Thứ Ba, 31 tháng 8, 2010

ĐỪNG LẶP LẠI KINH NGHIỆM CHIẾN TRANH VIỆT NAM (RICHARD NIXON – NO MORE VIETNAMS – NEW YORK: ARBOR HOUSE, 1985)

Nường Lý chuyển ngữ

Kỳ 2

Sự thất bại của Hoa Kỳ tại Việt Nam là một thảm họa cho Đông Dương. Nó còn là thảm họa lớn hơn nữa cho chính Hoa Kỳ và cho hàng triệu người trên toàn cầu mà nếu không có sự tiếp tay của Hoa Kỳ có thể mất hẳn các cơ hội có tự do và một đời sống tốt đẹp hơn.

Việt Nam là một chiến thắng cực kỳ quan trọng trong chiến lược của Nga Xô để giành phần kiểm soát các nước thuộc Thế giới thứ ba. Đó là chiến thắng quan trọng không chỉ vì nó cho Nga quyền thống trị Việt Nam, nhưng vì nó đã khiến Hoa Kỳ bị tật nguyền về tâm lý đến nỗi không thể tự bảo vệ quyền lợi của Mỹ tại các nước đang phát triển, trận địa chính trong xung đột Đông – Tây mà cách định nghĩa đúng nhất là Thế Chiến Thứ Ba.

Sự thất trận của chúng ta tại Việt Nam châm ngòi cho một loạt các chiến thắng của nhiều nền độc tài toàn trị khác trên thế giới khi Hoa Kỳ tự rút lui vào sự đầy ải trong năm năm. Hết khủng hoảng này đến khủng hoảng khác tại Phi Châu, Trung Đông, rồi Trung Mỹ, người ta phê bình sự tham dự của Hoa Kỳ vào các quốc gia bên ngoài với hàng chữ “Lại thêm một Việt Nam” như một hoài nghi, một chiêu thức hiệu nghiệm để dẹp tan mọi tranh luận trong bất cứ hoàn cảnh nào khi sự tham dự của Hoa Kỳ là một điều cần thiết. Trong khi chúng ta rửa tay và đau khổ vì các lỗi lầm của chính mình, trên 100 triệu người toàn cầu bị thua vào tay Nga Xô trong khoảng trống bỏ lại vì Hoa Kỳ rút ra khỏi sân khấu chính trị thế giới.

Chiến tranh Việt Nam đã làm thay đổi các tranh luận trong chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ một cách khủng khiếp. Sự sẵng sàng sử dụng thế lực để bảo vệ quyền lợi quốc gia là điều căn bản cần thiết cho một chính sách đối ngoại hữu hiệu, nhưng sự bất lực của chúng ta tại Việt Nam đã khiến nhiều người Mỹ đâm nghi ngờ sự khôn ngoan của chúng ta khi sử dụng sức mạnh. Gần đây nhất là vào mùa hè vừa qua, phóng viên của một đài truyền hình lớn đã kết luận khi nói về chiến tranh: “Chúng ta đang thắc mắc nếu cuộc chiến Việt Nam chính là một khúc quanh, khiến người Mỹ từ bỏ võ lực hay không muốn giải quyết vấn đề bằng phương tiện quân sự.” Nhiều người lãnh đạo của Hoa Kỳ đã co vòi trước sự sử dụng võ lực vì lo sợ sẽ tạo ra một thiên tai như chuyện Việt Nam. Đây chính là các khía cạnh mà sự thất trận tại Việt Nam bôi nhọ lý tưởng của Mỹ, làm yếu tinh thần, tật nguyền ý chí, và biến chúng ta thành một anh khổng lồ về quân sự nhưng lại là một thằng lùn về ngoại giao trong thế giới mà sự kiên quyết sử dụng tiềm lực Hoa Kỳ cần hơn bao giờ.

Nỗi lo sợ về “một trường hợp Việt Nam khác” là tai họa cho bạn chúng ta trên toàn thế giới vì nó góp phần làm sống dậy chủ nghĩa tự cô lập mà Hoa Kỳ hay vướng phải. Chủ trương cô lập hóa hậu Việt Nam đặc biệt lại là một khuynh hướng mạnh mẽ khủng khiếp tạo ra từ sự tổng hợp giữa cái sợ bị thất bại mới có và sự sùng tín vào chủ nghĩa quen thuộc này từ xưa đã khiến một số người Mỹ ngại ngùng không muốn hỗ trợ các nước bạn và đồng minh có hệ thống chính quyền yếu kém hơn chúng ta.

“Đừng lập lại chuyện Việt Nam” là một tiếng thét chiến lược của những kẻ chống đối sự sử dụng thế lực Hoa Kỳ trên trường thế giới, đặc biệt khi dưới hình thức viện trợ quân sự cho các chính quyền không được ưa thích trong các bài bình luận của giới chính trị sa lông. Nó cũng là toa thuốc đưa đến bệnh triệt thoái và thua trận của phương Tây.

Cho đến khi chúng ra rũ bỏ được mặc cảm Việt Nam, Hoa Kỳ sẽ tiếp tục đón nhận những thất bại khác trên trường quốc tế trong mọi điều do Hoa Kỳ đề xướng – tại Thế giới Thứ Ba, giữa các liên hệ Đông – Tây, ngay cả trong sự bang giao với những nước bạn của chúng ta. Sau những ly rượu champagne và nụ cười lễ độ, mọi nhà lãnh đạo và đại sứ mà chúng ta tiếp xúc tại Hoa Thịnh Đốn và hải ngoại thầm hỏi họ có thể thực sự tin vào Hoa Kỳ trong cơn khủng hoảng hay chúng ta sẽ ngưng hỗ trợ và cụp đuôi chạy dài lúc tình hình trở nên khó khăn. Họ cẩn thận nghiên cứu sự co dãn của các phe đối lập với cách điều hành lựu đạn của chúng ta (our small grenada operation) với các cơ quan truyền thông quan trọng và các nhóm trí thức có uy tín. Họ chóng mặt trước những khó khăn mà chính quyền Reagan gặp phải trong nỗ lực xin Quốc Hội chuẩn y các viện trợ quân sự và kinh tế cần thiết cho những nhóm đang chống sự tấn công của Cộng Sản tại Trung Mỹ. Từ những sự kiện này, họ không thể không kết luận rằng người Hoa Kỳ chưa thực sự thoát khỏi mặc cảm Việt Nam.

Họ đã nửa đúng nửa sai. Dân tộc Hoa Kỳ vẫn trung thành với lý tưởng tự do cho toàn thế giới. Từ trong tim, họ hiểu rằng sức mạnh của Hoa Kỳ đóng một vai trò tối quan trọng vào việc bảo vệ lý tưởng này. Xuyên suốt cuộc chiến Việt Nam, đa số người Mỹ không bao giờ ngừng tin tưởng rằng chúng ta không thể cho phép Cộng Sản chiến thắng. Nhưng sự sẵn lòng hỗ trợ của họ bị hao mòn dần theo với thời gian kéo dài khiến cuộc chiến đâm ra gần như vô vọng, bởi tiếng thét của kẻ phản chiến, và bởi vết thương Watergate. Cuối cùng, năm 1974 và 1975, khi chúng ta có thể giữ cho miền Nam Việt Nam tự đứng vững bằng cách tiếp tục viện trợ quân sự ngang bằng với mức viện trợ mà Nga Xô đổ vào cho Bắc Việt Nam, Quốc Hội Hoa Kỳ đã từ chối. Dân tộc Hoa Kỳ, khi ấy đã đuối sức, chán nản, và hoang mang, đã chua chát chấp nhận quyết định của quốc hội đưa đến sự thất trận đầu tiên trong lịch sử Hoa Kỳ.

Người Mỹ đang dần khôi phục lại từ bóng tối của thảm họa Việt Nam; cuộc bầu cử và tái tín nhiệm Tổng Thống Reagan chứng minh điều này. Nhưng con số đáng giật mình của những lãnh tụ trí thức và chính khách thuộc về cái gọi là “giới tri thức” vẫn còn trong bóng tối, thầm thì với nhau những điều sai lạc làm mất tinh thần thời 1960s, những hoang tưởng được lập đi lập lại dù nó hoàn toàn sai về cuộc chiến Việt Nam.

Hai mươi năm chiến tranh Việt Nam là một câu chuyện dài và phức tạp, với rất nhiều nhân vật và nhiều cảnh phụ dàn dựng khác nhau. Vở kịch được chêm vào đầy các chi tiết sai lầm và nhiều cơ hội bị bỏ lỡ. Rất nhiều người phải cùng chia sẻ trách nhiệm về việc bỏ lỡ các cơ hội này: những nhà chỉ huy quân sự và những nhà lãnh đạo chính trị đã làm nhiều lỗi lầm về chính trị, chiến lược, chiến thuật trong cuộc chiến; những người tại Quốc Hội đã từ chối không giúp đồng minh chúng ta tại miền Nam Việt Nam một cách ngang bằng với số viện trợ khổng lồ Nga Xô đổ vào cho Bắc Việt Nam; và những kẻ phản chiến thiếu trách nhiệm với các luận điệu làm giảm thiểu nỗ lực đạt đến một nền hòa bình chân chính. Để cuối cùng, Việt Nam bị thua trên mặt trận chính trị tại Hoa Kỳ, không phải trên mặt trận quân sự tại Đông Nam Á.

Một vài người đổ lỗi cho ngành truyền thông, hay cho phong trào phản chiến, và thường là cả hai, về nguyên do sự thất trận tại Việt Nam. Đúng là một số phóng viên đã bóp méo sự thực về chiến tranh Việt Nam khiến người Mỹ không thể nào hiểu được chuyện gì đang xảy ra. Nhưng trong khi phong trào phản chiến – anh em ruột của những kẻ lầm lạc, sai trái, ác tâm, cũng như một số người có thiện ý – là một yếu tố góp vào sự thua trận cuối cùng, đó không phải là yếu tố quyết định. Từ khi có chiến tranh, là đã có phản chiến, ở bất cứ cuộc chiến nào, như ngay tại Hoa Kỳ trong hai kỳ Thế Chiến. Điều làm họ choáng váng là sự chiến thắng với lý do chính đáng. Những kẻ khởi xướng và làm leo thang chiến tranh tại Việt Nam đã không đem lại chiến thắng cho người Hoa Kỳ và đã không giải thích rõ ràng cái lý do chính đáng của lý tưởng tự do mà chúng ta chiến đấu để bảo vệ. Hậu quả là, giữa khoảng trống chính trị ấy, phong trào phản chiến chiếm sân khấu và đóng trò trên đó cho tới khi màn hạ với một kết cục bi thảm nhất trong lịch sử hiện đại.

Những con vẹt la lối “Đừng lập lại kinh nghiệm Việt Nam” để chống đối các nỗ lực của Hoa Kỳ trong việc ngăn chặn không cho chủ nghĩa Cộng Sản chiến thắng tại các nước thuộc thế giới thứ ba đã dựa vào bốn niềm tin sau đây:
1. Cuộc chiến tại Việt Nam trái đạo lý.
2. Cuộc chiến tại Việt Nam không thể thắng.
3. Hòa đàm tay không, không có yểm trợ của quân sự là câu trả lời hay nhất trong chiến tranh với các lực lượng “Giải Phóng Quốc Gia” của Cộng Sản.
4. Người Hoa Kỳ đang đứng về phía thiếu chính nghĩa trong lịch sử Việt Nam.

Đã đến lúc chúng ta cần làm rõ sự sai lầm của bốn điều tưởng tượng kia.

Hoang tưởng I: Chiến tranh Việt Nam đi ngược đạo lý

Sự tuyên truyền rằng Cuộc Chiến Việt Nam đi ngược đạo lý càng ngày càng được lập lại nhiều hơn theo năm tháng kéo dài của chiến tranh. Điều này nói lên ít sự thực về cuộc chiến hơn là cách các nhà phê bình xây dựng định nghĩa “đạo lý” của họ. Như tất cả mọi cuộc chiến, chiến tranh Việt Nam tàn bạo, xấu xa, nguy hiểm, đau khổ, và nhiều khi rất vô nhân. Các điều này bay về hậu phương của nước Mỹ và ảnh hưởng đến đa số quần chúng tại Hoa Kỳ mạnh mẽ hơn bao giờ vì cuộc chiến kéo quá dài, và vì họ nhìn thấy quá nhiều hình ảnh chiến tranh trên truyền hình sống động, của sự chết, pha màu ghê sợ.

Rất nhiều người mới nhìn thấy hình ảnh chiến tranh lần đầu đã quá kinh hoàng và kêu lên: Cuộc chiến này thật thiếu đạo đức, trong khi họ thực sự muốn nói: “tất cả mọi cuộc chiến đều khủng khiếp”. Họ đã đúng khi nói hòa bình tốt đẹp hơn chiến tranh. Nhưng họ đã sai khi không tự hỏi điều gì đã xảy ra tại Việt Nam khiến cuộc chiến này khác các chiến tranh khác rất xa. Sự hoảng sợ của họ trước các sự thực chiến tranh đã khiến họ không nhìn ra được rằng, những khổ đau này là giá phải trả cho một lý tưởng xứng đáng với sự chiến đấu của chúng ta. Thay vào đó, rất nhiều các kẻ ngây thơ, tốt bụng, đối lập theo cảm tính đã góp tiếng vào phong trào phản chiến.

Tiếc thay, tiếng nói của họ được hỗ trợ bởi những kẻ khác không thích chiến tranh chỉ vì họ chống lại mục đích của sự chiến đấu: ngăn chặn sự xâm lăng cuả Cộng Sản tại miền Nam Việt Nam. Những kẻ phản chiến lớn lối này hoàn toàn có tính toán trước. Không phải là cuộc chiến đấu chống Cộng tại Việt Nam thiếu đạo đức, mà chính là sự quay lưng của họ trước ý nghĩa cao cả nhất của đạo lý, đã độc đoán buộc Hoa Kỳ phải thua và Cộng Sản phải thắng. Trừ một thiểu số, các người này không phải Cộng Sản. Vài người tin rằng Việt Nam thực sự sẽ tốt đẹp hơn nếu đặt dưới sự cai trị “khoan hòa” của Hồ Chí Minh và các kẻ nối nghiệp ông. Những người khác biết rất rõ điều này không đúng sự thực, nhưng cũng không cần để ý rằng Hồ vốn là một kẻ độc tài toàn trị. Cái thuyết “trái đạo đức” của họ chỉ có nghĩa là chúng ta đang chiến đấu chống lại sự nổi dậy của dân bản địa tại Nam Việt Nam, và do đó chống lại ý muốn của người Việt, rằng người Việt sẽ có đời sống tốt đẹp hơn nếu chúng ta để mặc cho chính quyền miền Nam Việt Nam sụp đổ, và các chiến thuật quân sự của chúng ta quá mạnh bạo khiến chúng ta giết hại dân Việt một cách không cần thiết.

Lý luận này hoàn toàn sai trên mọi phương diện.

Những kẻ hoạt náo cho phong trào phản chiến vẽ chân dung Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam như linh hồn cuộc cách mạng của người Việt, một lực lượng yêu nước bản địa tự phát để chống lại sự đàn áp của chế độ Diệm. Đây là hình ảnh tuyên truyền vô cùng mạnh mẽ đối với người phương Tây, cung cấp cùng lúc tiêu điểm biểu tình cho các phong trào phản chiến, và rõ ràng là chứng cớ cho sự đồng lòng rằng Hoa Kỳ đã can thiệp vào một cuộc nội chiến. Trên thực tế, Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam chỉ là tấm bình phong cho lực lượng Cộng Sản Bắc Việt xâm chiếm miền Nam, và đó chính là một vũ khí chiến lược nham hiểm của Hà Nội. Rất nhiều lính Việt Cộng từ Bắc xâm nhập vào miền Nam, và họ đều nhận chỉ thị của Bắc Việt. Khi cuộc chiến chấm dứt và Hà Nội không cần sử dụng Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam nữa, thì Mặt Trận này lập tức bị tiêu diệt. Thay vì được tưởng thưởng các chức vị có thế lực trong chính quyền mới, rất nhiều người bị đẩy đi “tù cải tạo”, cùng với cả trăm ngàn người của Nam Việt Nam, bởi chính những kẻ chủ mưu chiến tranh xâm lược miền Nam ngay từ đầu mà sau này trở thành kẻ thống trị Việt Nam: các chủ soái tại Hà Nội.

Công bình mà nói, thì một số người hoạt động phản chiến có thể đã không nhìn trước được sự cai trị hãi hùng mà Đảng Cộng Sản áp đặt lên dân Việt Nam, Cam Bốt, và Lào. Trong khi các người phản chiến có thể bị cho là ngây thơ vì đã không nhìn thấy chính sách giết người của Hồ tại Bắc Việt Nam, vài người khác đáng được khen là đã lên tiếng chỉ trích, dù trễ cách mấy, chính sách diệt chủng tại Cam Bốt. Hiển nhiên là ngày hôm nay các điều ghi lại đã quá rõ ràng cho tất cả mọi người cùng nhìn thấy: nền hòa bình dưới chế độ Cộng Sản giết hại nhiều người hơn trong cuộc chiến tranh chống Cộng Sản tại Việt Nam.

Lời cáo buộc rằng chiến thuật của Hoa Kỳ tạo nhiều thiệt hại cho người dân phải thật kỳ quặc đối với những kẻ thực sự tham chiến. Lực lượng của chúng ta tuân thủ các luật tham chiến một cách vô cùng nghiêm túc, và chính vì thế mà con số dân sự tử thương trong cuộc chiến Việt Nam chỉ ngang ngửa với con số từ Thế Chiến II, thua xa con số dân sự tử thương trong chiến tranh Đại Hàn. Rất nhiều phi công Hoa Kỳ bị bắn hạ, chết, hay trở thành tù nhân chiến tranh, chỉ vì đường bay của họ buộc phải tránh các khu dân cư để giảm thiểu thiệt hại cho dân chúng.

Thí dụ điển hình, trong hai tuần lễ thả bom Bắc Việt vào tháng 12, 1972 - cuộc thả bom đã chấm dứt sự tham dự của Hoa Kỳ vào chiến tranh Việt Nam bằng cách thuyết phục Bắc Việt rằng họ không có chọn lựa nào hơn là đồng ý ký kết các hiệp định hòa bình - chỉ có tổng cộng 1.500 dân sự tử vong, con số do chính Hà Nội đưa ra, so với 35.000 cái chết trong cuộc thả bom tại Dresden vào Thế Chiến II. Nhưng vào năm 1972, thì sự tường thuật chiến tranh tại Hoa Kỳ không còn đúng với sự thực với cuộc chiến đang diễn ra tại Đông Dương nữa. Đa số bài tường thuật của các cơ quan truyền thông Hoa Kỳ vẽ ra ấn tượng rằng phi công của chúng ta, một số đã hy sinh trên không trung chỉ để tránh giết hại dân lành dưới đất, là các tội phạm chiến tranh, tạo ra nhiều cái chết cho dân chúng hơn là tại Dresden, Hamburg, và những thành phố Đức Quốc khác khi mục tiêu dân sự bị thả bom thả dàn với mục đích làm kẻ thù phải đầu hàng. Vào thời điểm này (1972), trí thức Hoa Kỳ đã lệ thuộc vào mặc cảm tự ti của chính mình, đến nỗi, dù cho tất cả mọi dữ kiện đều chứng minh trái lại, chúng ta cũng tin rằng Hoa Kỳ làm toàn điều xấu xa và dành cho kẻ thù Cộng Sản Bắc Việt toàn những điều tốt đẹp nhất.

Hoang tưởng II: Chúng ta không thể thắng cuộc chiến tại Việt Nam.

Đây là một lập luận được ưa chuộng bởi những kẻ cố hết sức trong khả năng của họ để ngăn chặn sự thành công của Hoa Kỳ. Họ cho rằng nếu trận chiến tại Việt Nam không thành công, thì tất cả mọi chiến đấu chống sự xâm lăng của chế độ độc tài toàn trị đều sẽ thất bại. Nếu chúng ta nhường họ điểm này, chúng ta đang bật đèn xanh cho sự xâm lấn của chủ nghĩa Cộng Sản lan tràn khắp thế gới thứ ba.

Chúng ta có thể thắng trận tại Việt Nam. Một chiến thuật quân sự và một chiến lược chính trị khác đã có thể giúp chúng ta đảm bảo chiến thắng vào những năm 1960. Khi chúng ta ký Hiệp Định Paris năm 1973, chúng ta đã thắng trận. Tiếc rằng sau đó chúng ta đi vào tiến trình thua trận trong hòa bình. Miền Nam Việt Nam đã chiến đấu và anh dũng chiến thắng các vi phạm hiệp ước hòa bình của Cộng Sản trong hai năm. Sự bại trận do chỉ đến khi Quốc Hội, lờ đi các điều kiện rõ ràng trong hòa ước, từ chối không viện trợ quân sự cho Sài Gòn một mức ngang bằng với mức Sô Viết viện trợ cho Hà Nội.

Cái hoang tưởng “không thể thắng” dựa vào một giả thuyết.

Trong thời chiến tranh Việt Nam, nhiều người giả định rằng các cuộc chiến như cuộc chiến chống lại Bắc Việt Nam không thể thắng được vì chắc chắn quân kháng chiến Cộng sản sẽ ca khúc khải hoàn. Họ tin rằng phong trào “Giải phóng” đang lan khắp các nước thứ ba, và người phương Tây chẳng thể ngăn cản, cũng như không nên xen vào. Giả thuyết rằng kẻ địch của chúng ta là những người chậm tiến đã được xử dụng như một cặp phèng la mà họ không ngừng gióng tiếng lên thật to một cách hãnh diện: rằng chiến thuật quân sự tân tiến và tàn ác của chúng ta rõ ràng đang vô hiệu trước những người nông dân chân trần áo bà ba đen và là chứng cớ cho thấy họ có chính nghĩa còn chúng ta thì không. Chúng ta là bọn phá hoại, đế quốc, quân đội trang bị vũ khí đầy đủ, và chiến đấu chỉ vì khát máu. Cộng sản, trái lại, là những người hy sinh hết lòng cho chính nghĩa, với vũ khí là niềm vui vì đang tranh đấu cho sự công bằng và tự do của đất nước họ.

Sự khẳng định rằng “người Mỹ to lớn xấu xí” đã xâm nhập vào văn hóa của chúng ta tới mức tạo vấn đề khủng khiếp một cách đáng ngạc nhiên. Người làm ra bộ phim Star Wars với sự thành công vượt mức, gần đây đã giải thích rằng đoạn phim cao điểm nhất trong loạt phim này dựa vào chiến tranh Việt Nam: trong đó bộ máy chiến tranh khổng lồ của “Đế quốc” độc ác bị tiêu diệt bởi những “anh hùng” nhỏ xíu phủ lông tơ mềm mại và chỉ sử dụng cung tên bằng gỗ. Trên thực tế, tại Việt Nam lính Cộng Sản đeo đầy súng liên thanh của Sô Viết, và năm 1975, lái xe tăng thượng thặng của Nga ngang nhiên xâm lấn biên giới Nam Việt Nam. Hoang tưởng “nhỏ là tốt, lớn là xấu” được dùng để tuyên truyền cho sự chênh lệch lực lượng tại Việt Nam, đã góp phần tai hại vào sự thua trận của Hoa Kỳ và người dân miền Nam Việt Nam tự do. Hôm nay, đây là một hiện tượng của “mặc cảm Việt Nam” đến độ làm người Mỹ tự ti về khả năng
quân sự của mình, cảm thấy tội lỗi vì quá mạnh mẽ, và quên mất nhu cầu cần phải dùng thế lực này để bảo vệ tự do của chính họ và tự do cho các dân tộc khác.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét