Thứ Năm, 2 tháng 9, 2010

Bắc Hành

Ngự Thuyết
Kỳ 4 (Tiếp theo và hết)
Tôi lớn tuổi hơn T. nhiều. Hồi ấy tôi đã biết biết đôi chút, có lần được đi đò dọc về làng ngoại Vân Cù nằm ven sông Bồ. Rồi lại tản cư cũng đi đò dọc về phía phá Tam Giang, ra Quảng Trị. Vào thời gian ấy đường sá giao thông ít và xấu, vận tải khó khăn, thủy lộ là phương tiện tốt nhất trên đó đò ngang, đò dọc chuyển động bằng mái chèo chạy ngược xuôi nườm nượp. Kỷ niệm thời thơ ấu khó phai, nó làm chất men cho tưởng tượng và mơ mộng.

Con đò dọc không có buồm, trông gọn gàng hơn các loại ghe chài, hay ghe buôn, mui khum tròn làm thành mái vòm cong để che mưa nắng, chiếm trọn phần giữa của chiếc đò, chừa phần mũi và phần lái lộ thiên. Người lớn vô ra cái mui đò ấy phải cúi mình xuống để khỏi đụng đầu. Tôi con nít chả lo, chạy vô ra thoải mái. Ở phần lái, mái chèo dài và to bản được buộc vào cây cọc ngắn bằng những nuộc dây mây dẻo dai thắt thành hình số 8. Chèo lâu, nuộc dây nóng lên, thì lấy nước rưới vào. Trong mui có mấy khoang, có ngăn lửng, nhỏ làm bàn thờ tổ tiên, ngăn cho hành khách đẹp nhất, có lót chiếu, có gối kê đầu để ngả lưng khi cần, ngăn cho chủ đò thì “lùi xùi” nhưng chứa đủ “mọi thứ trên đời”, mẹ tôi nói thế. Phần sau lái có chuồng heo, lò bếp. Không có cầu tiêu. Gà được nhốt trong bội tre đan, gà trống sáng trưa chiều đều gáy ò o-o-o ò-ò nghe thật gần, muốn điếc cái lỗ tai, gà mái mỗi ngày mỗi cục tát đẻ trứng, còn con chó vàng ốm tong teo không bị nhốt chạy lăng quăng thỉnh thoảng ngó vô bờ sông ngứa miệng sủa khống. Nó tài lắm, có thể chạy trên lườn đò bên ngoài mui từ lái tới mũi vì nó không được phép chạy xuyên qua các khoang. Lè kè phía ngoài mạn đò ngang với dòng nước là mấy cái chẹp bằng tre dùng để bắt tôm, bắt cá, và cái oai đựng cá.

“Con mèo mô ôn?”

“Không có mèo.”

“Răng không nuôi mèo hả ôn?”

“Mèo sợ nước. Mà nuôi cũng xui.”

“Rứa có chuột thì răng?”

“Sức mấy. Thò ra con mô thộp con nấy.”

“Rứa răng lại nuôi chó?”

“Chó hên. Mà thằng cu có làm xấu thì chó đã chực sẵn dọn sạch bách liền liền, khỏi mất công lau khu, rửa đít.”


Chú bé làm chi cho hết ngày trên chiếc đò dọc ấy? Trước hết đứng trước mũi đò mê mẩn nhìn dòng nước tràn trề bị con đò rẽ sóng chạy phăng phăng tới, nước bắn lên làm ướt cả mặt mày tay chân đầu cổ, bố phải rầy la hắn mới chịu lùi xa mạn đò nhìn trời nhìn đất. Thế nhưng mỗi lần tới khúc quanh của dòng sông, hắn dòm chừng bố, thấy bố không chau mày, hắn lại chồm ra nhìn con nước xoáy tròn, lục bình trôi quanh như không bao giờ trôi ra khỏi những vũng xoáy. Rồi xóm làng, ruộng đồng, bờ bãi hai bên sông thay nhau dàn trải ra trước mắt. Và những hòn cù lao nữa chứ. Hắn nhận ra rằng cây cối lưa thưa trên các cù lao sao trông lẻ loi và buồn quá thế. Những thứ đó in đậm vào ký ức, đậm đến nỗi khi lớn lên, đọc câu Kiều “Cát vàng cồn nọ, bụi hồng dặm kia”, hay câu thơ Huy Cận na ná “Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng” bỗng có cảm tưởng rằng mình vừa được gặp lại một góc của tuổi thơ.

Rồi nào là chùa chiền, am miếu, đình làng, tất cả đều quay mặt lại nhìn con đò đang trôi trên con sông dài, và tre thì đu đưa mãi trong gió, cau thì nhón mình vươn cao lên đứng thẳng sau những mái tranh, dừa thì chồm ra mặt nước như muốn tìm kiếm cái gì, còn chuối, những cây chuối mẹ, lại lè kè mang nặng những cái buồng to, dài, như đàn bà có chửa, nặng quá có khi phải nhờ trụ chống. Qua mấy khúc sông thỉnh thoảng nghe vang dậy tiếng đập chiếu thùm thụp trên mặt nước, qua những bến đá ngó người ta giặt áo quần, vo gạo, rửa rau, làm cá, ngó những thằng bé con như mình mà đã đầu đội nón lá, tay cầm cần câu. Có khi đò chạy lòn dưới những chiếc rớ to lớn hơn cả mái nhà giăng trên cao cách mặt nước hàng chục thước. Mẹ đứng cạnh nói người ta phơi lưới đó con. Chưa tới bữa mà bụng thấy đói đã có bánh thuẫn, bánh tráng, bánh ú, khoai nướng hay hột mít lùi tro. Thỉnh thoảng nghe văng vẳng tiếng hò xa trên sông nước, ai mà dài hơi dữ rứa, nghe tiếng được tiếng tiếng mất, ơi ới, hò hơ, chẳng hiểu gì. Đò đi qua không biết bao nhiêu làng xóm, không tài nào nhớ hết tên, chỉ nhớ “mạy mạy” năm ba tên do được nghe lóm bố nói chuyện với chủ đò, mà lại nhớ trật, Kế Môn tưởng là Kỳ Môn, Đại Lộc thì nhớ là Đại Lược, Đồng Xuyên mà cứ tưởng Đồng Xiêng, Mỹ Xá thành ra Mệ Xá. Thế nhưng từ đó về sau mỗi khi thoáng nghe cái gì liên quan đến những chuyến đò dọc, đến tên những xóm làng ven sông, ven phá, ven biển của những vùng quê ấy, trái tim cũng đánh mạnh thêm đôi chút.

T. lại giảm bớt tốc độ quay người nói:
“Mình đã qua khỏi các làng Hội Yên, Kim Giao, Diên Khánh, Xuân Viên. Anh có thấy mùi lúa không? Thơm ghê.”

Miền Bình Trị Thiên, chỉ Quảng Bình có những cánh đồng rộng lớn. Câu phương ngôn ngày xưa, “Thứ nhất Đồng Nai, thứ nhì hai Huyện”, đó là hai huyện Lệ Thủy, Bố Trạch thuộc tỉnh Quảng Bình nổi tiếng về sản xuất lúa gạo. Riêng Huế và Quảng Trị đất hẹp lại nhiều độn cát, truông, phá, đồi, núi, nhưng vẫn có nhiều cánh đồng xanh ngát vào mùa này. T. nói đúng, lúa đang con gái thơm lừng theo từng cơn gió đến. Đến Thanh Hương thuộc địa phận Huế, chúng tôi qua sông Ô Lâu, tới Vân Trình và chạy hướng về Chí Long.

Chí Long, một trong những ngôi làng chúng tôi phải đến. Chí Long, quê hương của danh tướng Nguyễn Tri Phương!

Nguyễn Tri Phương tài kiêm văn võ, một đại thần Triều Nguyễn dưới ba triều Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức. Lúc còn trẻ Ngài đã từng tham gia nội các thời vua Minh Mạng cùng với Hà Quyền, Hoàng Quỳnh cứu xét vụ án Lê Văn Duyệt. Năm Thiệu Trị thứ 5 (1845), Ngài cùng với Doãn Uẩn đem quân đuổi đánh quân Xiêm và Chân Lạp lấy lại thành Nam Vang. Năm Tự Đức thứ 11 (1858) quân Pháp đánh phá Đà Nẵng nhằm mở đường chiếm kinh đô Huế, Ngài vào lập đồn Liên Trì, đắp lũy dài từ Hải Châu đến Phúc Ninh chia quân chống giữ. Pháp liệu chưa đánh được nên kéo vào Nam đánh Gia Định. Nguyễn Tri Phương, Phạm Thế Hiển lại vào Nam cùng với Tôn Thất Hiệp đắp dãy đồn Kỳ Hòa (Pháp gọi là Chi Hoa, nay là Chí Hòa) kháng cự. Trước khi đi Nam (1860), Ngài để lại kế sách và tâu với vua Tự Đức rằng “đánh nhau với Pháp bây giờ khó lắm, khó gấp năm gấp bảy trước kia, nhưng cũng phải cố sức đền ơn nước, còn mặt Quảng Nam có việc gì thì các ông Phan Thanh Giản, Nguyễn Bá Nghi có thể cáng đáng được”. Đồn lũy xây dựng có quy củ, vững vàng, nhờ thế quân ta đã có thể cầm chân quân Pháp.

Pháp lại tấn công đồn Kỳ Hòa năm 1861, hai bên đánh nhau dữ dội. Bên ta Ngài bị thương, em Ngài là Nguyễn Duy tử trận, quan Tham Tán Đại Thần Phạm Thế Hiển bị thương nặng, rút về đến Biên Hòa được mấy hôm thì mất, quân sĩ chết nhiều. Bên Pháp chết hơn 300, thiếu tướng Pháp Vassoigne và đại tá I Pha Nho (Tây Ban Nha) bị thương. Tôn Thất Hiệp kéo binh về Biên Hòa cố thủ. Thừa thắng, quân Pháp tiến đánh Biên Hòa, Tôn Thất Hiệp chống không lại. Ta mất luôn Biên Hòa rồi Định Tường, triều đình phải cử ông Phan Thanh Giản vào Gia Định xin giảng hòa. Không những thế, sau đó vua Tự Đức còn sai Phan Thanh Giản đi Pháp xin chuộc lại mấy tỉnh đã mất. Chuyến đi kéo dài hơn nửa năm. Pháp không chịu cho chuộc, triều đình sai Phan Thanh Giản vào Nam giữ ba tỉnh miền tây, Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên. Năm Tự Đức thứ 20 (1867), Pháp vi phạm hòa ước, lại tấn công ba tỉnh miền Tây còn lại, quân ta thế cùng lực tận chống không nổi, Tổng Đốc Phan Thanh Giản cho mở cửa thành Vĩnh Long đầu hàng để cho quân dân bớt đổ máu, rồi uống thuốc độc tự tử.

Trong lúc miền Nam bị mất về tay quân Pháp, giặc giã lại nổi lên như rươi ở miền Bắc. Thế giặc rất mạnh, triều đình đã phải sai quan quân đi tiễu trừ hết nơi này đến nơi khác, thiệt hại nặng nề. Một số vị chỉ huy tử trận hoặc bị vây khổn phải nhảy xuống bể tự tận. Trong những bọn giặc ấy, có đám cầm đầu bởi Tạ Văn Phụng khởi loạn từ năm 1861, cho người vào Nam cầu viện với thiếu tướng Pháp Bonard hứa hễ lấy được Bắc Kỳ thì xin giao cho nước Pháp bảo hộ. Năm 1863 triều đình cử Nguyễn Tri Phương ra Bắc dẹp được giặc Tạ Văn Phụng, đồng thời dẹp yên luôn những đám giặc khác vào cuối năm 1865. Sau đó nhà vua lại triệu Ngài về kinh đô lo việc triều chính. Thế nhưng miền Bắc có những đám giặc khác nổi lên, quan quân đi đánh dẹp mãi không yên. Cho nên vào năm 1872, triều đình lại cử Ngài ra Bắc thay Vua xem xét tình hình và điều binh khiển tướng lo việc trấn giữ và đánh dẹp những đám giặc ấy.

Quan hệ giữa ta với Pháp ngày càng gay go. Pháp tìm mọi lý do để chiếm thêm đất. Cướp xong miền Nam, Pháp tính chuyện đem quân tấn công miền Bắc. Với vũ khí thô sơ, lạc hậu mà đã phải chống cự với quân Pháp khi thì quyết liệt, khi thì dằng co, kể từ lúc Pháp nổ súng vào cảng Đà Nẵng năm 1856 cho đến năm 1873, thế là được hơn 17 năm. Bên ta càng ngày càng kiệt quệ về mọi mặt. Dân chúng hoang mang, hoảng hốt, con số quan quân hy sinh vì nước đã quá lớn.

Danh tướng Nguyễn Tri Phương, đã phục vụ ba triều vua Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức, đã gần 40 năm cầm quân đánh giặc hàng trăm trận, lúc thì qua Chân Lạp đánh quân Xiêm, khi thì quay về Trung rồi vào Nam chống Pháp, rồi lại ra Bắc dẹp bọn phản loạn. Nơi nào có biến, nơi ấy có Nguyễn Tri Phương. Cuối năm 1873, quân Pháp đánh thẳng vào thành Hà Nội. Lão tướng Nguyễn Tri Phương bấy giờ đã tuổi già sức yếu, lại phải cùng con là Phò Mã Nguyễn Lâm lên thành Hà Nội giữ cửa Đông và cửa Nam. Thành vỡ, giặc Pháp tràn vào, Nguyễn Lâm bị trúng đạn tử trận, Ngài bị thương nặng, bị bắt, từ chối chữa trị và tuyệt thực cho đến chết. Thế là trong gia đình của Ngài, người em ruột là Nguyễn Duy tử trận hồi 1861 khi chống Pháp tại đồn Kỳ Hòa, nay con trai là Nguyễn Lâm, và chính bản thân của Ngài đều lấy cái chết báo đền nợ nước. Sử gia Trần Trọng Kim khi bàn về Nguyễn Tri Phương đã viết: “Thật là một nhà trung liệt xưa nay ít có vậy.” Ngay cả kẻ thù của Ngài là quân Pháp cũng tỏ lòng kính phục vị anh hùng dân tộc Việt Nam. Hiện nay tại một bảo tàng viện của Pháp tại Paris có trưng bày một chiến bào của Ngài.

Chẳng bao lâu sau đó triều đình Huế sai các ông Lê Tuấn, Nguyễn Văn Tường ra Bắc điều đình với Pháp xin trả lại thành Hà Nội và một số tỉnh miền Trung Châu Bắc Việt. Pháp đồng ý ký hòa ước Năm Giáp Tuất, tức năm Tự Đức thứ 27(1874). Mấy năm sau Pháp lại kiếm cớ đem quân ra Bắc lần thứ hai đánh thành Hà Nội. Lại một gương trung liệt khác, Tổng Đốc Hoàng Diệu, người Quảng Nam, chống cự không nổi, thắt cổ tự tận.

Cuối cùng, vào mùa hạ năm 1883, thiếu tướng Courbet và toàn quyền Harmand đem tàu đánh vào đánh cửa Thuận An, Huế. Lại những anh hùng vì nước bỏ mình. Chống cự được 4 ngày, từ 15 đến 18 tháng 7, thành Trấn Hải vỡ, hai quan trấn giữ thành là Lê Sĩ và Lê Chuẩn bị trúng đạn chết, các quan khác như Lâm Hoành, Trần Thúc Nhẫn nhảy xuống sông tự tử. Viết đến đây tôi không thể không nghĩ đến những tướng lãnh và quân, dân, cán, chính đã tuẫn tiết khi Miền Nam sụp đổ ngày 30 tháng 4 năm 1975. Nhưng đó là chuyện về sau.

Đọc lại nhiều lần trang sử đầy máu và nước mắt ấy, lần nào tôi cũng không thể nén được xúc động. Tôi thử tìm một khuôn mặt bi hùng có thể so sánh với Nguyễn Tri Phương, trong sử ta, sử Tàu, sử Pháp. Khó tìm thấy. Khổng Minh Gia Cát Lượng của nước Tàu chăng? Khổng Minh ngày xưa đã suốt 27 năm phò Lưu Bị để khôi phục nhà Hán, cuối cùng kiệt lực mà chết giữa trận tiền khiến quan quân phải bỏ dở cuộc chinh phạt, phát tang đưa linh cữu chủ tướng về Thành Đô. Sau đó người con trai của ông cũng cầm quân chống giặc và tử trận khi kinh đô đất Thục thất thủ. Sử gia Trung Quốc cho rằng cuộc đời của Khổng Minh là một tấn bi kịch lớn. Dân Tàu, và cả dân ta, thương tiếc một Khổng Minh suốt đời cung cúc tận tụy cho một dòng họ trong một cuộc nội chiến kéo dài, đặc biệt dân miền Tứ Xuyên, đất Thục ngày xưa, cho đến nay vẫn còn nhiều người quấn khăn trắng trên đầu giữ tục lệ để tang Khổng Minh dù ông đã chết hơn một ngàn năm về trước. Tấn bi hùng kịch của Nguyễn Tri Phương xả thân vì nước chống ngoại xâm lâu dài hơn, lẫm liệt hơn, bi đát hơn. Nhưng Ngài đã được Tổ Quốc Ghi Ơn như thế nào? Rồi đầu óc lan man, tôi lại liên tưởng đến một cây cổ thụ vùng Waterloo nước Bỉ, nơi gần 200 năm trước tướng người Anh là Wellington đứng dưới tàng cây ấy chỉ huy trận đánh sống mái chống lại Napoléon. Anh đại thắng. Một người Anh mua cây cổ thụ ấy mang về nước. Tôi thì nay làm gì khi nhớ Ngài? Chỉ biết đứng lặng người trước nhà thờ tưởng niệm Ngài và hai vị Trung Thần kia ở làng Chí Long.

Chí Long, một ngôi làng gần phá Tam Giang ít được người dân mình quan tâm đến. Các bô lão còn nhớ nơi thờ Ngài ngày xưa có trồng nhiều cây mưng. Đó là loại cây mọc trong rừng cạnh những dòng suối, không lớn lắm, dáng dấp cân đối, đẹp đẽ, to cỡ cây khế, cây ổi. Xin mở dấu ngoặt, các “đại gia” vùng Bình Trị Thiên bây giờ thường cho “gia nhân” vào rừng bứng nguyên một số cây đẹp mang về nhà trồng trước sân, trước ngõ làm cây kiểng trang hoàng, trong đó có cây mưng. Hoặc nếu mua, thì mỗi cây trị giá trên 20 triệu đồng Việt Nam tuỳ lớn nhỏ. Tôi nhớ lá mưng non, màu nâu nhạt, ăn thơm thơm, chát chát, chua chua, nó sống trên rừng lại tương tư cá mòi dưới biển để rồi kết duyên đằm thắm,“Mắm mòi đòi rau mưng/ Rau mưng ưng mắm mòi”. Các bô lão già hơn kể rằng dù Ngài ít khi có mặt tại quê nhà vì mải bôn ba đánh nam dẹp bắc, hay có về cũng bận dự chầu nơi kinh khuyết, thế nhưng tiếng vó ký vẫn ngày đêm liên tục khi thì rầm rộ như giông bão, khi thì gõ lóc cóc, lộp cộp, vang khắp xóm làng.

Làng Chí Long có bốn thôn, người miền ấy gọi là bốn Phường: phường Đợi (Đại Phú), phường Trong (Trung Thạnh) nơi có Trung Hiếu Từ thờ ba vị Trung Thần, phường Chiếng (Chính An), và phường Mỵ (Mỹ Phú). Cách gọi ở miền quê là thế, có những tiếng được nói trệch ra do kiêng cử hay vì lý do nào khác, chẳng hạn khá gọi là khớ, anh thành yên, buổi mai thành buổi mơi, củ hành thành củ hờng, đi học thành đi hược, mặc áo thành mược áo, uống nước thành uống nác, Đại Lộc gọi là Đại Lược, Bao Vinh gọi là Bà Vang v.v... Hình như Huế cũng do chữ Hóa trong địa danh Thuận Hóa mà ra.

Ít được quan tâm nhưng Chí Long là một trong những vùng đất sản xuất nhân tài của miền Bình Trị Thiên mà người ta gọi là “địa linh sinh nhân kiệt”. Kẻ viết bài này chưa có dịp tìm hiểu thêm về danh nhân vùng ấy, tuy thế, qua những quan hệ thông thường với bạn bè cùng lứa, cùng lớp, cũng được biết đấy cũng là quê quán của Trà Mi, Diệm Mi, những người đẹp nổi tiếng một thời ở Huế; của Túy Hồng, nhà văn nữ nổi danh từ trước 1975, nay vẫn còn cầm bút; của nhà văn Nguyễn Trung Hối, cùng với những tiểu thuyết, tiểu luận của ông mà tôi rất trân quý, từng là chủ nhiệm, chủ bút tạp chí văn học Chủ Đề đầy tham vọng làm mới ngôn ngữ, xuất bản tại Sài Gòn trước1975, và hai lần tục bản tại Hoa Kỳ.

Rời Chí Long, thay vì theo ngã Phò Trạch họăc Sịa chạy về Huế gần hơn, chúng tôi quay lại hướng sông Ô Lâu, qua cầu (xưa là đò ngang), quẹo phải về phương Nam qua các làng Kế Môn, Đại Lược, Thế Chí Đông, Thế Chí Tây. Những ngôi làng này nằm trên rẻo đất hẹp bên ngoài phá Tam Giang như một bán đảo nhỏ, không xa Chí Long mấy, thế có nghĩa là tính từ bắc vào nam, bên phải của rẻo đất là phá Tam Giang, bên trái là biển Đông. Qua làng Thế Chí tôi lại nhớ mấy vị thầy cũ thời trung học, thầy Cao Hữu Hoành thông kim bác cổ dạy Pháp văn, Hán văn, Việt văn, thầy Cao Hữu Triêm dạy Sử Địa. Lại nhớ người bạn học cùng lứa, Cao Huy Thuần, hiện dạy môn Luật ở Paris, Pháp. Giòng họ Cao hay chữ này gốc làng Thế Chí.

Trời xế chiều, nắng chiếu nghiêng đã phai, chúng tôi ghé quán bên đường ăn cháo lươn có nhiều tiêu hành, uống nước trà đậm, rồi tiếp tục xuôi nam chạy về phía bến đò Ca Cút. Hồi còn bé tôi đã được nghe nói đến bến đò Ca Cút. Bến đò ấy xa lắm - tuổi nhỏ cái gì nghe cũng xa xôi, cũng huyền bí - ít có khách sang sông, nên chỉ một con đò nhỏ tí teo chở được vài ba người nằm chờ tại một bên bờ gần cuối phá, để đưa khách qua lại, bên này bờ là về phía kinh đô Huế, bên kia bờ là rẻo đất hẹp như đã nói. Khách đến bến đò, nếu hên thì gặp đò đợi sẵn, bằng không thì đứng bên này bờ gọi đò đậu bên kia bờ. “Ráng cổ lên mà gọi” kẻo gió lộng ngoài phá thổi tiếng gọi đò bay bạt đi hết. Người nào cẩn thận mang theo cái mõ gõ thật mạnh tay cho đò nghe. Nhưng tại sao lại gọi là bến đò Ca Cút? Đó là tên một loài chim được đặt nhại theo tiếng kêu của nó, chim ca cút. Tại bến đò ấy ngày xưa có nhiều chim ca cút, khi thấy khách bộ hành tới, sẽ gọi đò giùm từng chuỗi bốn tiếng: bơ đò ca cút/tóc dài tóc cụt/ tre già măng moọc (mọc)...

Nay không còn bến đò. Một chiếc cầu đã bắc ngang, gần hoàn thành, nối hai bờ, gọi là cầu Ca Cút. Cũng như chiếc cầu ngoài cửa Việt, cầu Ca Cút khá dài, đã tạm cho xe hai bánh chạy qua. Khi xong, xe hơi cỡ lớn đều sử dụng được. Qua khỏi cầu, thay vì quẹo phải một đoạn không xa là tới Bao Vinh, chúng tôi chạy thẳng về phía gần cửa Thuận An. Rồi chúng tôi quay qua cầu Thảo Long. Thảo Long trước kia là cái đập dùng để chận nước biển khỏi tràn vào đồng ruộng, nay đã được tu sửa để bên trên làm mặt cầu cho khách bộ hành và nhiều loại xe dùng, kể cả xe vận tải, bên dưới là đập ngăn nước như cũ. Qua khỏi cầu, chạy khoảng năm cây số hướng về chợ Nọ, huyện Phú Vang, rồi qua cầu chợ Nọ, quẹo phải chạy cũng khoảng năm cây số chúng tôi tới Huế. Đèn đêm đã bật sáng.

Thử tưởng tượng ngày xưa thực hiện một chuyến bắc hành như thế tất phải mất hơn một tuần lễ. Nay giao thông tiện lợi, đời sống được cơ giới hóa, nhịp sống nhanh quá đến hấp tấp, chúng tôi đi chỉ mất hai ngày. Được mặt này, mất mặt khác, tôi thấy mình như một hòn đá lăn nhanh, rêu có bám vào nhưng chẳng được là bao. Cũng chỉ là một lối cưỡi ngựa xem hoa! Tôi mong được trở lại đó để sống nhiều hơn, nhiều hơn nữa, man mác trong cỏ cây mây nước.

*


Hơn 7 giờ chiều trời vẫn còn nắng. Tôi đứng trên mô đất cao ấy, bóng tôi đổ dài lên gần một nửa sân cù (golf) dưới kia. Thật ra sân cù này vốn là một đoạn của lòng sông Santa Ana. Vào mùa mưa thường rất ngắn, chỉ vài tuần lễ trong một năm, nó là một khúc sông nước chảy mạnh vì lòng sông nghiêng đúc bê tông giữa dòng. Còn những thời gian khác, nó biến thành sân cù được săn sóc cẩn thận, mặt đất phẳng phiu, cỏ cắt sát xanh mướt, có hàng rào bằng dây thép rất cao để chắn những quả cù bay lạc. Sau lưng tôi, kế tiếp con đường cao trải đá dăm, viền cỏ xanh dành cho người đi bộ, xe đạp, và ngựa, là khu gia cư của người Mễ. Tiếng trẻ con reo đùa trong tiếng nhạc ngắn lặp đi lặp lại phát ra từ một chiếc xe bán nước ngọt và kem. Trước mặt tôi, xa xa bên kia sân cù, những ngôi nhà hai tầng, ba tầng, ngói nâu, tường trắng, khang trang, đẹp đẽ, ẩn hiện sau những hàng cây rậm rạp. Có tiếng chó sủa ồm ồm, ấm áp, tiếng sủa của chó berger Đức, từ bên xa ấy vọng lại khi một chiếc xe hơi màu đỏ quẹo vào một chiếc cổng sắt đang từ từ mở. Đồng thời văng vẳng tiếng nói chuyện rì rầm của những người đi bộ tập thể dục gần tôi. Tôi quay nhìn. Ba bốn người đi bộ mỉm cười chào tôi, “Hi”, và tôi cũng chào lại, như cái máy. Chúng tôi chưa hề quen biết nhau.

Tôi nghĩ rằng, không hiểu sao tôi lại nghĩ như thế, trong chiếc xe màu đỏ bên kia sân cù là một cặp vợ chồng son làm cùng sở vừa về đến nhà, chồng Mỹ, vợ gốc Nhật, họ sắp sửa phụ nhau làm một bữa ăn tối gồm có bánh mì nâu, thịt bi-tết, khoai tây chiên, xúp, xà lách và một chai rượu chát đỏ. Họ ngồi ở bàn ăn vừa ăn vừa xem TV ở phòng bên cạnh với màn ảnh chiếm nửa bức tường. Rồi họ sẽ làm gì nhỉ, tôi tưởng tượng tiếp... bỗng tiếng chim kêu lảnh lót từ một chòm cổ thụ gần chỗ tôi đứng khiến tôi quay nhìn xem thử đó có phải là giống chim cà cưỡng như ở quê tôi không. Cành lá rậm rạp, tôi không thấy được con chim dù tiếng hót của nó vẫn tiếp tục vang lừng. Năm bảy con chim nhỏ khác, chim gi, chim sẻ, chim sáo từ đâu bay về và đậu lẫn trong chòm cây.

Vâng, chiều rồi, chim quay về tổ. Nhưng người ta thì chưa, còn muốn níu lại một chút vui. Bên một mô đất nghiêng thoai thoải, một phụ nữ hai tay mang găng trắng cầm cây gậy cúi mình ướm ướm, nhứ nhứ một quả cù màu trắng nằm trên cỏ xanh, dáng người thon thả, đôi chân dài chụm lại. Tôi chăm chú nhìn, không trông rõ mặt, nhưng tôi đoán là đẹp. Người đàn ông ngồi trên chiếc xe chơi golf bốn bánh nhỏ, mui vải bạt, có lẽ là chồng của phụ nữ ấy, nhìn tôi rồi vẫy tay. Ý chừng anh ta muốn nói anh cũng nhận ra vợ tôi đẹp hả. Tôi vẫy tay đáp lại. Người phụ nữ uốn cong người lấy đà đã quất mạnh banh nghe bốp một tiếng. Trái cù bay xa trên không trung, người phụ nữ đứng yên như tượng, đầu ngẩng nhìn theo một chốc, xong lên xe ngồi cạnh người đàn ông. Anh ta vẫy tay với tôi lần chót rồi lái xe chạy theo hướng trái banh.

Tại một góc sân khác, một cặp vợ chồng già đùa giỡn với một con chó mập núc ních. Họ thay phiên nhau ném cái đĩa nhựa bay là là trên mặt cỏ để con chó chạy theo dùng mỏ bắt lấy trước khi cái đĩa chạm đất. Con chó trông mệt lắm rồi, lưỡi thè lè ra, không muốn chạy nữa, nhưng chủ nhân của nó ép nó tiếp tục trò chơi ấy. Tôi bỗng hiểu ra. Họ muốn con chó tập thể dục cho đủ số giờ đã định cho nó bớt cân, giảm cholesterol xấu. Có lẽ nó bị bệnh phì nộn.

Một buổi chiều quê trên đất Mỹ! Tôi nghĩ đến những chiều quê nơi quê cũ của tôi, lòng không khỏi bùi ngùi. Không, nước Mỹ không còn có nhà quê nữa, các thành phố, các thị trấn lan rộng ra mãi xua đuổi những miền quê đi nơi khác để bắt tay lấy nhau, tiếp giáp nhau. Và nếp sống cơ giới, đô thị, ngăn nắp, đẹp đẽ dần dần xóa nhòa miền quê cũ. Quê cũ của đất nước này. Thế có xóa nhoà dần quê cũ của tôi hay không? Ở đây tôi chỉ là một kẻ đứng trông, một kẻ có khi nhớ quê, không biết đi đâu, đến dòng sông cạn này nhìn buổi chiều xuống, nhìn cảnh trí chung quanh thoạt tiên hoàn toàn khác lạ, rồi quen mắt dần. Chiều tối rồi, chim bay về tổ, tiếng hót ríu rít cũng dần dần thưa rồi tắt hẳn. Nhìn lại cái bóng dài của mình in trên sân cỏ, không còn nữa. Sân cù dưới kia lấy lại dáng dấp của một dòng sông đêm, nước đen sâu thao thức[1], tôi thấy rõ trong trí tôi như thế. Có khác gì con sông chảy ra Cửa Việt trong chuyến bắc hành của tôi hay không? Tôi đi vội về căn nhà nhỏ trong chung cư có mấy người đồng hương hiếm khi chuyện trò với nhau, có vài gia đình Mỹ nhã nhặn nhưng ít nói, có nhiều người Mễ, Nam Mỹ thường mở nhạc ra nghe thật lớn, và ăn barbecue vào những chiều tối cuối tuần.

5/2010


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét