Thứ Tư, 22 tháng 9, 2010

Đại hội 11 đi về đâu và phục vụ ai?

Nhân dịp trước Hội nghị Trung ương 13 Đặt thẳng vấn đề với ông Nguyễn Phú Trọng:
Cương lĩnh Chính trị 2011 sẽ như thế ?


* Kéo dài „thời kì quá độ“ là tiếp tục đêm dài của bạo lực và đàn áp !
* Giành độc quyền cho Doanh nghiệp nhà nước là khuyến khích tham nhũng lên ngôi vua !
* Nguy cơ mất nước vì tâm lí tự ti và thái độ hèn nhát cúi đầu cầu vinh của nhóm lãnh đạo !
* Mọi tệ trạng văn hóa-xã hội và vấn nạn mất nước có thủ phạm là nhóm lãnh đạo vô đức, bất tài đang núp dưới bóng đảng độc tài !

Âu Dương Thệ

Kỳ 4 - (Tiếp theo)

Chủ nghĩa cuồng tín cộng với đảng trị đẻ ra các quái thai trong văn hóa và pháp luật: hận thù, bạo lực, lai căng, đạo đức giả, tham nhũng và quyền-tiền ngồi trỗm trệ trên pháp luật

Trong phần về văn hóa và pháp luật ông Trọng đã nói tới những đóng góp to lớn của ý thức hệ Marx-Lenin và công lao của đảng trong việc phát triển văn hóa này vào VN trong gần 60 năm qua và từ đó ông đi đến kết luận được coi là hướng đi của văn hóa trong giai đoạn tới thể hiện trong Cương lĩnh Chính trị 2011: „Để văn hóa thực sự là nền tảng tinh thần của xã hội phải làm cho chủ nghĩa Mác-Lê-nin …giữ vai trò chủ đạo trong đời sống tinh thần xã hội.“

Nếu hiểu văn hóa là các phương thức sinh hoạt của một xã hội trong các lãnh vực chính trị, kinh tế, pháp luật, giáo dục, tôn giáo…; là cách xử thế giữa người với người, giữa giới cầm quyền với công dân –trong đó vai trò của người cầm quyền rất quan trọng, nó là cái gương cho toàn xã hội nhất là những nước chưa đạt tới mức phát triển cao- thì gần 60 năm qua chế độ toàn trị đã dựng lên một loại văn hóa ở VN có một số đặc điểm: 1.Đây là một nền văn hóa độc thoại và ra lệnh chứ không phải là văn hóa đối thoại và thảo luận bình đẳng giữa người với người và giữa các tổ chức, kể cả với chính quyền. Trong đó kẻ có quyền ra lệnh còn nhân dân chỉ biết nhận lệnh. 2. Đây là một nền văn hóa đề cao hận thù, bạo lực, nghi kị và chia rẽ thay cho bao dung, hòa bình và tin cậy lẫn nhau. 3. Đây là một nền văn hóa ngoại lai, lai căng, đã được nhập khẩu không có cân nhắc chọn lựa, chứ không phải là nền văn hóa biết gìn giữ và phát triển các tinh hoa của dân tộc VN và biết hấp thụ các trào lưu văn hóa, khoa học tiến bộ và nhân bản của thời đại . 4. Ý thức hệ Marx -Lenin, những phương pháp bạo ngược của Stalin và Mao đề cao bạo lực và khủng bố trong việc cai trị đối với nhân dân hoàn toàn xa lạ với các truyền thống đạo đức và các tôn giáo chính ở VN… 5. Riêng tại VN từ hơn 20 năm nay với việc du nhập Kinh tế thị trường định hướng Xã hội Chủ nghĩa dưới sự chỉ huy độc đoán của Đảng Cộng sản còn phát sinh văn hóa phong bì, quan lớn ăn lớn quan nhỏ ăn nhỏ… 6. Đây là một nền văn hóa đã bị thực tế phủ nhận, đã bị nhiều dân tộc từng là xuất xứ của nền văn hóa này nay đã dứt khoát loại bỏ vì nó phi nhân, phản động và độc tài.
Nền tảng văn hóa VN từng được coi là văn minh, nhân bản có sức tự canh tân, biết đoàn kết nội lực và đánh bại các xâm lấn từ bên ngoài. Nhờ thế VN đã tồn tại và phát triển suốt mấy ngàn năm, trong nhiều thời kì đã trở thành một cường quốc độc lập và phú cường trong khu vực. Nhưng hệ tư tưởng độc tôn cộng với một đảng độc quyền và nhất là sự độc quyền kéo dài gần 60 năm qua đang tiêu hủy và phá hoại các tinh hoa của nền văn hóa này.
Chủ nghĩa „xin-cho“, một đặc tính căn bản của chế độ độc tài toàn trị, đang ngự trị trong tư duy, hành động và thái độ cư xử giữa kẻ có quyền thế và người dân thấp cổ bé miệng trong nhiều lãnh vực. Trong việc tuyển chọn nhân tài cũng như trong việc kiếm sống hàng ngày, kẻ “cho“ đã lợi dụng quyền lực tỏ thái độ hống hách và thiên vị để chỉ đưa các đảng viên thuộc vây cánh và thân nhân giữ các chức vụ quan trọng hay các nơi hái ra tiền. Các người „xin“ chỉ còn biết vâng dạ và nịnh hót! Trong giáo dục, chủ nghĩa „xin-cho“ nẩy sinh tác phong chạy trường, chạy lớp, chạy điểm và bằng giả ngồi ghế cao đang được coi là những chuyện bình thường trong xã hội Xã hội Chủ nghĩa. Việc này không chỉ thanh thiếu niên VN đang là nạn nhân mà cả các đại sứ nước ngoài đều biết và mới đây họ đã lên tiếng công khai cảnh báo nhóm lãnh đạo! Trong cuộc sống hàng ngày, từ thời áp dụng Kinh tế thị trường định hướng Xã hội Chủ nghĩa, chủ nghĩa „xin-cho“ đã đẻ ra tác phong „phong bì“, kẻ có quyền tìm cách moi tiền ăn bẩn bằng mọi cách, kẻ có tiền dùng tiền mua quyền. Quyền-tiền đang đánh bạt đạo đức, phá tan các kỉ cương của xã hội và đạp lên luật pháp! Do đó tham nhũng và cửa quyền càng trở nên bất trị, vì chế độ độc tài toàn trị lại chính là mụ đỡ vừa khuyến khích vừa bao che cho những kẻ có quyền và có tiền!

Với những đặc tính như vậy cho nên, nếu cố giữ lấy chế độ độc đảng để tiếp tục thực hành nền văn hóa đã được các bạo chúa khai sinh như Lenin, Stalin, Mao Trạch Đông và đã được một số người cầm đầu Cộng sản Việt Nam thiển cận và ngu muội du nhập vào VN thì hiển nhiên là đang chống lại hướng đi của loài người, chống lại trào lưu của thời đại và đặc biệt chống lại những khát vọng chính đáng của nhân dân VN.

Thật là mỉa mai, chính những người phá hoại nền Văn minh Dựng nước-Giữ nước-Thăng long và Văn hóa Bao dung Đoàn kết Diên Hồng của dân tộc Việt lại đang tự vỗ ngực đứng ra tổ chức Đại lễ 1000 năm Thăng long!

Những tàn bạo khốc hại của văn hóa Marx-Lenin-Stalin-Mao đã bị đại đa số các dân tộc trên thế giới kết án nghiêm khắc, ngay chính nhiều nước từng tôn thờ nó nay cũng đã đứng lên rũ bỏ, chọn một văn hóa khác có tính nhân bản cao để hồi sinh nước mình. Nhưng tại sao Nguyễn Phú Trọng trong bài “Sự phát triển nhận thức của Ðảng ta từ Cương lĩnh năm 1991 đến nay” lại vẫn lú lẫm khăng khăng tiếp tục đòi „chủ nghĩa Mác-Lê-nin... giữ vai trò chủ đạo trong đời sống tinh thần“ để ghi trong Cương lĩnh Chính trị 2011? Như vậy chủ trương duy trì văn hóa này không chỉ thoái hóa, đi thụt lùi, chống lại trào lưu văn minh của thời đại và còn cản trở lối ra và hướng đi lên của cả dân tộc ! Đây là một chủ chương cực kì nguy hiểm và phi nhân !

Trong đối ngoại tại sao Cương lĩnh Chính trị 2011 không dám nêu đích danh kẻ thù nguy hiểm trực tiếp hiện nay của dân tộc?

Suốt cả hai trang dài nói về mục tiêu, chủ trương và chính sách đối ngoại trong giai đoạn hiện nay và sắp tới, nhưng Nguyễn Phú Trọng chỉ nói rất chung chung về một lãnh vực rất quan trọng để giữ nước, phát triển nước trong thời kì toàn cầu hóa. Không có một một đoạn nào hay từ nào ông Trọng nêu đích danh kẻ thù bên ngoài hiện nay của VN là kẻ thù trực tiếp và nguy hiểm đang hiển hiện trước mắt. Việc hệ trọng này ai cũng biết, kể cả giới học sinh, nhưng Tiến sĩ Nguyễn Phú Trọng lại không biết, hay giả vờ không biết, không dám nói động đến tên. Chính thái độ khúm núm sợ sệt đến mức độ ươn hèn này của người cầm trịch quyền lực đã khiến đẻ ra các ngôn ngữ „kẻ lạ“, „tầu lạ“ trong báo chí của chế độ, mỗi khi nói tới những chủ trương và hành động thôn tính hải đảo, tài nguyên hay đàn áp bạo ngược ngư dân VN của chế độ bành trướng Bắc kinh trong thời gian qua.

Ông Trọng cũng đã không dám nhìn thẳng vào sự thực để nói rõ các nguyên nhân đích thực nào đang đưa VN phải đương đầu với vấn nạn đối ngoại cấp bách và nguy hiểm hiện nay để tránh một sự tái diễn cho tương lai. Đó chính là thái độ khiếp nhược cúi đầu trước Bắc kinh có cội nguồn không phải vì sức mạnh đang lên của Trung quốc, mà chính là vì tâm lí tự ti nhược tiểu và những tính toán vị kỉ, thiển cận của nhóm cầm quyền từ cuối thập kỉ 80 của thế kỉ trước. Từ đó đã dẫn tới từ sai lầm chiến lược này đến sai lầm chiến lược khác, kết quả là đang rơi vào thế bị động, lúng túng cùng cực. Chính vì thế suốt hai thập niên vừa qua Bắc kinh đã được đằng chân lân đằng đầu, với sự cúi đầu chấp nhận của Hà nội, từ lấn chiếm đất liền, đơn phương hợp pháp hóa các hải đảo của VN, nay còn công khai dùng áp lực quân sự và sức ép kinh tế đòi kiểm soát ¾ biển Đông, đồng thời mở rộng bòn rút tài nguyên trên đất liền và trên biển.

Nhiều quốc gia trong khu vực dân số ít hơn và diện tích nhỏ hơn VN, nhưng vẫn giữ được quan hệ bình đẳng, độc lập với Bắc kinh, vì giới cầm quyền biết dựa vào dân, dân tin lãnh đạo, và chính quyền các nước này theo đuổi sách lược đối ngoại khôn ngoan biết liên minh và dùng sức mạnh của thời đại ngăn chặn và chế ngự những áp lực và tham vọng bá quyền của Bắc kinh.

Giới cầm đầu Cộng sản Việt Nam từ cuối thập niên 80 của thế kỉ trước đặt ưu tiên bảo vệ chế độ độc tài, bảo vệ cái ghế của nhóm cầm quyền cao hơn độc lập dân tộc và danh dự tổ quốc, nên đã thực hiện tiêu chí „Đảng Cộng sản Trung quốc trụ được thì Đảng Cộng sản Việt Nam cũng trụ được“,, nếu Đảng Cộng sản Trung quốc tiếp tục độc quyền thì Đảng Cộng sản Việt Nam cũng làm được. Chủ trương thần phục Bắc kinh đã được khai trương từ 1990 khi những người cầm đầu chế độ lúc đó đứng đầu là Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh, Thủ tướng Đỗ Mười cùng cựu Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã luồn lủi bí mật tới Thành Đô (Trung quốc) cúi đầu thần phục phương Bắc, mở đầu kỉ nguyên lệ thuộc ý thức hệ, đường lối đối ngoại, lệ thuộc kinh tế và thương mại. Những người được họ đặt vào kế vị như Lê Khả Phiêu và Nông Đức Mạnh đã tiếp nối cúi đầu cầu an và còn đi xa hơn với việc kí kết các Hiệp định biên giới trên đất liền, Hiệp định về đánh cá, Hiệp định tuần tra chung trên biển Đông….Hiện nay còn để Bắc kinh khai thác Bauxit ở Tây nguyên bất kể tới sự cảnh báo của đại thần cuối cùng còn sống của chế độ, Đại tướng Võ Nguyên Giáp, và nhiều lão thành cách mạng cùng các chuyên viên; đồng thời Bắc kinh còn được khai thác các rừng ở đầu nguồn giáp giới với Trung quốc và các khu vực có vị trí chiến lược.

Tâm lí tự ti và chọn mục tiêu ưu tiên bảo vệ quyền lợi của nhóm cầm quyền trên quyền lợi độc lập của đất nước đã làm cho những người cầm đầu Cộng sản Việt Nam hiện nay không dám lấy những quyết định độc lập, không dám chủ động chọn một chiến lược đối ngoại khôn ngoan và thích hợp, hiện nay sự lệ thuộc đã rơi tơi mức tồi tệ đến nỗi không dám nói thẳng, nói đúng kết án các hành động bá quyền của Bắc kinh!

Sai lầm chiến lược về đối ngoại đã đi thêm một bước nữa khi Nguyễn Phú Trọng làm Chủ tịch Hội đồng Lí luận Trung ương vào đầu thập niên thứ nhất của thế kỉ này. Chính ông Trọng đã là người chủ động cột chặt thêm một mức nữa ràng buộc Đảng Cộng sản Việt Nam vào Bắc kinh trong nhiều lãnh vực. Chính ông Trọng đã là người sáng lập, về phía Đảng Cộng sản Việt Nam, các cuộc Hội thảo Lí luận giữa hai Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng Cộng sản Trung quốc và đã cầm đầu phái đoàn Cộng sản Việt Nam thảo luận với Đảng Cộng sản Trung quốc về nhiều vấn đề quan trọng nhằm mục tiêu liên kết các hoạt động của hai bên từ tư tưởng, đối ngoại, kinh tế, quốc phòng tới văn hóa. Vì thế hiện nay hai đảng đã thỏa thuận „hợp tác chiến lược toàn diện“ Sự hợp tác này dựa trên căn bản bất bình đẳng hoàn toàn có lợi cho Trung quốc và bất lợi cho VN. Việc này thể hiện rất rõ ràng trong quan hệ thương mại giữa hai nước. Trong những năm gần đây kim ngạch buôn bán với Trung quốc rất bất lợi cho VN. Mỗi năm VN nợ Trung quốc cả trên chục tỉ Mĩ kim và cứ năm này cao hơn năm trước, thành thử Bắc kinh đang trở thành chủ nợ lớn của Hà nội.

Vai trò trọc phú chủ nợ của Bắc kinh đã khiến họ tỏ thái độ „chủ-tớ“ đối với nhóm cầm đầu Cộng sản Việt Nam hiện nay thể hiện ra cả trong cách tiếp đón lẫn ngôn ngữ của họ. Khi Nguyễn Tấn Dũng lần đầu tiên thăm chính thức Trung quốc trong tư cách là Thủ tướng, tại cuộc hội kiến ngày 22.10.08 Hồ Cầm Đào, Tổng bí thư Đảng Cộng sản Trung quốc và Chủ tịch nước Trung quốc, đã nói rất trịch thượng theo lối dạy bảo với ông Dũng:
„Hai nước Trung – Việt phải nắm vững phương hướng đúng đắn phát triển quan hệ hai nước, tăng thêm sự tin cậy chiến lược, tăng cường hợp tác toàn diện, thúc đẩy quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện phát triển vừa tốt vừa nhanh. „

Còn về vấn đề biển Đông ông Đào ra lệnh:
„Chủ tịch Hồ Cẩm Đào còn chỉ rõ, hai nước nên nhìn nhận đúng đắn và xử lý ổn thoả vấn đề biển Nam Hải, cố gắng tìm kiếm con đường và hình thức tăng cường hợp tác trên biển Nam Hải, khiến biển Nam Hải trở thành biển hoà bình, hợp tác, hữu nghị.“
Trong khi đó Nguyễn Tấn Dũng chỉ ấp úng, khúm núm vâng dạ:
„Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng khẳng định Đảng, Chính phủ và nhân dân Việt Nam trước sau như một luôn hết sức coi trọng, chân thành mong muốn tăng cường quan hệ hữu nghị với Trung quốc và sẽ làm hết sức mình để vun đắp cho quan hệ giữa hai Đảng, hai nước ngày càng phát triển vững chắc.“

Thái độ khúm núm nhận chỉ thị của Bắc kinh cũng thể hiện cả trong người đứng đầu Bộ quốc phòng VN vào các dịp gần đây. Khi Phùng Quang Thanh cầm đầu phái đoàn quân sự cao cấp VN thăm Trung quốc, Hồ Cẩm Đào không tiếp mà chỉ để Phó Chủ tịch Nước Trung quốc và Ủy viên Thường vụ Bộ Chính trị Cộng sản Trung quốc Tập Cận Bình tiếp tại Đại Lễ đường Nhân dân ở Bắc kinh ngày 22.4. Trong dịp đó Phùng Quang Thanh đã rất khúm núm mất tự trọng và đánh mất lập trường bảo vệ độc lập của VN:
“Bất kể tình hình quốc tế và khu vực biến đổi ra sao, Việt Nam đều sẽ tiếp tục kiên trì chính sách hữu nghị với Trung Quốc, sẵn sàng cùng Trung Quốc không ngừng sâu sắc hợp tác hữu nghị trong các lĩnh vực.”

Mới đây quan điểm khác biệt giữa Bộ quốc phòng và Bộ ngoại giao đã trở thành công khai về lập trường đối với Bắc kinh. Đầu tháng 6 vừa qua giữa lúc Thứ trưởng Ngoại giao VN họp ở Hà nội với Trợ lí Bộ ngoại giao Mĩ về “Đối thoại chiến lược về chính trị-an ninh-quốc phòng Việt Nam-Hoa Kỳ lần thứ ba”, trong đó có bàn cả việc Trung quốc đòi làm chủ ¾ biển Đông và đe dọa an ninh khu vực và thế giới thì Phùng Quang Thanh đã tuyên bố ngay tại hành lang Quốc hội: “ Chúng ta cũng phải chú ý không để cho các nước khác kích động vấn đề này." Không những thế người cầm đầu Bộ quốc phòng VN còn bênh vực Bắc kinh:
"Không để các lực lượng xấu sử dụng vấn đề Biển Đông để kích động, chia rẽ quan hệ Việt Nam-Trung Quốc, chia rẽ quan hệ giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân chúng ta."

Thậm chí Phùng Quang Thanh còn tuyên bố trước báo chí:
„Tình hình trên biển Đông là yên tĩnh, hoạt động của quân đội chúng ta hết sức bình thường, không có gì trở ngại cả.“

Người thân cận của Phùng quang Thanh, Thứ trưởng Quốc phòng Nguyễn Chí Vịnh, còn đi xa hơn nữa khi tuyên bố tại Bắc kinh vào cuối tháng 8:
„Là hai nước láng giềng thân thiện, Việt Nam vui mừng về sự phát triển của Trung Quốc, đặc biệt là phát triển quân sự của họ, không đặt ra một mối đe dọa cho các nước khác cũng không gây nguy hiểm cho hòa bình và ổn định trong khu vực".

Người ta sẽ không ngạc nhiên về những lời trên của Bộ trưởng và Thứ trưởng quốc phòng chế độ độc tài toàn trị, vì ngay chính Nguyễn Phú Trọng –người đang có quyền lực mạnh- cũng đang tìm đủ mọi cách làm ngơ và che đỡ cho chính sách bành trướng của Bắc kinh. Trong phiên họp 33 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội vào cuối tháng 8 do chính ông Trọng chủ tọa, ông đã ngăn cản các ý kiến đòi Quốc hội đưa vấn đề tình hình an ninh biển Đông ngày càng căng thẳng ra thảo luận tại kì họp Quốc hội vào cuối năm nay. Giữa khi Bắc kinh đang cho thao diễn quân sự bắn đạn thật trên biển Đông, ngăn cấm và bắt giữ ngư dân VN hành nghề trên biển Đông và còn cho cả tầu ngầm cắm cờ Trung quốc dưới lòng biển Đông, nhưng Nguyễn Phú Trọng trong buổi họp bế mạc của Ủy ban này đã bác bỏ đòi hỏi khẩn trương này và lại còn nhắm mắt tuyên bố ngang ngược là “không có gì mới” trong an ninh ở biển Đông !

Từ Chủ tịch Quốc hội tới lãnh đạo Bộ quốc phòng đều nhắm mắt phủ nhận việc Bắc kinh mở rộng các căn cứ hải quân và tăng cường tuần tra của hải quân Trung quốc ở biển Đông, nhắm mắt không thấy việc hàng trăm ngư dân VN trong các năm qua bị hải quân Trung quốc săn đuổi giết hại, làm bị thương và tịch thu tầu đánh cá, trong khi đó các lực lượng hải quân và bộ đội biên phòng VN tránh mặt không dám bảo vệ ngư dân mình. Giữa lúc những người cầm đầu chế độ độc tài toàn trị ở Hà nội ca ngợi bang giao Việt-Trung và phủ nhận những hoạt động quân sự gia tăng của Bắc kinh ở biển Đông thì tiếng nói của Bộ ngoại giao chỉ trích Bắc kinh còn có thể nào làm cho các nước thân hữu và các cường quốc chia sẻ và tin cậy được, làm sao họ có thể ủng hộ VN chống lại áp lực của Trung quốc! Đúng là cảnh ông nói gà bà nói vịt!

Rõ ràng những tuyên bố trên của Nguyễn Phú Trọng, Nguyễn Tấn Dũng, Phùng Quang Thanh và Nguyễn Chí Vịnh đã vi phạm vào tội danh phản bội tổ quốc theo Bộ Hình luật của chế độ! Nhưng tại sao những người này vẫn còn ngồi chỗm trệ? Trong khi đó các trí thức, chuyên viên, sinh viên học sinh phản đối hành động xâm lược của Bắc kinh thì bị kết tội chống phá cách mạng !

Hiện nay những người thân tín của Bắc kinh đang nắm giữ các chức vụ then chốt trong chế độ độc tài toàn trị ở VN. Điều này giải thích tại sao ông Trọng đã không dám nêu rõ trong Cương lĩnh Chính trị 2011 đối thủ nguy hiểm bên ngoài trước mắt của VN là nước nào. Từ đó có thể tiên liệu là, chừng nào những phần tử chỉ biết cúi đầu với bên ngoài để mong được „leo cao, ngồi lâu“ tại Đại hội 11 sắp tới thì những „kẻ lạ“ sẽ còn tỏ ra trịch thượng hơn và càng ngang ngược hơn trong việc thực hiện ý đồ bành trướng hải đảo và bòn rút tài nguyên của VN !

(Còn tiếp)

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét