý Triển Chiêu” đã phải dừng ngoài ải Nam Quan khi Hội đồng duyệt phim Quốc gia đưa ra ý kiến về bộ phim này. Tuy nhiên, đây chưa phải là quyết định cuối cùng, vì có lẽ, phải còn chờ ý kiến của bác Hùng, Phó Thủ tướng, người một năm trước đã có văn bản cho phép đưa bộ phim vào chương trình chính thức của Đại lễ.

“Sự kiện ngu dốt nhất trong lịch sử” là từ dùng của Nhà nghiên cứu văn hóa Nguyễn Đắc Xuân. Theo ông, phim lịch sử dù sai một chi tiết là đã không thể chiếu, mà bộ phim này lại có quá nhiều chi tiết sai lệch về phục trang, khung cảnh... phải chăng có "ý đồ riêng của nhà sản xuất phim" khi cho thấy một sự lệ thuộc văn hóa vào Trung Quốc? Phải chăng chiếu một bộ phim như vậy nhân dịp kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long là một "sự phá hoại"? Đối với “vụ vinashin về văn hóa này” cần phải cho vào kho để đánh dấu rằng trong điện ảnh Việt Nam đã từng có một sự kiện ngu dốt đến như vậy. Còn Lý Triển Chiêu là cách nói của nhà văn Trần Thị Trường trong một bài viết với nhan đề “Lý Công Uẩn biến mất trong Đường tới thành Thăng Long”. Ngẫm ra, ông già Công Uẩn không biến mất mới là lạ, khi mà đạo diễn chính người Trung Quốc của phim đã từng làm “Tuổi trẻ Bao Thanh Thiên”, còn đạo diễn Việt thì trước nay mới chỉ làm phim game show.

Trong cái game show “Ai đến thành Thăng Long” đó, Tạ Huy Cường đã biến Thái tổ Lý Công Uẩn thành gì? Thành Tần Thủy Hoàng hay thành Lý Triển Chiêu? Lý Công Uẩn chẳng khác Tần Thủy Hoàng. Thiền sư Vạn Hạnh y tróc Đường Huyền Trang. Binh lính mặt lạnh, mắt một mí đúng hệt tinh kỵ của Hán cao tổ Lưu Bang. Nhà cửa, thành quách, đền đài cho đến áo mão lời ăn tiếng nói, lối tư duy và cả những âm mưu nội cung thâm hiểm không sai một ly Tống triều. Đường tới thành Thăng Long không đơn giản chỉ là “bộ phim Trung Quốc nói tiếng Việt" như nhà thơ Đỗ Trung Quân từng nhận xét mà là một sự điếm nhục văn hóa, một cống phẩm cho một “đại lễ 1000 năm đô hộ”.

Nhưng sự ngu dốt chưa dừng lại ở đó. Chu Tước - một địa danh không có thật trong lịch sử mà bộ phim đưa vào trong sự kiện Lê Hoàn đánh quân Tống - đã được sửa thành ải Chi Lăng. Nhưng ngay cả việc sửa chữa chỉ là sửa từ cái sai này sang một cái sai khác. Lý luận trong phim là “không cần đánh, quân Tống tự rút” với một lời “sấm” được nhét vào miệng Thiền sư Vạn Hạnh. Mặt khác, tuy tên bộ phim là Lý Công Uẩn - Đường tới thành Thăng Long nhưng chỉ có 1-2 tập phim đề cập chủ đề này, số còn lại phản ánh cuộc tranh giành quyền lực trong các triều đại. Những cảnh chém giết nhau được mô tả khá kỹ, thể hiện tính dã man, tàn độc của những người tranh ngôi, đoạt vị…

Khổ cho ông già Lý Công Uẩn, người khai sáng 400 năm triều Lý, một trong 3 triều đại rực rỡ nhất trong lịch sử phong kiến Việt Nam. Trong phim này, có lúc con cháu thấy ông búi tó chỉ tay y như Tần Thủy Hoàng. Có người gọi ông là Lý Triển Triêu… Nhưng cũng vì ông, 100 tỷ đi bay giữa thời buổi túi tiền con cháu ngày càng teo tóp. Cũng vì ông và vì cái chuyện dời đô ngàn năm của ông mà con cháu phải chọn lấy cái ngày 10-10-2010 cho đẹp với con số 1000 để biến cả dân tộc thành một lũ trọc phú văn hóa.

Ý kiến của phía Hội đồng Duyệt phim là kiến nghị không phát sóng bộ phim trong dịp đại lễ 1.000 năm Thăng Long - Hà Nội. Còn bao giờ phát sóng truyền hình và phát ở đài nào sẽ phụ thuộc vào các đối tác truyền hình của đơn vị sản xuất phim. Khi đó, đơn vị phát sóng sẽ phải lập hội đồng duyệt, yêu cầu sửa chữa theo đề nghị của họ đến mức có thể chấp nhận được và sẽ chịu trách nhiệm trước công luận về chất lượng của bộ phim. Nhưng gameshow “Ai đến thành Thăng Long” có lẽ vẫn chưa dừng lại ở đây. 100 tỷ mà Trường Thành đã ném ra rõ ràng là không phải cát ngoài sông. Ai mà biết khi bị buộc phải quyết định, bác Hùng, sẽ nghĩ gì, có thèm xem qua chí ít là cái trailer sặc mùi hảo hảo đó!


 BLOG NGUYỄN VĂN TUẤN

Thứ bảy, 18 Tháng 9 2010 09:12

Viết tiếp chuyện dưới quê … Hôm nay sẽ bàn về chuyện giáo dục. Câu chuyện tôi muốn viết là chuyện buồn học phí. Có lẽ chẳng có gì mới, nhưng nó vẫn là chứng từ của một thời gian nan.

Mùa tựu trường đến, tôi mới biết qua cái khó của người dân dưới quê trong nỗ lực tìm chữ nghĩa ra sao. Cháu gái tôi năm nay theo học lớp 4. Ngày tựu trường ba má nó phải chạy sốt vó để đóng học phí và hàng chục phí khác. Tổng cộng phí lên đến 800,000 đồng. Hai đứa học trò người Khmer hàng xóm mới sắp vào học lớp 1, nhưng khi biết học phí và phí không tên lên đến gần 500,000 mỗi đứa, gia đình quyết định không cho đi học, vì đơn giản là không có khả năng lo tiền. Tôi nghe qua câu chuyện và cũng biết rõ tình cảnh gia đình, nên tôi trở thành mạnh thường quân bất đắc dĩ. Chẳng biết đã có ai làm nghiên cứu xem có bao nhiêu học sinh bỏ học chỉ vì cha mẹ không có tiền đóng học phí và những phí không tên. Nhưng tôi có cảm giác con số này chắc khá cao, nhất là ở vùng quê, nơi mà thu nhập bình quân chỉ khoảng 40,000 đồng / ngày.

Đối với học sinh trung học, nạn học thêm vẫn còn là một vấn đề nhức nhối. Một đứa cháu tôi năm nay sắp thi tốt nghiệp trung học và thi vào đại học cho biết nó phải học thêm hàng tuần ở trường với một chi phí khoảng 50 ngàn / tuần. Tuy nhiên để luyện thi vào đại học, nó còn phải lên Thành phố Hồ Chí Minh hay Cần Thơ để theo học những lớp luyện thi do các trường đại học tổ chức với giá tối thiểu là 1 triệu đồng một khóa (kéo dài khoảng 1 đến 2 tháng). Đó là một số tiền không nhỏ, nếu đối chứng với thu nhập trung bình 20 ngàn mỗi ngày của người dân. Đối với phần lớn nông dân, đó là một số tiền ngoài tầm tay, và do đó con em họ không có cơ hội theo đuổi việc học hành đến nơi đến chốn dù có nguyện vọng.

Tình trạng trên là tình trạng chung của cả nước, cả vùng ĐBSCL. Ở nước ta, giáo dục là một “never ending story” – một câu chuyện không bao giờ kết thúc. Đã có rất nhiều ý kiến chung quanh việc cải cách hệ thống giáo dục sao cho có hiệu quả hơn, nhưng hết cải cách này đến đổi mới nọ, giáo dục vẫn còn là một vấn đề nổi cộm, một vấn đề mà bất cứ ai cũng có ý kiến. Nhiều đổi mới tích cực đã được thực hiện, nhưng tiêu cực vẫn còn tồn tại ...

Trong chiều hướng nâng cao dân trí, Nhà nước đã có nhiều biện pháp thực tế nhằm mở rộng trường lớp và tăng cường lực lượng giáo viên. Chẳng hạn như ở làng tôi, nay đã có 3 trường trung học và 5 trường tiểu học (10 năm về trước, chỉ có 2 trường tiểu học và không có trường trung học). Tuy thiếu thốn thầy cô phụ trách, nhưng Nhà nước có chính sách khuyến khích các sinh viên sư phạm sau khi tốt nghiệp về quê giảng dạy, như cho vay mua xe, mua nhà (hay bố trí nhà ở cho thầy cô), tăng lương bổng, v.v… Cần nói thêm là lương một giáo viên trung bình bây giờ khoảng >1 triệu đồng, tăng gần gấp 2 so với trước đây. Ngành sư phạm đang dần dần trở thành một ngành học hấp dẫn đối với sinh viên.

Nhưng nói chung, cơ sở vật chất trường lớp ở thôn quê vẫn còn cực kì nghèo nàn. Trường mới xây rất sơ sài, phần lớn là lợp lá dừa nước và cột kèo làm từ tre trúc. Có trường tiểu học thậm chí không có vách, nhìn qua y chang như là những lớp học vào thời thế kỉ 18, 19. Ở vài trường trung học, nạn học chay vẫn còn, tức là học mà không có sách giáo khoa, không có thí nghiệm. Vì thế, không ai ngạc nhiên thấy chất lượng giáo dục ở miền quê chưa được cao và không thể nào sánh nổi với các trường ở thành phố.

Trong cuốn “Suy nghĩ về giáo dục truyền thống và hiện đại”, Tiến sĩ Dương Thiệu Tống so sánh kết quả tuyển sinh giữa năm 2002 và 2003 như sau:

Kết quả tuyển sinh 2002 và 2003



Nguồn: Dương Thiệu Tống, “Suy nghĩ về giáo dục truyền thống
và hiện đại”, Nhà xuất bản Trẻ, 2003
.

Qua bảng thống kê trên, chúng ta thấy điểm trung bình của học sinh thi tuyển vào đại học ở nước ta còn rất thấp, chỉ khoảng 8.3 đến 8.4 trên 30. Khoảng 87% thí sinh có điểm thi dưới 15! Đó là một tình trạng rất đáng quan tâm. Thực ra, cách tính điểm trung bình trên đây không phản ánh chính xác thực trạng của điểm thi, bởi vì phân phối điểm thi giữa các học sinh không phải là một phân phối hình chuông (Gaussian distribution, có giá trị trung bình nằm ngay chính giữa), mà là một hình như quả núi, tức là phần lớn học sinh có điểm thi nghiêng về phía bên trái (điểm thấp) và rất ít học sinh có điểm cao (phía phải). Do đó, điểm trung vị (median) có lẽ thấp hơn điểm trung bình. Biểu đồ phân bố điểm thi trong năm 2002 cũng chẳng khác gì biều đồ của năm 1974, tức phần lớn học sinh thời đó vẫn có điểm thấp. Nói tóm lại, điểm thi tuyển đại học trong vòng 30 năm qua chẳng có thay đổi gì đáng kể.

So sánh tỉ lệ trúng tuyển đại học và cao đẳng cũng cho ra một số kết quả khá bất ngờ. Tính trung bình toàn quốc, tỉ lệ học sinh trúng tuyển vào các trường đại học và cao đẳng là 13% (năm 2002). Nhưng có sự khác biệt khá lớn giữa các tỉnh thành. Sau đây là danh sách tỉnh thành thuộc vào hàng “top ten” (số liệu năm 2002).


Kết quả tuyển sinh 2002

 
 
Nguồn: Dương Thiệu Tống, “Suy nghĩ về giáo dục truyền thống
và hiện đại”, Nhà xuất bản Trẻ, 2003.

Tất nhiên, những số liệu chỉ cho ta biết khuynh hướng, chứ không phản ánh trung thực khả năng của học giữa các tỉnh thành, bởi vì học sinh các tỉnh xa và miền núi được thêm điểm thi.

Vẫn theo phân tích của Giáo sư Dương Thiệu Tống (trong cuốn sách Vài suy nghĩ về giáo dục, Nhà xuất bản Trẻ, 2003) mà trong đó ông cho thấy mức độ tương quan giữa điểm thi tú tài và điểm thi trong lúc theo học đại học cực kì thấp. Chẳng hạn như trong môn toán, phân tích trên 1280 học sinh cho thấy hệ số tương quan giữa điểm lớp 12 và điểm thi tuyển sinh đại học là 0.17; giữa điểm lớp 12 và điểm lúc cuối chương trình đại học là 0.09; và giữa điểm thi tuyển sinh đại học và điểm lúc cuối chương trình đại học là 0.19. Nói cách khác, điểm học lớp 12 không phải là yếu tố tiên đoán cho điểm thi đại học và càng không có liên hệ gì đáng kể với điểm học trong năm cuối của chương trình đại học. Nói cụ thể hơn, các học sinh có điểm thấp khi học lớp 12 có thể có điểm cao khi đi thi đại học và khi tốt nghiệp đại học; ngược lại phần đông các học sinh có điểm cao khi học lớp 12 không phải là những sinh viên có điểm cao khi học đại học.

Đồng bằng sông Cửu Long là nơi có nhiều cái nhất. Một trong những cái nhất đó là “ít chữ nhất”. Nói trắng ra, đó là vùng đất có trình độ học vấn – tính trung bình – thấp nhất nước. Đó là một hạng nhất chẳng ai muốn dành phần danh dự. Trong một chuyến công tác ở Cần Thơ vài tuần trước, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng có căn dặn rằng bằng mọi cách phải nâng cao trình độ học vấn của vùng ngang tầm trung bình toàn quốc.
Nhưng tôi e rằng chính cái hệ thống giáo dục hiện nay là nguyên nhân dẫn đến sự thấp kém trong giáo dục của vùng.

NVT


BLOG HIỆU MINH

Cách đây mấy chục năm, khu tập nọ có một cái sân chung cho khoảng chục gia đình. Hàng tháng, người ta thay nhau trực nhật, quét dọn, nhổ cỏ, lấy chỗ cho mọi người từ già đến trẻ vui chơi, giải trí. Thời bao cấp chả có ai nghĩ đến chuyện lấn sân này.

Nhưng khi thời mở cửa bung ra thì mảnh đất trên trở thành vàng. Có người đục tường, mở quán bán nước chè, kẹo lạc, chai nước, kiếm khá. Sau đó dân chúng thi nhau quây cót trong mảnh sân rộng hơn 100m2 này.

Trong xóm có anh chàng đầu gấu, chẳng sợ ai, tuyên bố xanh rờn, mảnh sân trên là của hắn, ai động vào sẽ xé xác.

Đương nhiên, dân trong khu cũng chẳng phải vừa. Họ nói đây là “sở hữu toàn dân”, không ai có quyền lấn chiếm.

Thấy tập thể đoàn kết, tay đầu gấu hơi ngại, đã quyết định dùng kế “đánh lẻ” hay còn gọi là “đàm phán song phương”. Hắn tới từng nhà bàn, nếu bác đồng ý thì em sẽ dành cho bác phần hơn, không gây khó khăn.

Vừa bàn vừa dọa, có mấy gia đình yếu thế đã đồng ý lấy vài m2 và để cho hắn chiếm 50m2. Tránh voi chẳng xấu mặt nào, chống lại, lơ mơ hắn lại sai đầu gấu ném xăng, đổ phân vào cửa thì chỉ còn cách chuyển chỗ ở.

Chuyện “song phương” đến tai các gia đình khác muốn chia đều và công bằng cho tất cả. Thế là “chiến lược đa phương” được các cụ bô lão đề ra, nhằm làm thất bại chiến lược “song phương” của tay đầu gấu.

Nghe nói sau 20 năm tranh chấp mà chả bên nào chịu bên nào. Cuối cùng, sân chơi thành bãi cỏ hoang, chẳng ai được lợi. Mà lẽ ra, nếu biết bảo nhau thì cái sân chung kia thành niềm vui cho cả làng.

Viết chuyện này, chợt nhớ đến vấn đề tranh chấp biển Đông giữa Trung Quốc và các quốc gia trong khu vực. Biển Đông cũng như cái sân của mấy gia đình trên. Trước kia có ai lên tiếng về chủ quyền đâu. Thỉnh thoảng có xung đột nho nhỏ, nhưng chưa bao giờ nghiêm trọng như hiện nay. Nhưng dầu hỏa, khí đốt rồi vị trí chiến lược trên biển Đông đã làm mờ mắt nhiều kẻ tham lam.

Hồi tháng 7/2010, có hội thảo ARF 17 diễn ra tại Hà Nội, Ngoại trưởng Dương Khiết Trì đánh tiếng trên mạng của Bộ Ngoại giao TQ: “Nếu Biển Đông trở thành một vấn đề quốc tế hoặc đa phương, sẽ chỉ khiến cho vấn đề này trở nên tồi tệ hơn và giải pháp sẽ khó khăn hơn… …Thực tiễn quốc tế cho thấy cách tốt nhất để giải quyết các bất đồng, tranh chấp đó là các bên liên quan đàm phán song phương trực tiếp”.

Trung Quốc luôn kiên trì với đường lối “chống quốc tế hóa hay đa phương hóa vấn đề Biển Đông”. Họ muốn đàm phán song phương giữa Trung Quốc với từng nước liên quan đến tranh chấp biển Đông.

Bẻ đũa cả nắm thì khó hơn là bẻ từng chiếc. Chia để trị vốn là chiến lược lâu dài của người Trung Hoa.

Trước khi khai mạc hội nghị thượng đỉnh Mỹ-ASEAN bên lề phiên họp của Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc tại New York, Tổng thống Obama cam kết Mỹ sẽ giữ vai trò lãnh đạo tại châu Á khi ông triệu tập cuộc họp với các nhà lãnh đạo vùng này.

Trước đó khi chưa có hội nghị thì thì bà Khương Du của Bộ Ngoại giao Trung Quốc đã “nhắn tin” rằng “chúng tôi kiên quyết phản đối sự can dự của những quốc gia không liên quan”. Trung Quốc tái khẳng định, đường lối song phương là đúng đắn, rằng đã có sự thương thảo tốt đẹp giữa Trung Quốc với những quốc gia trong khu vực tranh chấp.

Đương nhiên các nước nhỏ thì không thể ngồi đợi Trung Quốc đến để “giao thiệp song phương”. Yếu và nhỏ thì dựa vào nhau nên cần “đa phương hóa, đa dạng hóa, làm bạn với tất cả” để Hoa Kỳ nhẩy vô.

Hai nước lớn va chạm, người cầm gậy và củ đậu bay, cao bồi kia nhăm nhe rút súng, cánh hàng xóm nhỏ “tọa sơn quan hổ đấu”.

Cũng hồi tháng 7 tại Hà Nội, người đẹp Hillary với mái tóc vàng bay bay đã tuyên bố cũng không kém phần xanh rờn, Hoa Kỳ xem việc thông qua “đường lối đa phương” để giải quyết tranh chấp biển Đông là “quyền lợi quốc gia”.

Đương nhiên, Việt Nam và nhiều nước khác đã công khai hay ngấm ngầm bày tỏ sự ủng hộ đối với lập trường của Hoa Kỳ.

Như vậy, “sân chơi biển Đông” của nhiều “gia đình” đang được hai chiến lược đa phương và song phương “cãi nhau”.

Mới đây, anh Nhật lùn bắt tầu đánh cá của Trung Quốc vì đám này to gan vào sâu vùng biển tranh chấp với Nhật. Họ thả hết các ngư dân nhưng thuyền trưởng bị giữ lại để đem ra tòa. Hai bên cãi nhau cả tháng chưa xong. Có cả biểu tình chống Nhật tại Bắc Kinh.

Thủ tướng Ôn Gia Bảo còn dọa Tokyo, phải thả thuyền trưởng tàu đánh cá “ngay lập tức và vô điều kiện”, nếu không sẽ phải gánh chịu hậu quả. Kiếm Samuraj và gậy vung ra chưa có cách nào cất đi.

Vụ này lẽ ra với tài thuyết khách “song phương” của người Trung Quốc phải xong từ lâu rồi. Tại sao họ phải đưa lên thông tin đại chúng làm ầm ỹ, rồi cho người biểu tình. Phải chăng đây lại là đòn “đa phương” nhằm quốc tế hóa vấn đề bé tý tầu đánh cá bị bắt.

Trong lúc đó, Trung Quốc ngang nhiên đâm tầu đánh cá của VN, bắt hàng trăm người, phạt tiền, tịch thu tài sản. Người ta gọi đó là chuẩn đúp của nền ngoại giao “lạ”.

Song phương, đa phương, rồi chuẩn đúp “lạ” đưa đến… hết phương, một ngõ cụt trong việc giải quyết tranh chấp biển Đông.

Song phương thì không bao giờ được vì không ai muốn đàm phán với kẻ ở thế thượng phong. Đa phương thì lắm thầy nhiều ma, lắm cha con khó lấy chồng, không ít kẻ đi đêm với nước mạnh.

Tại sao không dùng kế tam phương. Trung Quốc đàm phán với một nước bé trong khu vực, Hoa Kỳ làm trọng tài. Biết đâu đó sẽ là giải pháp win-win, có lợi cho nhiều phía trên biển Đông, mà không kết thúc như cái sân chơi hoang tàn của mấy gia đình ở Hà Nội năm nào.


HM. 23-09-2010

BLOG NGUYỄN XUÂN DIỆN
20-09-2010


Khi nhà nước hoặc vì bất lực hay vô cảm trước các nhu cầu chính đáng của người dân như nhu cầu đi lại, phó mặc cho họ tự lo toan thì xã hội sẽ lùi lại thời kỳ của nền kinh tế tự cung tự cấp lạc hậu cả ngàn năm.


Phát triển giao thông theo hướng để mặc người dân tự cấp tự túc phương tiện đi lại kết cục chính là những kết quả bế tắc đến không ngờ của ATGT Đại Việt hiện nay.

1.Không biết vì lẽ gì, dù đang hiện đại hóa, công nghiệp hóa nền kinh tế xã hội để phát triển nền kinh tế thị trường có định hướng, giao thông vận tải nước Đại Việt vẫn cố tình kế thừa một truyền thống cũ lạc hậu có tuổi đời hàng nghìn năm. Ấy là sự phát triển rộng rãi của người dân về phương tiện giao thông cá nhân theo truyền thống tự cung, tự cấp và tự phát vốn có tự ngàn đời qua.

2.Nếu trong thời bao cấp trước đây, nhà nhà đi xe đạp thì nay thời hội nhập với thế giới, người người dùng xe máy. Một đất nước còn nghèo như Đại Việt đã bỏ ra gần 30 tỷ dollar để mua sắm gần 30 triệu chiếc xe máy các loại. Thật là một con số kỷ lục mà hiếm có quốc gia nào sánh kịp. Các hãng xe máy từ Nhật tới Tàu, từ Hàn Quốc tới Đài Loan hay Ý đều trở nên giàu có hơn nhờ sự phát triển giao thông chẳng giống ai của nước Đại Việt ta. Nước nghèo đang góp phần quyết định làm nên sự giàu có của nước giàu bằng những phương cách hào phóng vô tư không suy nghĩ như thế đấy!!!.

Đôi lúc người ta tự hỏi nước Đại Việt có thể làm được những gì nếu họ không phung phí 30 tỷ dolla để mua xe máy cá nhân mà tiết kiệm một phần số tiền đó (20 tỷ dollar chẳng hạn) để phát triển hạ tầng giao thông nước họ? Câu hỏi này tuy muộn nhưng cũng nên để cho vua quan và con dân nước Đại Việt chúng ta cùng suy ngẫm!

3.Với gần 30 triệu chiếc xe máy, vài triệu chiếc ô tô cùng hàng chục vạn các phương tiện giao thông khác, số liệu thống kê chỉ ra rằng mặc dù cố gắng xây dựng đường sá đến mấy, diện tích mặt đường cùng lắm cũng chỉ đủ xếp kín các loại xe (nếu tất cả trên 30 triệu phương tiện giao thông cùng xuống đường hoạt động) khó có thể chuyển động đi lại. Tức là đường sá Đại Việt ở các đô thị lớn chỉ vừa đủ cho giao thông tĩnh, khỏi bàn giao thông động, vì thế kẹt xe, ô nhiễm môi trường luôn là các biểu hiện ăn theo trong bức tranh giao thông đương đại của nước Đại Việt ta.

Để đạt được hiện trạng đặc biệt này, rõ ràng phải có sự đóng góp áp đảo của gần 30 triệu xe máy, phương tiện giao thông các nhân!

4. Công luận xã hội vừa qua nói rất nhiều đến an toàn giao thông. Số người chết và bị thương lên đến trên 3000 người một tháng, gần 4 vạn người năm, nhiều hơn cả số người chết của Irắc thường xuyên bị đánh bom khủng bố. Nói cách khác, con số nạn nhân tai nạn giao thông nước Đại Việt hàng năm có thể so sánh tương đương với một cuộc động đất cỡ lớn trên thế giới, với tần suất mỗi năm một lần.

5.Ý thức được tầm quan trọng của ATGT, nhà nước Đại Việt đã có hẳn một Ủy ban ATGT quốc gia do người đứng đầu chính quyền làm trưởng ban với hy vọng sẽ giải quyết căn bản vấn nạn này.

Bằng rất nhiều cuộc họp, chi ra nhiều tiền của cho cả những việc như đóng và mở lại các ngã tư: bằng cách chỉ ra những nguyên nhân khác nhau về cơ sở hạ tầng yếu kém, về văn hóa giao thông của người dân thấp. Bằng cách áp dụng các biện pháp đa dạng như tăng tiền phạt góp phần tăng thu nhập cho quan chức công an giao thông mẫn cán đứng đường nắng gió: bằng các biện pháp giáo dục (mà gần đây một tỉnh nọ cho in cả những tài liệu ATGT theo hướng tiến kịp với trình độ suy thoái các giá trị xã hội): bằng cách sử dụng các phương tiện tuyên truyền đại chúng, bằng các biện pháp thống kê ấn tượng v.v... nhưng số liệu tai nạn giao thông hình như chưa thuyên giảm đáng kể, dừng lại ở mức độ trên 3000 người bị tai nạn giao thông/tháng. Một con số đáng sợ!

Trong bài viết ngắn này, chỉ xin gửi tới Ủy ban ATGT quốc gia một vài thông tin cơ bản của lý thuyết chuyển động Brown cổ điển. Lý thuyết này chỉ ra rằng khi các phần tử chuyển động trong một môi trường nhất định, xác xuất va chạm của chúng tỷ lệ thuận với số lượng, tốc độ chuyển động của các phần tử đó.

Ở nước Đại Việt có trên 30 triệu phương tiện giao thông, đứng đầu mọi quốc gia về các phương tiện giao thông các nhân là xe máy. Con số phương tiện tham gia giao ước khoảng trên 20 triệu/ngày, với vận tốc trung bình 30 km/h, vậy số vụ va chạm tối thiểu phải là bao nhiêu? Có lẽ con số thống kê 3000 nạn nhân giao thông /tháng là con số tới hạn mà định luật chuyển động Brown đã chỉ ra.

Vì thế không chỉ một Ủy ban ATGT quốc gia, mà có lẽ cả Ủy ban ATGT APEC hay Ủy ban ATGT Liên hiệp quốc (nếu có) cũng chỉ có thể tìm ra lời giải cho bài toán vấn nạn an tòan giao thông Đại Việt trong wesite có tên Bótay.com mà thôi.

6.Khi nhà nước còn: hoặc vì bất lực hay vô cảm trước các nhu cầu chính đáng của người dân như nhu cầu đi lại, phó mặc cho họ tự lo toan thì xã hội sẽ lùi lại thời kỳ của nền kinh tế tư cung tự cấp lạc hậu hàng ngàn năm.

Điều mấu chốt là ngay cả nền kinh tế thị trường, nền kinh tế đã giàu có hơn ở thời hội nhập cũng sẽ hoàn toàn bất lực trước các hậu quả của những phương pháp giải quyết các vấn đè kinh tế xã hội theo lối cũ vốn đã bế tắc cả nghìn năm.

Bài toán ATGT nước Đại Việt ta vốn có nguồn gốc sâu xa ở sự không chấp nhận lý thuyết chuyển động Brown, sẵn sàng tiếp tục sự nghiệp chống lại cối xay gió của Don Kihote hay chính là sự phó mặc cho người dân tự cung tự cấp các phương tiện đi lại của chính quyền nước Đại Việt vậy!

Phát triển giao thông theo hướng để mặc người dân tự cấp tự túc phương tiện đi lại kết cục chính là những kết quả bế tắc đến không ngờ của ATGT Đại Việt hiện nay.



BLOG ĐÀO TUẤN
Rẻ hóa lịch sử
Đăng ngày: 14:44 27-09-2010
Thư mục: Tổng hợp

Câu chuyện Cổng thành nhà Mạc sau 418 năm tồn tại phút chốc biến thành một cái lò gạch đỏ son, mới toe ít nhất cũng cho người ta nhận thấy một sự thật: Không phải binh lửa, giặc giã- với chuyện chặt đầu tượng, kéo đổ bia đá; Không phải thời gian, với sự hủy hoại chứng tích lịch sử dần mòn; Cũng không phải là vì một thời “dồn tượng một chuồng, đưa mồ mả vào hợp tác xã” mà chính phong trào “trẻ hóa” di tích, nhắm mắt đổ tiền đạp cũ xây mới, tàn phá một cách hợp pháp các di tích dưới danh nghĩa dự án tôn tạo, chính việc không biết lắc đầu trước cám dỗ và thiếu lạnh lùng để biên ra một chữ “cấm” mới tạo ra sự tàn phá ghê gớm nhất.

Sử gia Dương Trung Quốc nói ông “thực sự bất ngờ và rất ngạc nhiên khi nhìn thấy những hình ảnh thành cổ bị biến dạng một cách kỳ quặc”. Bởi “Sự chắp vá, đắp mới của công cuộc trùng tu đã phá vỡ những giá trị kiến trúc, nghệ thuật vốn có của thành cổ. Người ta đã cố tình làm xấu, làm biến dạng và làm mất đi cái hồn của thành nhà Mạc”. Lời khuyên chân thành nhất dành cho Tuyên Quang bây giờ: Họ nên có thêm một cái biển và ghi rõ “Ở đây đã từng tồn tại di tích thành nhà Mạc”.- PGS TS Nguyễn Hải Kế, khoa Lịch sử- ĐH QG Hà Nội nói mỉa mai. Đối với TS Kế, cũng như hầu hết các nhà khoa học và dân chúng, thành nhà Mạc coi như đã mất sau 418 năm tồn tại. Bởi vì ai sẽ công nhận cái lò gạch xây mới không có một chút nào kiến trúc cũ đó là di tích thành nhà Mạc? Bởi “Không thể có chuyện lò gạch vừa xây xong thì thành di tích”.

Nhưng đáng ngạc nhiên nhất trong các bản tin về thành nhà Mạc phải là sự ngạc nhiên. Tại sao lại phải ngạc nhiên khi “cái lò gạch” không phải công trình kiến trúc lịch sử đầu tiên bị tàn phá, và tất nhiên cũng không phải công trình cuối cùng. Hai năm trước, Đình Thụy Phiêu, ngôi đình cổ nhất ở Việt Nam đã bị biến thành ngôi đình giả cổ với mái ngói đỏ au, cột đá xanh lè trong ngoài trước sau sơn son thếp vàng! Một năm trước, ngay cả việc khai quật Hoàng thành Thăng Long cũng được đưa máy vào để xúc như cái cách đào bới…công trình thủy lợi! Ở đình Mông Phụ, khi xây mới, người ta vứt bỏ những viên đá ong hàng trăm tuổi mà sau đó vì quá tiếc, Họa sĩ Thành Chương đã xin mua lại. Rồi thì chùa Dâu được “trùng tu” với dáng vóc mới y cái quán Ngon. Tại sao phải ngạc nhiên, phải đi tìm sự tận diệt ở tít tận xứ Tuyên Hóa khi mà ngay bên bờ hồ Gươm sự hủy hoại cũng đang diễn ra! Có một người không ngạc nhiên, TS Nguyễn Hồng Kiên, người chủ trì dự án Điều tra cơ bản về di tích kiến trúc cổ truyền của người Việt ở châu thổ Bắc Bộ. “Tình trạng mai một kiến trúc cổ của ta, không phải chỉ vì những lý do khách quan như chiến tranh, thời tiết... Ngày xưa, là không có tiền để tu sửa, bây giờ thì nhiều khi lại vì có tiền mà thiếu hiểu biết nên được/bị tu sửa theo kiểu "hiện đại hoá”. Ông nói sau cuộc điều tra. Và một ví dụ rất dễ kiểm chứng là tượng vua Lê, ngay bên Bờ Hồ, cũng đang được đối xử với một cách thức y hệt. Theo TS Kiên, người ta đã “gộp” hai di tích Đình Nam Hương và tượng vua Lê vào làm một. Ở đó, có những con “rồng” bò ngược theo cầu thang mà “20 năm làm trùng tu di tích, chưa từng thấy con rồng bò ngược”. Chỉ cách đó vài mét, là một con rồng chúc đầu ôm cột “ngay cả nằm mơ cũng không thấy”. Kiểu đèn đá sân vườn kiến trúc Nhật Bản, một vấn nạn của các di tích kiến trúc cổ, được đặt một cách thô kệch và xấu xí, vô nghĩa lý và vô văn hóa, dù chúng được thanh toán với giá “không hề rẻ”. Ở đó, còn có câu chuyện xuyên tạc lịch sử khi một cơ quan “cấp phường” cho rằng Đình Nam Hương là để thờ vua Lê Thái Tổ và để “hợp lý hóa”, người ta ngang nhiên đưa một bức tượng vua Lê- sản xuất năm 2010, vào ban thờ. Rồi thì chó gốm màu sắc lòe loẹt- quái vật cung tiến không nỡ không bày… Tất cả đều là phá hoại chứ không phải tôn tạo di tích. “Giá các nhà báo và dư luận lên tiếng từ khi người ta biến di tích Cổng Bắc thành nhà Mạc thành đảo giao thông..” TS Kiên ngậm ngùi.

GS William Logan, Chuyên gia thẩm định, đánh giá di sản thế giới của Unesco khi được hỏi về phong trào “mới hóa”, bêtông hóa, “trẻ hóa”, “tầm thường hóa”, “rẻ hóa” dưới danh nghĩa trùng tu di tích ở Việt Nam đã trả lời: giá trị các di sản thế giới nằm ở tính chân thực, nguyên gốc của nó. Bêtông hóa sẽ phá hỏng tính nguyên bản của di tích, di sản. Vị chuyên gia này thậm chí còn không chấp nhận cả việc xây dựng công viên ở ngay đường sau khu Văn Miếu. Bởi theo ông người ta làm mới nhưng không có những nghiên cứu cụ thể.

Vụ án thành Tuyên, ác nghiệt thay, lại được bắn ra từ 1 viên đạn súng lục, không, phải là một quả bom- nặng cỡ 10 tỷ đồng có cái tên là dự án trung tu. Nhà báo Đỗ Doãn Hoàng, một trong số những người đầu tiên phát hiện vụ “Thành nhà Mạc thất thủ”, viết về sự đánh đổi như sau: Người ra đã gọt bỏ rêu phong, phá bỏ các phom cổng, các bức tường thành lưu dấu mấy trăm năm dâu bể, đã phun hoá chất diệt trừ tận gốc các “toà thiên nhiên” dây leo, cây cổ thụ, để dựng nên tại đó một cái lò gạch nằm trọn vẹn, tơ hơ, gạch mới đỏ au, tinh tươm, mới mẻ từ chân lên đầu, từ trong ra ngoài, trét ximăng trắng lốp tứ bề, xung quanh “đảo” là chi chít cọc bằng inox sáng choang với xích sắt to bằng ngón chân cái.

Tuy nhiên, sự nguy hiểm nhất lại là ở chỗ người ta hoàn toàn vô tội trong các vụ tàn phá di tích. Bởi vì tất cả đã được thực hiện theo các quy trình có đủ các báo cáo, thẩm định, bút phê. Bởi tiền đập thành cổ xây lò gạch là tiền nhà nước, từ túi nhân dân. Và bởi những vụ phá hoại kiểu này hoàn toàn không có trong bất cứ một báo cáo nào của ngành văn hóa. Bởi vì hành vi tàn phá đó đang được những người có trách nhiệm coi là bảo tồn. Nếu ngày mai, người ta xây ngay một cái lò gạch giữa hồ Gươm thì vì thế, cũng chẳng nên lấy làm ngạc nhiên.


Nồi Cao Áp “Ổn Định” Đã Bật Tung Nắp

Đinh Tấn Lực

Từ ngày 01 tới 24-9-2010, tức là chỉ mới hơn 3 tuần đầu của tháng, và chỉ trên duy nhất mục Pháp Luật của tờ Người Lao Động (dành cho giai cấp công nhân), đã có 210 bản tin hình sự (phụ lục tựa tin và đường dẫn ở cuối bài).

Trong đó đa phần là tin lừa đảo, ẩu đả… Nhưng đáng lưu tâm nhất là đã có tới 69 tin liên quan tới án mạng (mưu sát/cố sát/ngộ sát…), tức là chiếm non 33% tổng số tin.

Có lẽ các báo khác cũng loan tải một lượng tin có tỷ lệ tương tự (ngoại trừ loại báo giật gân CAND có thể có tỷ lệ cao hơn).

Tỷ lệ này nói lên điều gì, nếu không phải là mô tả đến chi tiết cận cảnh của một nồi cao áp có tên là “ổn định” đã bật tung nắp đậy?

Do đâu?

Cục Đá Ném Đi
Tổ chức Quan trắc Nhân quyền Human Rights Watch (HRW) vừa lên tiếng yêu cầu chính phủ Việt Nam điều tra các vụ cáo buộc công an hành xử tàn bạo với dân. Trong bản thông cáo ngày 22-9-2010, tổ chức này cho biết rằng họ có trong tay tài liệu về 19 vụ bạo hành bởi công an VN, với 15 người chết, trong một năm qua. Ông Phil Robertson, Phó Giám đốc phụ trách Á châu của HRW, nói: “Thông tin về các vụ bạo hành của công an đang ngày càng nhiều một cách đáng báo động ở Việt Nam, gây quan ngại nghiêm trọng rằng các sai phạm này khá phổ biến và có tính hệ thống“.

Cụm từ khóa trong nhận định này là “có tính hệ thống”.

Còn 19 vụ bạo hành bởi công an VN là cái giới hạn về số tài liệu mà họ có. Trên thực tế, con số này còn lớn hơn nhiều. Tạm liệt kê theo những bản tin “không thể lấp liếm, giấu diếm” vì đã có nhiều chứng nhân tại chỗ (như nhận định của đại tá CA Nguyễn Như Tuấn trên báo Nông Nghiệp):
14-09-2009: công dân Phạm Ngọc Đến, chết vì CA Gia Lai rượt đuổi về tội đi xe máy không đội mũ an toàn.
17-09-2010: công dân Trần Minh Sĩ, chết trong phòng tạm giữ của CA Gia Lai về tội tham gia biểu tình đòi làm sáng tỏ vụ án Phạm Ngọc Đến.

21-11-2009: công dân Nguyễn Ngọc Hùng, chết trong phòng tạm giam của CA Hà Đông, Hà Nội, với thi thể thâm tím.

28-11-2009: công dân Đặng Trung Trịnh, chết trong phòng tạm giam của CA huyện Tứ Kỳ, Hải Dương, với chứng nhận pháp y bị gãy xương sườn và thâm tím thi thể.

17-12-2009: nhiều công dân bị trọng thương và bị bắt giam bởi CA làng Gio Thượng, Tiền Phong, Mê Linh, Hà Nội, về tội phản đối tiến trình giải phóng mặt bằng cho nhà máy ô tô Xuân Kiên.

22-12-2009: công dân Nguyễn Văn Long, chết tại trụ sở CA huyện Bù Đăng, Bình Phước, với báo cáo của CA là đương sự “tự tử”.

21-01-2010: tu sĩ Antôn Nguyễn Văn Tặng, bị bất tỉnh, và một số công dân bị trọng thương vì bị CA cùng xã hội đen hành hung, về tội viếng thăm giáo dân xứ Đồng Chiêm.

22-01-2010: công dân Nguyễn Quốc Bảo, chết tại phòng tạm giữ của CA quận Hai Bà Trưng, Hà Nội, với giám định pháp y là bị thương nặng ở đầu, cổ tay, cổ chân.

Ngày 19-02-2010: công dân Nguyễn Ngọc Quang, sau khi mãn hạn tù chính trị, trên đường đi thăm ông Hà Sĩ Phu ở Đà Lạt thì bị ép xe văng xuống đèo Prenn, bị thương nặng nhưng thoát chết.

Ngày 20-02-2010: công dân Nguyễn Văn Năm, bị CA xã Liên Hà, Lâm Hà, Lâm Đồng, còng tay ra sau lưng và đánh bằng dùi cui đến bất tỉnh, về tội lên trụ sở CA hỏi thăm về người con bị tạm giữ.

22-04-2010: công dân Huỳnh Tấn Nam, chết vì bị CA Khánh Hòa rượt đuổi, bắt lại và đánh trọng thương về tội đi xe máy không đội mũ an toàn, rồi bỏ mặc nạn nhân hấp hối tại lề đường.

24-04-2010: công dân Phạm Tuấn Hưng, chết tại nhà, sau khi bị CA Bà Rịa-Vũng Tàu treo lên cửa sổ tại trụ sở và đánh ngất xỉu, về tội bị tình nghi lấy cắp điện thoại di động.

04-05-2010: nhiều công dân ở Cồn Dầu, Đà Nẵng, bị CA đánh trọng thương và bị bắt, về tội tham gia tang lễ của một cụ bà dân oan.

07-05-2010: công dân Võ Văn Khánh, chết tại phòng tạm giam của CA huyện Điện Bàn, Quảng Nam, với xương sườn bị gãy và dấu giày trên người, về tội không mang theo đủ giấy tờ xe máy. CA tuyên bố là nạn nhân đã treo cổ “tự tử” bằng dây cột giày.

25-05-2010: công dân Lê Thị Thanh, bị thương, và các công dân Lê Xuân Dũng (12 tuổi) và Lê Hữu Nam, chết, vì bị CA Nghi Sơn, Thanh Hóa, nổ súng trực xạ, về tội tham gia phản đối tiến trình giải phóng mặt bằng cho nhà máy lọc hóa dầu Nghi Sơn.

07-06-2010: công dân Nguyễn Phú Trung, chết tại hiện trường, sau khi bị CA huyện Chương Mỹ, Hà Nội, đánh bằng dùi cui điện và còng sắt rồi bỏ mặc nạn nhân hấp hối bên vệ đường.

30-06-2010: công dân Vũ Văn Hiền, chết tại phòng tạm giữ của CA huyện Đại Từ, Thái Nguyên, với thi thể bầm tím, miệng đầy máu và xương sọ bị vỡ.

03-07-2010: công dân Nguyễn Thành Năm, chết tại nhà, sau khi được thả về từ phòng thẩm vấn của CA Đà Nẵng, về tội tham gia trợ tang cho tang lễ của một cụ bà dân oan ở nghĩa trang Cồn Dầu ngày 04-05 kể trên.

21-07-2010: công dân Nguyễn Phú Sơn, chết vì bị CA xã La Phù, Hoài Đức, Hà Nội, đánh bằng dùi cui điện, từ chỗ dừng xe về tới phòng thẩm vấn.

23-07-2010: công dân Nguyễn Văn Khương, chết tại phòng tạm giam của CA huyện Tân Yên, Bắc Giang, về tội không đội mũ an toàn khi đi xe máy.

30-07-2010: công dân Nguyễn Văn Trung, chết tại phòng tạm giữ của CA Bình Thuận, về tội cãi vã với một CA xã trong nhà hàng.

06-08-2010: công dân Hoàng Thị Trà, bị CA Thái Nguyên bắn thủng đùi xuyên xương chậu, về tội đi xe máy không đội mũ an toàn.

08-08-2010: công dân Trần Duy Hải, chết tại phòng thẩm vấn của CA Hậu Giang, về tội bị tình nghi cướp giật một sợi dây chuyền. CA tuyên bố nạn nhân treo cổ “tự tử”.

01-09-2010: công dân Trần Trung Tính (xã Hòa Tân, TP Cà Mau), trong lúc lên trụ sở CA xã để lập biên bản vi phạm trật tự, bị Trung tá CA Phạm Thanh Tùng đi nhậu say về dùng gậy đánh đập đến gãy gậy và bị bóp cổ dọa không được “hó hé”.

09-09-2010: công dân Trần Ngọc Đường, chết tại phòng tạm giữ của CA xã Thanh Bình, Trảng Bom, Đồng Nai, về tội cãi vã với hàng xóm. CA tuyên bố nạn nhân treo cổ “tự tử”.

18-09-2010: công dân Nguyễn Ngọc Quang, lần thứ tư bị ép xe (lần này bị cán trọng thương), khi di chuyển bằng xe máy có chở theo người con trai phía sau.


Những vụ việc hỗn quan hỗn quân vừa kể có chung mấy điểm đặc thù: 1) xảy ra theo một nhịp độ bạo liệt/tàn khốc ngày càng nhặt; 2) làm nổi bật tính chất côn đồ/phi nhân/dã man/ngu trung/hoảng loạn/tùy tiện/vô nghì của những kẻ mệnh danh là “thi hành công vụ”; 3) tô đậm tình hình vô luật pháp, thông qua phản ứng buông lỏng/không kiểm soát/không trừng trị/thậm chí còn được hiểu là có ẩn ý khuyến khích của nhà nước đối với các cán bộ càn quấy…

Ngược lại, về phía quần chúng nhân dân, cũng có một số đặc điểm khác với trước đây, có thể ghi nhận khái lược: 1) không trông chờ gì ở nhà nước, mà đã tự bênh vực cho nhau; 2) không tin vào hành tung của CA cho dù đang mặc sắc phục; 3) không tin vào lời phân trần/báo cáo của CA, ngay tại hiện trường hay tại trụ sở; 4) sử dụng các phương tiện hiện đại phổ biến (camera phone, camcorder…) để thu âm, ghi hình ngay tại chỗ làm bằng, cả nạn nhân lẫn hung thủ, cả trước lẫn sau sự cố; 5) tìm hiểu hoàn cảnh của nạn nhân và lai lịch của hung thủ; 6) thông tin tức khắc cho các hệ thống truyền thông ngoài luồng; 7) sẵn sàng trả lời phỏng vấn để kể lại những điều chính mắt mình nhìn thấy; 8.) tạo áp lực tại chỗ bằng số đông để buộc nhà nước phải làm sáng tỏ vụ việc…

Hòn Chì Ném Lại
Thử tìm cụm từ “chống người thi hành công vụ”, Google cho biết có khoảng 259.000 kết quả.

Tất nhiên, có nhiều kết quả trùng lấp, lặp lại. Dù vậy, con số gần 26 vạn đó cũng phản ánh một thực trạng khó chối cãi là nhân dân phản ứng lại công an/giám đốc/bí thư ủy, và ngay cả với trộm cướp, ở nhiều cấp độ và bằng nhiều phương thức có thể nghĩ ra:
05-10-2006: công an viên Hoàng Văn Đông (xã Liêm Hải, Trực Ninh), bị một nhóm thanh niên đánh chết bằng ống nước.

18-12-2007: thiếu tá công an Lê Văn Thanh, quản giáo trại giam số 3 (V26 – huyện Tân Kỳ, Nghệ An), bị 1 thanh niên đâm chết.

24-03-2009: Martha Ann Overland viết trên báo Time về tình hình “Nhân dân VN chống trả lại CA tham nhũng”.

17-08-2009: công an viên Nguyễn Quốc Ngạn (xã Nghi Kim, TP Vinh) bị đánh/đâm chết trong lúc nghỉ trưa.

04-10-2009: một giám đốc Cty vận tải ở Hải Phòng bị nghi ngờ có dan díu tình cảm với nữ nhân viên, bị người chồng của bà này, cũng là nhân viên của hãng, đâm chết.

07-10-2009: trong phiên tòa phúc thẩm xét xử một băng đảng xã hội đen ở Nha Trang, hai nghi can bị CA nặng lời, đã đánh trả khiến phiên tòa bị náo loạn.

10-03-2010: công an viên Lê Quốc Huy (xã Vĩnh Mỹ A, huyện Hòa Bình, Bạc Liêu) bị các tay trộm chó dùng súng tự chế bắn bị thương.

17-04-2010: hai công an viên Cường và Toàn (huyện Đa Tẻh, Lâm Đồng) bị 1 thanh niên đánh trả.

14-05-2010: con buôn đánh CA Vĩnh Xương, Tân Châu, để giựt lại hàng lậu.

07-06-2010: một kẻ câu trộm chó bị đốt cháy xác cùng chiếc xe máy tại cánh đồng Trung Thuận, xã Hưng Đông, TP Vinh.

11-08-2010: công an phường 6, quận 3, Sài Gòn, chận xét xe, bị một thanh niên đánh trả, ngay tại lề đường và cả khi về tới trụ sở CA phường.

29-08-2010: hai kẻ câu trộm chó ở xã Nghi Thinh, huyện Nghi Lộc, thanh Hóa, bị dân phát hiện và bị đánh tới chết.

31-08-2010: công an Đinh Minh Trọng (Đồng Lê, Tuyên Hóa), bị một nhóm thanh niên xông vào nhà chém trọng thương.

05-09-2010: công an Quách Anh Tuấn chận phạt xe tải, bị lái xe húc thẳng, người bị bật tung lên ca-pô, phải bám tay vào cần gạt nước, đến 300m xe mới dừng.

07-09-2010: công an Trương Công Cư (tổ trưởng tuần tra CA Đà Nẵng, hàm trung tá), chận xe máy, bị một thanh niên viện cớ về nhà lấy tiền nộp phạt đã quay trở lại hiện trường chém rách vai trái, chém đứt thêm 4 ngón tay trái một người khác và gây thương tích cho trung úy CA Dương Đình Quốc.

08-09-2010: công an Lê Đình Tâm (xã La Kly, Chư Prông, Gia Lai), bị mất tích, bốn ngày sau thì được dân phát hiện thi thể (có vết đánh) nổi trên hồ thủy điện Chư Prông.

10-09-2010: công an khu vực (phường Gia Sàng, Thái Nguyên) Dương Công Huấn, hàm trung úy, bị một thanh niên đâm chết trong một vụ xô xát lúc 3 giờ sáng.

20-09-2010: Phó bí thư quận ủy Phú Nhuận (Sài Gòn) Đặng Thu Hồng và Trưởng phòng Tài nguyên Môi trường Bùi Ngô Thị Mỹ cùng con gái bị hai thanh niên vào nhà cắt cổ.

21-09-2010: hai sĩ quan công an cơ động Vũ Sơn Tùng và Trần Ngọc Hà (PC65 – Nam Định) bị một thanh niên rượt chém bằng dao bầu.

Có lẽ sẽ không có ai đành đoạn cổ võ cho nguyên nhân/tiến trình/hệ quả của loại phản ứng đầy cảm tính đó.
Người ta chỉ có thể phần nào cảm thông cho hoàn cảnh tức nước vỡ bờ của quần chúng tray trắng và tay không bị dồn vào đường cùng ở đây.

Xã Hội Giang Hồ

Hệ quả, khắp nơi, trên cả nước, là một xã hội sinh hoạt theo lối giang hồ.

Phía nhà nước tùy tiện hành xử áp chế dân lành (chiếu theo và nhân danh lệnh trên) tới mức có thể thực hiện được, miễn sao cho có lợi cho đảng và cho bản thân. Đồng thời, không màng tới nhiệm vụ tất yếu và chính yếu của kẻ mang danh “chức trách/trị an” đối với sự hỗn loạn trầm trọng của xã hội.

Phía quần chúng chọn phản ứng mặc kệ/khinh thường/bất chấp, thậm chí, chống lại từng cá nhân “chức trách” chuyên hà hiếp nhân dân, và tự xử với nhau trong mọi tình huống, từ các mâu thuẫn nhỏ trong gia đình/hàng xóm… cho tới việc đối phó với trộm cướp/lừa đảo… Và thường là những ứng xử nặng chất cảm tính, từ thách thức/mắng chưởi cho tới ẩu đả/giết người.

“Hiệp sĩ bắt cướp” là một phiên bản khác của xã hội giang hồ, phát xuất từ các yếu tố tự vệ, bất bình, và thôi ủy nhiệm vào lực lượng “hữu trách”, cho dù nhiều lúc các “hiệp sĩ đường phố” này bị thất cơ lỡ vận trước đám đông xã hội đen thứ thiệt. Hiện tượng Lương Sơn Bạc này lẽ ra không thể xảy ra trong thế kỷ 21. Nhưng tiếc thay, nó đã hình thành và được quần chúng chấp nhận.

Còn những mâu thuẫn lớn, nhân dân giải quyết ra sao?

Nhân dân không có chức năng/vị thế/phương tiện giải quyết những mâu thuẫn lớn, đặc biệt là những mâu thuẫn do đảng tạo ra. Tuy nhiên, một khi mà quốc hội tự coi nhẹ vai trò đại biểu nhân dân, hay khi nhà nước chẳng những coi thường mọi ý kiến/phản biện/kiến nghị mà còn ra tay trù dập các bậc trí thức ở trong và ngoài đảng/trong và ngoài nước… thì nhân dân không có cách nào khác hơn là phải tự biểu hiện sức mạnh của đám đông.

Hình ảnh cánh cổng dinh tỉnh ủy Bắc Giang bị đạp đổ bằng sự phẫn uất như lò xo nén của nhân dân ở đây là một biểu tượng của xu thế/trào lưu khai dụng sức mạnh của số đông đang trên đà phổ biến, như người ta vẫn thấy ở đoạn gần kết thúc của các cuốn phim tài liệu về các cuộc cách mạng màu.

Nước Vô Chính Phủ
Chưa cần kể tới các lãnh vực kinh tế, tài chính, đối ngoại, quốc phòng… Chỉ xét riêng mặt xã hội không thôi, thì hiện tượng “Hiệp sĩ bắt cướp” vừa nói còn là một thước đo về trách nhiệm của nhà cầm quyền, và là một định vị chính xác về hiện trạng của một nhà nước vô chính phủ. Nhất là thông qua bài viết “Tủi phận ‘hiệp sĩ’: Bất trắc, đơn độc” (tức là một hình thái ủy nhiệm ngược của nhà nước), mọi người đều thấy rõ vai trò/vị trí/và cả sự hiện diện của nhà nước ở đâu, chưa nói là chống tàu lạ đâm chìm tàu cá của ngư dân ta trên Biển Đông, mà là ngay cả việc chống cướp vặt ngay trên đường phố VN.

Mức độ vô trách nhiệm/vô chính phủ của nhà cầm quyền càng tỏ rõ, khi nhà nước ra sức khuyến khích/cổ võ, đến mức có thể cực kỳ vô ý thức mà đề nghị “nên hợp pháp hóa hoạt động các hiệp sĩ”, hay “mua bảo hiểm cho hiệp sĩ bắt cướp”.

Cùng lúc đó, nguyên cả một hệ thống tham nhũng, ăn cắp và lãng phí tiền thuế của dân hoặc tiền vay từ nước ngoài, thì lại được bảo kê bằng chính tuyên bố hùng hồn của 2 kẻ đứng đầu chính phủ: “Không kỷ luật một ai”, và, “Bắt hết thì bầu sao kịp?”.

Đó là chất nhờn bôi trơn tốt nhất, không phải để chính phủ chạy việc nhịp nhàng, mà để nuôi dưỡng/phát triển một guồng máy mạnh ai nấy quyết định theo ý riêng, bất chấp lệnh lạc hàng ngang hay hàng dọc (chủ tịch tỉnh Hà Giang là một điển hình phổ biến). Qua đó, các chính sách sai quấy từ trung ương càng bức tử nhân dân khi về tới địa phương xã ấp, khiến nhân dân phải tự xử lý vì không tìm đâu ra công lý. Cũng bởi đó, ở tầm vĩ mô và mặt tiền của chế độ, các hệ quả đen tối xảy ra liên tục, từ Dung Quất tới Vinashin, từ thành nhà Mạc tới “Đường Về Thăng Long”…

Ở một góc nhìn khác, tình trạng vô chính phủ còn hiển hiện qua cách ứng xử của nhà nước đối với công dân hạng hai ở nông thôn, vùng sâu, vùng xa; và với loại công dân hạng bét đang “sống lậu/chết chui” ngay trên quê hương đất nước mình, qua loạt bài 3 kỳ “Công dân không quốc tịch” trên báo Thanh Niên.

Vậy, thử hỏi, cái đảng và nhà nước vô chính phủ đó không lo cho dân thì đang lo điều gì?

Câu trả lời chém gió là lo “chia phiên canh giữ hòa bình thế giới”.

Câu trả lời chém nông dân là lo giữ vững “nền an ninh lương thực thế giới”.

Câu trả lời thuộc diện “bí mật quốc gia” là tốc độ tẩu tán tài sản của các đại gia tư bản đỏ, song song với nỗ lực dán nhãn khủng bố và bắt bớ thành viên của các đảng phái khác (vì “an ninh két sắt thủ đô” chăng?).

Còn câu trả lời chính thức/công khai nằm trong loạt bài chủ đạo 13 kỳ “Những bài học từ sự sụp đổ của Liên Xô” trên báo Nhân Dân, cùng loạt bài chưa biết bao giờ dứt “Quyết tâm chống diễn biến hòa bình” trên báo QĐND.

Không khác gì nỗi lo cuối trào của Milosovic ở Serbia, hay Pinochet ở Chile, trước những lá phiếu bằng nắm tay của quần chúng.

Chốt Lại
Hiện trạng vô chính phủ của VN ngày nay, với một nồi cao áp “ổn định” đã bật tung nắp đậy, nhắc nhớ cho nhiều người về tình hình của Ba Lan thời 1987-1988, hay của Liên Xô 1989-1990.
Nó là đêm trước của đổi mới bởi nhân dân.

Quả thật, đảng đã đẩy dân ngày càng xít gần lại hơn nữa, với nhau, và với khát vọng tự quyết/tự cường.

25-09-2010
Bogger Đinh Tấn Lực

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét