Thứ Sáu, 20 tháng 8, 2010

VẤN ĐỀ CHÍNH CỦA VIỆT NAM HIỆN NAY: LÀM SAO KHỎI Bị TÀU THÔN TÍNH?

Để đương đầu với nguy cơ đó, phải thực hiện
Hoà Giải Tập Hợp Dân Tộc Và Sửa đổi Văn hóa

Tôn Thất Thiện

(Tiếp theo)
II

Trong bài trước (Diễn Đàn Thế Kỷ số ra mắt, 1 tháng 7, 2010), tôi có nói:

“Cuộc tranh chấp giữa Việt Nam và Trung Quốc hiện nay có hai khía cạnh, một khía cạnh nổi và một khía cạnh chìm. Khía cạnh nổi là tranh chấp về lãnh thổ và hải phận. Nó là một vấn đề thời sự, dễ nhận chân và đối phó. Khía cạnh chìm là khả năng tự tồn và phát triển của Việt Nam trong dài hạn trong viễn ảnh bị áp lực lệ thuộc hoá không ngừng từ Trung Quốc. Vấn đề này là một vấn đề khó nhận chân, dài hạn, và phức tạp, khó đối phó. Nó liên quan đến vấn đề Việt Nam cần phát triển thế nào để thành một quốc gia hiện đại hoá, thích hợp với văn minh thời đại, giàu mạnh, dân chủ, có đủ sức tự vệ, độc lập về mọi mặt, đặc biệt là về văn hoá. Nó đòi hỏi một sự xét lại sâu rộng, hoàn toàn vô tư, lâm thời đưa đến sự nhận ra được những giá trị tiêu chuẩn và những tín hiệu tụ hội cần thiết, hay có hại, cho việc hiện đại hoá. Nó là vấn đề Sửa đổi Văn hoá,….”


1. Lệ thuộc văn hoá Trung Quốc

Sửa đổi văn hoá ít được đề cập đến vì vấn đề này không gây xúc động mạnh trong dư luận như những vấn đề quân sự và chính trị. Phần khác, sự lệ thuộc nặng nề của Việt Nam đối với Trung Hoa về văn hoá cũng ít được để ý vì trong gần 200 năm nay nó bị nhu cầu giải quyết các vấn đề cấp bách liên hệ với cuộc tranh đấu dành lại độc lập, chủ quyền quốc gia và thống nhất lãnh thổ Việt Nam làm cho nó lu mờ đi. Nhưng ngày nay, chiến tranh đã chấm dứt, vấn đề độc lập thống nhất đã giải quyết, vấn đề lớn trước mắt là vấn đề phát triển, mà văn hoá, và đặc biệt là sửa đổi văn hoá, lại là một vấn đề liên hệ mật thiết đến phát triển. Đồng thời, những hành vi xâm lăng trắng trợn của các giới lãnh đạo Trung Quốc đối với Việt Nam làm nổi bật nguy cơ cho Việt Nam từ Trung Quốc và sự cần phát triển gấp để đối phó với nguy cơ này. Hai vấn đề này có liên hệ mật thiết với nhau.

Nhìn ngược dòng lích sử, ta thấy Việt Nam là kết quả của một cuộc tranh đấu gắt gao và trường kỳ của Dân Tộc Nam Việt để thoát khỏi ách đô hộ của Trung Quốc. Cuộc đô hộ này đã kéo dài 1000 năm cho đến đời Tiền Lê. Ảnh hưởng của sự đô hộ dài dẳng này rất sâu đậm về phương diện văn hoá không những trong thời gian đó, mà cả trong mấy thế kỷ sau. Nó vẫn còn, ngay cả sau năm 1885, khi Trung Quốc bị Pháp ép ký hiệp định Thiên Tân từ nhượng quyền can thiệp vào Việt Nam, sau khi hệ thống giáo dục thi cử dùng Hán văn bị bãi bỏ vào năm 1918, và ngay cả ngày nay, qua những kêu gọi “bảo tồn văn hoá Việt Nam”, “duy trì những giá trị cổ truyền”, “bảo vệ thuần phong mỹ tục”, ngăn chận xâm nhập của “văn hoá đồi trụy” ngoại lai (nghĩa là của Tây Phương).

Sự lệ thuộc về văn hóa của Việt Nam đối với Trung Quốc đa dạng, rất chặt chẽ và sâu đậm. Nhưng nó lại là một sự lệ thuộc tự nguyện. Dân Tộc Việt Nam không những không có mặc cảm bị ép buộc du nhập những giá trị của Trung Quốc, mà lại chính mình hăng say thâu nhận và hấp thụ những giá trị đó -- tư tưởng, tập quán, đạo lý, phương thức tổ chức xã hội chính trị...

Sự kiện trên đây cũng dễ hiểu. Ở một thời mà thế giới của người Á Đông chỉ gồm có Trung Quốc to lớn với một nền văn minh rực rỡ, đứng giữa một số nước nhỏ và văn minh thua kém như Việt Nam, thì Trung Quốc đương nhiên được coi như là quốc gia đàn anh, trung tâm của vũ trụ -- Trung Quốc --, vô địch về mọi mặt, và là mô hình để bắt chước. Phần khác, hấp thụ văn minh Trung Quốc giúp cho Việt Nam có điều kiện tự xây dựng một quốc gia có quy củ, có văn hiến, có đủ sức không những để tự tồn, mà còn trở nên một quốc gia hùng cường trong vùng Đông Nam Á.

Qua thời gian, tình trạng trên đây tạo ra một tâm lý tự ty, coi phiên thuộc đối với Trung Quốc là một điều đương nhiên. Về nội bộ thì tuy các giá trị như “tôn ty trật tự” và “tam cương ngũ thường”, trọng sỹ khinh thương, hướng về quá khứ v.v... của Khổng Giáo đã mang lại cho xã hội Việt Nam một tình trạng ổn định, nhưng cũng nhồi vào đầu não người Việt một tâm lý tùng phục kẻ cầm quyền, chỉ nhìn sự vật dưới khía cạnh đạo lý, lơ là về những vấn đề vật lý, tạo ra một tình trạng yếu kém, làm cho Việt Nam không có sức mạnh để tự vệ khi bị sự uy hiếp của các quốc gia Tây Phương hùng mạnh, vì, khác với các nước Tây Phương, Việt Nam không phải là sản phẩm của một nền văn minh dựa trên khoa học kỹ thuật.

2. Khổng, Pháp, Cọng

Trong một tình trạng như trên, nền văn hoá mà Việt Nam đã hấp thụ của Trung Quốc không còn thích hợp nữa. Nhưng, rủi thay, vua, quan, sỹ phu thời Tự Đức, và hai, ba thế hệ sau đó, đã không nhận ra được sự thật này, và vẫn cố bám vào một mô hình văn hoá đã lỗi thời. Đây là một mối rủi ro lớn. Dân Tộc Việt Nam mất đi một cơ hội hiện đại hoá, và không có khả năng tránh sự đô hộ của Pháp.

Sự đô hộ của Pháp có những khía cạnh xấu, nhưng, cũng như mọi sự, nó cũng có những khía cạnh tốt. Là người bị đô hộ, người Việt dĩ nhiên thường chú ý vào những khía cạnh xấu, và bỏ qua những khía cạnh tốt đi, tuy rằng thái độ đó không có lợi cho chính mình.

Khuôn khổ bài này không cho phép bàn chi tiết về những tích cực tiêu cực của thời bảo hộ Pháp. Ở đây chỉ cần ghi hai điểm. Nó mâu tuẫn nhau, nhưng đều có hại cho Việt Nam.

Về phần Việt Nam, các sỹ phu chủ trương từ chối, gạt bỏ tất cả những gì người Pháp làm vì nó là “của Tây”, và Tây là “rợ”… Thái độ này được coi là một thái độ “ái quốc”, “cách mạng” vì “chống Tây”, được dân chúng kính phục. Họ không coi sự tiếp xúc với văn minh Pháp là một cơ hội để thức tỉnh, và xét lại tận gốc những khuyết điểm của văn hoá Việt Nam và tìm cho Việt Nam một con đường mới để có thể tiến lên. Vấn đề này có thể thâu tóm trong một từ ghép: “Tây Phương Hoá”. Từ thông dụng ngày nay là “Hiện Đại Hoá”. Vấn đề được phân tách rất đầy đủ trong tác phẩm i>Chính Đề Việt Nam (xin xem Chú Giải ở cuối bài). Có thể nói là chủ trương này vẫn được một số người Việt chống đối đến ngày nay, với những kêu gọi “bảo tồn văn hoá Việt Nam”, “duy trì những giá trị cổ truyền”….

Về phía Pháp, họ đã tạo cho Việt Nam một cơ hội lớn để thoát khỏi lệ thuộc văn hoá Trung Quốc, và mở đường cho Việt Nam tiếp xúc với văn minh Tây phương, nhưng đồng thời họ lại khuyến khích người Việt duy trì chế độ văn hoá “cổ truyền”, nghĩa là Khổng Giáo. Nhưng chế độ “Khổng Giáo” này lại là một thứ Khổng Giáo hủ hoá và mất hết uy tín.

Khổng Giáo trị vì được gần 2000 năm một cách êm thấm, được vua, quan cho đến người thường dân chấp nhận vì nó là một thứ Khổng Giáo chính cống, trong đó mọi người làm đúng phận sự của mình: Vua ra vua: lo cho dân, -- quan ra quan: trọng liêm sĩ --, và tuy nó đòi hỏi tôn ti trật tự, nó không phải là một hệ thống xã hội “đóng”, mà là một hệ thống xã hội “mở”, trong đó công bằng được thực sự tôn trọng -- ai cũng có quyền học, thi, và thi đỗ được làm quan cả… Nhưng chế độ Khổng Giáo thời bảo hộ Pháp chỉ là một con sò có vỏ không có ruột: vua không còn là vua nữa, nên quan cũng không ra quan, và dân cũng không ra dân nữa: họ mất kính trọng và tin tưởng, không còn gắn bó với chế độ nữa. Những người đã lên án Khổng Giáo nặng nề và chủ trương dẹp bỏ hết nó đi đã không thấy rằng thứ Khổng Giáo mà họ lên án và đòi dẹp bỏ hết đi là Khổng Giáo thời bảo hộ Pháp, không phải Khổng Giáo chính cống. Có sự ngộ nhận này vì không những nó đã không bị dẹp bỏ đi, mà lại được tái sinh và phát triển mạnh dưới chế độ cọng sản, với một danh xưng mới -- chủ nghĩa Mác-Lê. Còn chế độ cọng sản thì được coi như là một chế độ “Khổng Giáo cải tiến lớn”.

Cọng sản đã thành công dễ dàng một phần lớn vì nó đã được thứ Khổng Giáo hủ hoá của bảo hộ Pháp dọn đường cho nó. Và nó đã phát huy những nết tật xấu xa nhứt của chế độ này để cai trị dân dưới danh nghĩa “cách mạng”. Như mọi người đã biết, chế độ cọng sản là một thứ chế độ Khổng Giáo còn tồi tệ hơn Khổng Giáo thời bảo hộ Pháp. Và cùng với thứ Khổng Giáo thuộc bảo hộ Pháp này, những chính sách độc hại của thực dân Pháp, và những giáo điều phản đạo đức của chủ nghĩa Lê-nin được ghép chung lại nhau và đẩy xã hội Việt Nam vào tình trạng băng hoại, sa lầy, hầu như không lối thoát ngày nay. Tệ hơn hết, nó đã làm cho xã hội phân rẽ, nát bấy, vô đạo, và chính quyền bị dân mất hết tin tưởng và bị cô lập, không có khả năng bảo vệ lãnh thổ chủ quyền trước nguy cơ xâm lăng của Trung Quốc. Hơn nữa, do sự lựa chọn con đường cọng sản, ông Hồ và Đảng Cọng Sản Việt Nam đưa Việt Nam vào quỹ đạo của Đệ Tam Quốc Tế, với kỹ luật sắt của nó, và đặt Việt Nam vào thế lệ thuộc Liên Xô, và sau khi Liên Xô tan rã, vào thế lệ thuộc Trung Quốc. Trong tình trạng này, sự lệ thuộc Trung Quốc lại là một sự lệ thuộc tự nguyện, êm thấm. Trung Quốc không cần phải dùng vũ lực xâm lăng Việt Nam. Họ chỉ cần chỉ thị cho lãnh đạo ĐCSVN làm theo ý họ….!!! Thôn tính bằng ý thức hệ -- nghĩa là văn hoá --xâm lấn thay vì xâm lăng. Và vì ĐCSVN khăng khăng cố bám vào ý thức hệ - nghĩa là văn hoá - cọng sản nên Dân Tộc Việt Nam lại bị đẩy trở lại vào tình trạng lệ thuộc Trung Quốc!!! [Điều này được phân tách rất tường tận trong Chính Đề Việt Nam. Xin xem phần Chú Giải, ở cuối bài].

3. Giá trị tiêu chuẩn

Như đã nói rõ trong bài trước, muốn ra khỏi tình trạng bị Trung Quốc xâm lấn và thôn tính ngày nay, phải thực hiện Hoà Giải Tập Hợp Dân Tộc. Nhưng Hoà Giải và Tập Hợp Dân Tộc đòi hỏi phải có một sự đồng thuận lớn trong cọng đồng quốc gia Việt Nam về những giá trị tiêu chuẩn làm mẫu số chung cho cọng đồng. Giá trị tiêu chuẩn là những giá trị dùng làm tiêu chuẩn để phán xét, lựa chọn, về người và việc, trong đời sống hằng ngày. Nó là cốt lõi của vấn đề sửa đổi văn hoá.

Để biết cần phải đồng thuận về những gì phải xét trong quá khứ Dân Tộc Việt Nam đã bị phân ly thế nào, về những gì, trong ba giai đọạn của lịch sử Việt Nam: giai đoạn trước Triều Tự Đức, giai đoạn Pháp bảo hộ, và giai đoạn cọng sản trị vì. Đây là một vấn đề rất lớn, không thể bàn hết trong vài trang báo được. Nhưng chúng ta có thể tóm gọn những gì mà người Việt thuộc đủ mọi giới, mọi thành phần, mọi tổ chức, mọi xu hướng, ngoài và trong nước, cần ráng thực hiện để có thể để tạo một tình trạng cho phép thực hiện một Tập Hợp Dân Tộc có đủ điều kiện để đối phó với vần đề chính của Việt Nam: phát triển để tồn tại và tiến.

Việc cần làm trước tiên là trong những giá trị đã được hấp thụ -- do ép buộc hay tự nguyện -- nhận ra những gì xấu và có hại cho sự tiến của Dân Tộc, cần bỏ đi; những gì còn thích hợp với hiện đại, khả thi, nên giữ lại; những gì hư hỏng cần loại bỏ hay sửa đổi; và những gì mới, tốt, nên thâu nhận. Kế đến là vận động phổ biến những điều đó, làm cho dân biết, và chấp nhận. Đây là một công việc đòi hỏi phải có người lãnh đạo có tài lẫn đức lớn, có uy tín, được dân tin tưởng, thấu triệt các vấn đề, có khả năng tổ chức và điều khiển một tổ chức lớn. Tổ chức này có nhiệm trách nghĩ ra những tín hiệu thích hợp và hiệu nghiệm trong viêc tụ hội quần chúng và thuyết phục họ chấp nhận những giá trị tiêu chuẩn mới.

Công việc trên đây là một công việc to tát, chỉ có vĩ nhân mới làm được. Nhưng ví dụ rằng vấn đề lãnh đạo và tổ chức được giải quyết ổn thỏa, vấn đề then chốt vẫn là đưa ra một mô hình phát triển có thể tạo được sự đồng thuận rộng rãi trong nhân dân.

Vấn đề đã được tranh luận nhiều trong 35 năm qua trong các giới Việt Nam ở ngoại quốc. Gần đây lại có một số đảng viên cọng sản tham dự vào cuộc tranh luận này. Các giải pháp đưa ra rất nhiều. Nhưng, chung quy, có một sự trùng hợp về những mục tiêu căn bản -- Tự Do, Nhân Quyền Dân Quyền, Dân Chủ Pháp Trị, v.v….— nên không cần bàn ở đây. Vấn đề lớn còn phải bàn là: làm sao thực hiện được những mục tiêu đó. Vấn đề này còn phải bàn, và bàn một cách nghêm túc, vì, cho đến nay, trong những giải pháp được đề nghị, chưa có giải pháp nào thu hút được một sự đồng thuận rộng rãi cả.

Một điều chắc chắn là nếu chúng ta không muốn chiến tranh, với chết chóc, phí phạm tài nguyên, sinh lực, và nhứt là thời giờ quý báu của xứ sở thì chỉ còn phương pháp không bạo lực. Không dùng súng đạn thì phải dùng lá phiếu, nghĩa là giải pháp phải có đa số chấp nhận. Như đã trình bày ở trên, lịch sử, qua ba giai đoạn -- trước 1883, bảo hộ Pháp, cọng sản – đã tạo cho người Việt một tâm lý – một lối tư tưởng và xử sự -- đặc biệt làm cho Việt Nam bị trì trệ, không lớn mạnh và phát triển được. Muốn tiến và mạnh phải điều chỉnh tình trạng tâm lý này, nghĩa là làm một sự sửa đổi văn hoá triệt để.

Cốt lõi của lối tư tưởng và xử sự nêu trên là người ta lấy tốt-xấu , chính-tà, để phán xét và lựa chọn. Đó là một lối phán xét và lựa chọn chủ quan, có tính cách phán quyết, không cần kiểm chứng hay suy luận chặt chẽ, dựa trên tình cảm hay ý kiến cá nhân, nên không thể đưa đến một sự đồng thuận được. Nó là biểu chứng của một sự tự ái, tự tôn, tư tín quá lớn, và cứ thấy muốn hạ giá người khác, tìm và nêu lên những khía cạnh xấu thay vì khía cạnh tốt của họ. Có thể nói là tính chủ quan và tự tôn quá lớn này là nết tật chính của người Việt, và lý do chính của sự thất bại của những cố gắng gây đoàn kết để thành lập tổ chức này hay tổ chức nọ trong các giới Việt Nam hải ngoại trong 35 năm nay. Phần khác, trên bình diện quốc gia, nết tật “Ta” đã tạo ra một tâm lý quốc gia quá khích. Sự suy tôn “Đảng Ta”, “Chúng Ta”, tạo ra một tinh thần tự đắc coi nhân nhượng là biểu hiệu của yếu hèn. Điều này là một chướng ngại lớn trong việc thực hiện sự Đồng Thuận cần thiết.

Một khiếm khuyết khác, có liên hệ mật thiết với khiếm khuyết nói trên, là về mặt tư tưởng, người Việt thiếu hai đức tính căn bản cần thiết cho công cuộc phát triển/hiện đại hoá.

Trong Chính Đề Việt Nam Tùng Phong dùng danh từ “Tây phương hoá” để nói rõ rằng Phát triển, vấn đề chính của Việt Nam, chung quy là một vấn đề Tây phương hoá (Pháp ngữ: occidentalisation; Anh ngữ: westernization). “Tây phương hoá” không có nghĩa là chỉ tiêu thụ hàng hoá và sống theo lối Tây phương, du nhập hay thâu nhận khoa học kỹ thuật của Tây phương, mà phải đi xa hơn nữa: đến mức sáng tạo, nắm được cái tinh túy của văn minhTây phương. (Về chi tiết, xin xem Chính Đề Việt Nam, ở phần Chú Giải).

Muốn đạt được mức tinh túy nói trên, phải tìm hiểu cái bí quyết đó nằm ở đâu. Theo Tùng Phong, nó nằm trong hai điều:
1/ về lý trí, chính xác trong suy luận,
2/ trong cuộc sống hàng ngày, ngăn nắp và minh bạch.

Người Việt thiếu hai đức tính trọng yếu này vì các văn hoá Khổng Giáo, bảo hộ Pháp, và Cọng sản đã triệt để không rèn luyện cho người Việt có những đức tính đó. Và sự khiếm khuyết này lại làm cho nết tật nói trên trầm trọng hơn.

Một vấn đề nữa cần được giải quyết ổn thoả để tạo được sự Đồng Thuận rộng rãi cần thiết cho Đoàn Kết Dân Tộc là vấn đề Thăng Bằng Xã Hội. Vấn đề này cũng ít được các gới “Quốc Gia” bàn đến vì họ sợ bị hiểu lầm là cũng chủ trương đấu tranh giai cấp như Cọng sản, với những khẩu hiệu “Công Bằng Xã Hội”, “San Bằng Giai Cấp”. Nhưng Việt Nam mang đặc tính của một nước chậm tiến và mất chủ quyền: xã hội Việt Nam có sự phân biệt nặng về giàu-nghèo, ưu thế-yếu thế, và người thường dân không được bảo vệ, săn sóc đúng mức. Tình trạng này đã được Cọng sản khai thác tối đa để lôi cuốn quần chúng với những khẩu hiệu tuyên truyền nêu trên, và gây chia rẽ trong xã hội.
Vấn đề Thăng Bằng Xã Hội được Tùng Phong phân tách rất rõ ràng, chi tiết trong Chính Đề Việt Nam. Trong công cuộc xây dựng một xã hội mới cần có “Thăng Bằng Động Tiến” để được sự chấp nhận và yểm trợ của đại đa số nhân dân, điều kiện căn bản của ổn định xã hội. Mà ổn định xã hội là điều kiện then chốt để thực hiện sự Tây Phương Hoá trong công cuộc Phát Triển, và sự Phát Triển này là điều kiện căn bản cho sự xây dựng một Việt Nam giàu mạnh, đủ sức đương đầu với ngoại xâm.

Thăng bằng ở đây là thăng bằng giữa những nhu cầu của cá nhân và của cọng đồng, và giữa những nhu cầu ngắn hạn và nhu cầu dài hạn của cọng đồng. Phần khác, vì hoàn cảnh thay đổi thường xuyên, nên những nhu cầu của cá nhân và của cọng đồng cũng thay đổi thường xuyên. Vì vậy thăng bằng phải là một thứ thăng bằng “động”. Cuối cùng, phải bảo đảm cho xã hội được tiến tới không ngừng. Cho nên thăng bằng phải là một loại thăng bằng “tiến”. Có được thăng bằng và duy trì được thăng bằng này mới bảo đảm được sự Đồng thuận cần thiết cho Hoà Giải và Tụ Hội Dân Tộc. (Về chi tiết, xin xem Chú Giải ở cuối bài).

4. Hỏi và đáp

Trên đây đã đề cập đến những điều chỉnh văn hoá cần thiết để bảo đảm cho sự tồn và tiến của Việt Nam. Nhưng đã nêu câu hỏi thì cũng cần đưa ra giải đáp. Những giải đáp đó như sau.

Về tư tưởng và xử sự, thay vì tốt-xấu, chính-tà, lấy thích hợp với hoàn cảnh và hiện đại, hiệu nghiệm rõ ràng, có lợi cho Dân Tộc, làm giá trị tiêu chuẩn. Về sinh hoạt lý trí, lấy suy luận chính xác, phù hợp với lô-gích và thực tại, làm giá trị tiêu chuẩn. Về đời sống hàng ngày, lấy ngăn nắp, minh bạch làm giá trị tiêu chuẩn. Về xã hội, lấy thăng bằng động tiến làm giá trị tiêu chuẩn.

Những điều trên đây là những ý kiến cá nhân. Tuy rằng nó là kết quả của rất nhiều năm học hỏi, suy nghiệm, nó vẫn chỉ là quan điểm của một cá nhân. Nó được đưa ra, không phải như phán quyết buộc người khác phải đương nhiên phải chấp nhận, mà như là gợi ý và cung cấp chất liệu cho nhiều người khác suy ngẫm thêm, để đóng góp vào sự giúp Dân Tộc tồn tại và phát triển trong những điều kiện tốt. Với hy vọng rằng sẽ có nhiều người cũng làm như vậy, nhất là trong thời gian mà hoàn cảnh quốc nội và quốc tế chưa cho phép thay đổi tình trạng hiện tại của Việt Nam. Nhưng một lúc nào đó, tình hình quốc tế, và nhứt là quốc nội, sẽ đổi thay, đặc biệt là nếu đa số, hay hơn nữa, đại đa số nhân dân Việt Nam đòi hỏi những giải pháp thích hợp hơn, buộc chính quyền, dù ngoan cố đến đâu, cũng phải nhượng bộ và chấp nhận thay đổi. Nhưng lúc đó phải có ngay giải pháp thay thế rõ ràng, khả thi, và được sự đồng thuận của quốc dân, thay vì bắt đầu vạch kế hoạch, và tới đâu hay đó.

Rất mong rằng có nhiều trí thức, lãnh đạo chính trị, xã hội, giáo dục, lãnh đạo tinh thần, sẽ lập ra một ban, hay một nhóm, nghiên cứu, ngồi lại và bàn luận với nhau về những vấn đề trên, và vạch ra và công bố một chương trình sửa đổi văn hoá thích hợp, khả thi, được sự đồng thuận của mọi thành viên, và có khả năng thu hút được sự chấp nhận của đại đa số người Việt ngoài nước lẫn trong nước, để giải thoát Việt Nam ra khỏi bế tắc hiện tại.


------------------------------------------

CHÚ GIẢI
về
Chính Đề Việt Nam



Tác phẩm này, 355 trang, bàn đặc biệt về vấn đề thế nào phát triển và thoát khỏi sự lệ thuộc Trung Quốc. Nó được xuất bản ở Sài Gòn năm 1964, được tái bản ở Hoa Kỳ năm 1988, và tái bản lần thứ hai cũng ở Hoa Kỳ năm 2009. Trong tác phẩm tái bản lần thứ nhất năm 1988, tác giả mang tên Tùng Phong, nhưng theo lời giải thích của Nhà Xuất Bản Hùng Vương, LA, thật ra nó là một công trình tập thể của “một nhóm chiến sĩ trong bộ phận nghiên cứu chính trị của Đệ Nhất Cọng Hoà”, mà trưởng nhóm tất nhiên là Ông Ngô Đình Nhu. “Lời trần tình” của ấn bản 2009 nói rõ: “Tập tài liệu mà các bạn có trong tay là kết tụ của những kinh nghiệm và phân tích dựa trên kinh nghiệm lịch sử của cố vấn Ngô Đình Nhu cùng một số phụ tá thân cận…”

Tác phẩm này được soạn thảo để làm tài liệu học tập dành cho cán bộ cao cấp của VNCH, nên không bán ra ngoài. Muốn có tác phẩm này, xin liên lạc với Ông Đỗ Như Điện, 405 Ranger Road, Fallbrook, CA. 92028-8482, E-Mail: donhudien@yahoo.com, ĐT: 858-337.7049

Tác phẩm được bàn đến chi tiết trong Đặc San 2009 của Hội Ái Hữu Người Việt Quốc Gia Hải Ngoại, với tít Chính Đề Việt Nam, Một Viên Ngọc Quý. Muốn có đặc san này , xin liên lạc với Ngo Dinh Diem Memorial, 9029, McFadden Avenue, Westminster, CA 92683, Đ.T: 714-277.9888, E-Mail: lephammai@msn.com

Tôn Thất Thiện

Viết cho Diễn Đàn Thế Kỷ
Ottawa - Tháng 8, 2010



Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét