Thứ Bảy, 14 tháng 8, 2010

Thượng Đế và Thần Linh được tạo ra như thế nào?

Nguyễn Hoài Vân

(Tiếp theo và hết)
Từ một Thượng Đế duy nhất đến thuyết Duy Vật và thuyết Tân Tiến

Một hệ luận bất ngờ của việc tin vào một Thượng Đế duy nhất là sự nảy sinh ra thuyết Duy Vật. Thật vậy, thuyết Duy Vật đến từ sự vứt bỏ các thần linh ra khỏi thế giới. Thượng Đế duy nhất khiến cho thiên nhiên không còn chút thần thánh nào trong đó, và không còn được giải thích bởi hành vi của thần linh nữa. Sấm chớp, mưa gió, bệnh tật không còn lệ thuộc vào sự vui buồn của các ông thần, bà thánh, và người ta buộc phải tìm cho chúng một giải thích khác, một giải thích dựa trên vật chất thuần túy. Thuyết duy vật từ đó ra đời. Cùng với óc khoa học.

Đồng thời người ta nhận thấy sự xuất hiện của thuyết tân tiến. Trong khi người dân định cư quan niệm thời gian như những chu kỳ xoay chuyển, hết gieo đến cấy, cấy xong đến gặt, gặt xong lại gieo… thì người du mục luôn mỗi ngày thức giấc trước một chân trời mới, luôn luôn đổi khác, trong dòng thời gian được nhìn như một đường thẳng. Thượng Đế, vị Thần duy nhất mà họ tôn thờ, lại có một giao ước với họ. Ngài hứa cho họ một tương lai tốt đẹp, một vùng “đất hứa” để dừng chân. Đó chính là định nghĩa của thuyết tân tiến: ngày mai không những sẽ là một ngày hoàn toàn mới, khác hẳn ngày hôm nay, mà ngày mai sẽ tốt hơn ngày hôm nay, tương lai sẽ tốt hơn hiện tại. Gián đoạn triệt để giữa tương lai và hiện tại cũng chính là cội rễ của ý tưởng… Cách Mạng!

Dần dần chính Thượng Đế cũng bị loại ra khỏi lý trí của con người. Người ta cho rằng Thượng Đế «không thể nghĩ bàn». Không một đầu óc nào có thể quan niệm được Thượng Đế. Ngay khi chúng ta nghĩ đến Thượng Đế, thì cái Thượng Đế mà chúng ta nghĩ đến ấy không còn là Thượng Đế nữa, vì Thượng Đế thật vượt trội hơn, khác biệt hơn cái Thượng Đế mà chúng ta có thể quan niệm được gấp bội phần. Nói cách khác, Thượng Đế vô hạn, không thể bị giam hãm trong đầu óc hạn hẹp của con người.

Thuyết tân tiến, cộng với óc khoa học, cộng với việc không thể nghĩ, không thể bàn đến Thượng Đế, bắt buộc con người phải tin vào chính mình, vào trí thông minh, khả năng tìm tòi, suy luận của mình, để không ngừng tiến bộ trong niềm tin vào thuyết tân tiến. Mặc dù có những lúc ngờ vực, đa số nhân loại hiện vẫn đang dấn bước trên con đường này.

Thượng Đế và thuyết vong thân

Khuynh hướng mời Thượng Đế ra khỏi tâm trí của mình, cũng giúp tạo ra… Tôn Giáo! Con người có những lo lắng, sợ sệt, đồng thời cũng có những ước vọng, ham muốn, như ước vọng được thi đậu, làm ăn trúng mối, tình duyên xuôi thuận, được lành bệnh, bình an, tránh tai nạn, v.v… Tất cả những yếu tố ấy được con người phóng ra trước mặt mình để tạo thành Thượng Đế và các Thần Thánh đủ loại. Khi một người quỳ trước một đấng «linh thiêng» để cầu xin chuyện này việc khác thì trong thực chất, người ấy chỉ quỳ trước những ước vọng, ham muốn của mình. Khi cầu nguyện để được những điều này, người ấy cúng bái chính mình, hay nói chính xác là thờ cúng cái phần tâm lý đầy ham muốn và lo sợ của mình. Nhưng, người ta hoàn toàn không ý thức được điều ấy, và vẫn nghĩ Thần Linh, cũng như Thượng Đế là những thực thể biệt lập với mình. Mặt khác, để cho Thượng Đế kia có thể chu toàn sứ mạng che chở mình, và đem lại cho mình những gì mình mong muốn, người ta có nhu cầu phải biến Thượng Đế nọ thành một đấng Toàn Năng, quyền phép vô biên. Rồi tính lo lắng cũng khiến người ta cảm thấy cần kết tụ những mảnh tâm lý đầy dục vọng và âu lo được phóng ra ngoài tâm hồn mình như vừa nói, thành một hệ thống bao gồm những nghi thức chính xác, những giáo điều phải tin theo v.v… Thế là Tôn Giáo thành hình!

Con người cũng có trong thân tâm mình những ý tưởng hướng thiện. Đây là một «thảo trình» từng hiện hữu trong tâm trí của cha ông chúng ta ngay từ giai đoạn hình thành các cộng đồng người. Có thể gọi thảo trình ấy là «thảo trình hợp tác». Thật vậy, ý thức «thiện» được nảy sinh khi chúng ta đối diện với một người khác. Khi ấy, chúng ta lập tức cảm thấy mình có một trách nhiệm nào đó đối với người này. Trách nhiệm ấy khiến chúng ta tử tế chào hỏi, nói năng thân thiện, lịch sự, tránh làm mích lòng, và nếu người ấy gặp phải vấn đề gì, thí dụ như ngất xỉu, lạc đường v.v… thì chúng ta tự cảm thấy phải làm tất cả những gì có thể làm được để giúp đỡ người này. Tổng hợp những thái độ ấy được gọi là sự «thiện», tốt. Chúng ta cũng có thể chọn thái độ ngược lại, đó là những thái độ «bất thiện», xấu. Nguyên nhân của ý thức hướng thiện là nâng cao sự hợp tác, tương trợ, giao dịch tốt đẹp giữa các thành viên của một cộng đồng. Cộng đồng người nguyên thủy nào thiếu «thảo trình hợp tác» này trong cấu trúc tâm lý thì sẽ tàn lụi và biến mất một cách nhanh chóng. Các thành viên của cộng đồng ấy cư xử ích kỷ, lừa đảo, dối trá, khinh bạc, lạnh lẽo, thậm chí ác độc đối với nhau, chưa kể đối với người ngoài, và phủ lên môi trường sống của họ một không khí đối kháng, bạo lực, chia rẽ, đưa đến tàn phá, hủy diệt. Ngược lại, các cộng đồng hiện hữu và phát triển được trong dòng thời gian chính là những cộng đồng với nhiều thành viên mang «thảo trình hợp tác». Họ truyền cho hậu duệ của họ, là chúng ta, thảo trình ấy. Vì thế đa số chúng ta đều có ý thức về cái tốt, về sự thiện, trong cấu trúc tâm lý của mình.

Tuy nhiên, với khuynh hướng mời Thượng Đế ra khỏi tâm trí mình, gắn liền với việc loại bỏ Thượng Đế ra khỏi thiên nhiên (chúng ta cũng thuộc thiên nhiên!), con người phóng cái ý thức hướng thiện trong thâm tâm ra ngoài mình để biến nó thành một thực thể không còn liên hệ gì với mình, và cho nó một sự sống biệt lập. Thượng Đế toàn thiện ra đời! Những gì Thượng Đế ấy đòi hỏi, phán truyền qua những giáo sĩ của Ngài, chính là những gì đa số con người tự cảm thấy trong đầu óc mình, và đa phần là những điều cần thiết cho xã hội. Thật ra, cũng có những trường hợp, đấng Thượng Đế ấy bị «bắt cóc» bởi một giai cấp thần quyền, nhân danh Ngài phán dạy những điều thiên lệch, những «chân lý» bị uốn nắn theo những quyền lợi bè cánh, giai cấp, hay bị lu mờ bởi những tâm lý bệnh hoạn…

Việc phóng những gì thuộc về mình ra ngoài mình, rồi xem đó như một thực thể khác biệt với mình, chính là hiện tượng «vong thân», đánh mất chính mình.

Trở về với thiên nhiên : Thượng Đế làm hòa với khoa học

Làm sao đem được Thượng Đế trở lại với thiên nhiên và với chính mình? Đó là một quan tâm của nhiều trào lưu tư tưởng. Thần học Ky Tô Giáo quan niệm một Thượng Đế «nhập thế», hiện diện ở khắp mọi nơi, đồng thời «nhập thể», làm một với con người, qua con người tiêu biểu là Đức Ky Tô, vừa là người thật, vừa là Thiên Chúa thật. Tư tưởng này mang một ưu điểm lớn là không còn cần «nghĩ bàn» về Thiên Chúa như một thực thể biệt lập nữa, mà có thể cảm nghiệm Thiên Chúa như cảm nghiệm chính mình. Trở ngại được nói đến ở trên, rằng không thể nào quan niệm được Thượng Đế với tâm trí hạn hẹp của mình, tự nhiên bị dẹp tan. Người ta chỉ cần ý thức mình làm một với Chúa, qua «bí tích» nền tảng của Ky Tô Giáo là nghi thức «rước lễ» : «communion» («comme un nghĩa là «như một»). Spinoza cũng quan niệm Thiên Chúa ở trong mỗi sự vật (panthéisme). Ấn Giáo thì quan niệm không có gì hiện hữu ngoài Thiên Chúa, mọi sự vật đều là những thể hiện của Thiên Chúa.

Tuy nhiên, tất cả các quan niệm này đều khởi đi từ một lập trường duy tâm thuần túy, không bắt rễ từ một thực tại cụ thể. Chúng ta thử quay về phía khoa học vật chất xem có cách nào quan niệm được Thượng Đế hay không ?

Nếu chấp nhận giả thuyết «Big Bang» thì khởi đầu của vật chất trong vũ trụ là một «điểm vật chất». Mặt khác, có thể giả sử mỗi trình độ vật chất đều có một cái «Thức» riêng. Trình độ khởi đầu của vật chất, cũng có cái «Thức» của nó. Từ điểm khởi đầy ấy, vật chất tiến hóa, cho ra các ngôi sao, vi khuẩn, súc vật, rồi con người, với những trình độ «Thức» đặc biệt cho mỗi giai đoạn. Tuy nhiên, trong mối giai đoạn tiến hóa, sự vật đều giữ lại những cái «Thức» của các giai đoạn trước, được lắng đọng trong một Siêu Thức, Vô Thức hay Tiềm Thức nào đó. Điều này có thể được chứng minh nơi các loài động vật. Thí dụ những cái thức của các giai đoạn trước con người như loài cá, loài có vú bốn chân… không còn được «Ý thức» một cách rõ rệt nơi con người nữa, nhưng vẫn không bị xóa đi mà vẫn còn hiện diện trong Vô thức, Tiềm thức hay Bản năng của con người. Cái «Thức» của giai đoạn khởi đầu của vật chất (khi chỉ có một điểm vật chất trong vũ trụ) có thể cũng vẫn còn hiện diện nơi con người và nơi tất cả sự vật trong vũ trụ. Vì thế, đi vào đến một độ sâu nào đó của Tâm Thức, người ta sẽ tìm thấy một Siêu Thức chung cho toàn thể loài người, và đi sâu hơn nữa, người ta sẽ tìm thấy Siêu Thức chung cho con người và các động vật, rồi chung cho con người, động và thực vật, cứ như thế, càng đi vào sâu thêm, thì cái Siêu Thức ấy càng mở rộng để trở thành Siêu Thức chung của toàn thể vạn vật.

Định nghĩa « khoa học » của Thượng Đế

Thế nhưng, cái Thức của giai đoạn trước «Big Bang», trước khi có điểm vật chất nguyên thủy, thì là gì? Trước khi có điểm vật chất nguyên thủy thì chưa có vật chất. Cái Thức của giai đoạn đó là «Thức» của một cái gì «phi vật chất». Nói cách khác, đó là Ý Thức Thuần Túy, hoàn toàn tách khỏi vật chất và hoàn toàn không lệ thuộc vật chất. Đó phải chăng chính là định nghĩa của Thiên Chúa: một Ý Thức thuần túy, phi vật chất, quy định vật chất, quy định sự tiến hóa của vật chất, quy định toàn thể vũ trụ này và tiềm tàng nơi mọi sự vật?

Thế nhưng nếu con người và phần còn lại của thiên nhiên đều cùng chung một căn bản vật chất và cùng được quy định bởi một Ý Thức Thuần Túy, thì tại sao lại có sự khác biệt nền tảng giữa thiên nhiên và con người, ở chỗ sự hiện hữu, qua hành động, của con người tùy thuộc vào Chủ Ý (intentionalité) của mình, trong khi thiên nhiên chỉ biết phục tùng quan hệ Nhân Quả (causalité)? Chúng ta đã đề cập đến điều này ở phần đầu bài viết.

Nhà toán học Whitehead tìm cách giải thích sự tách biệt ấy giữa thiên nhiên và con người bằng cách quan niệm rằng trong mọi trình độ của vật chất, từ hạt điện tử đến con người, đều có một «thần khí sáng tạo» thúc đẩy và chủ trì những chọn lựa biến hóa và «hành động» của nó. Thật vậy, nếu ta lấy thí dụ một hạt điện tử, thì ở mỗi thời điểm nó có một số chọn lựa, để vào thời điểm kế tiếp nó sẽ không còn là nó nữa, vì đã thay đổi vị trí, tốc độ, năng lượng v.v… Người ta có thể tính được xác suất của mỗi thay đổi, bằng phương trình Schrödinger chẳng hạn. Trong trường hợp con người, thì số lượng chọn lựa biến hóa và hành động trở nên nhiều vô số, không thể tiên liệu được qua một phương trình toán học. Tuy nhiên, đàng sau những hành động và thay đổi của con người vẫn có một «thần khí sáng tạo» thúc đẩy và chủ trì. Vì thế, việc con người có vẻ như thoát khỏi các quy luật nhân quả vật lý, trong khi các trình độ thấp của vật chất lại hoàn toàn lệ thuộc vào những quy luật ấy, chỉ là một vấn đề số lượng chọn lựa. Một thành tố của thiên nhiên càng phức tạp thì sự thay đổi của nó càng ít bị các định luật vật lý quy định và càng khó tiên liệu. Ngược lại, một thành tố của thiên nhiên càng đơn giản thì càng lệ thuộc các quy định của vật lý và các sự chuyển hóa của nó càng dễ tiên liệu. Nói cách khác, sự «sáng tạo» của con người không khác biệt trong bản chất với những «chọn lựa» của hạt điện tử, mà chỉ do trình độ phức tạp của con người. Trong mọi trường hợp, theo Whitehead, thì đàng sau những «hành vi» ấy luôn hiện diện một «thần khí sáng tạo» thúc đẩy con người cũng như toàn thể sự vật trở thành một cái gì mới, nhưng không phải bất cứ cái mới nào, mà một cái mới được sắp đặt theo một chủ đích, một sơ đồ, một chương trình Sáng Tạo chung. «Thần Khí Sáng Tạo» ấy được Whitehead gọi là: Thượng Đế!

KẾT LUẬN

Tiến trình tiến hóa khởi đi từ vật chất ở dạng đơn giản nhất đã đưa đến sự hình thành của những con người biết băn khoăn ray rứt cho tương lai của mình. Mà tương lai thực sự, chắc chắn nhất, tạo nhiều băn khoăn ray rứt nhất, chính là Sự Chết. Tiến hóa chẳng qua chỉ là tiến trình đưa đến ý thức Phi Hữu, đến một trí thông minh có khả năng quan niệm Sự Chết, quan niệm một vực sâu không đáy bên kia bờ Hiện Hữu. Rồi, khi để cho sự suy nghĩ của mình rơi vào vực sâu này, con người không khỏi quay cuồng vùng vẫy một cách tuyệt vọng để tìm cách bám víu vào một cái gì, một nhánh cây, một mỏm đá… Nhưng, trong cảnh giới Phi Hữu đàng sau sự chết, không có những mỏm đá, không có những nhánh cây. Trong Phi Hữu, con người chỉ có thể bám víu vào những sự thể phi hữu. Người ta gọi đó là Thần Linh, là Thượng Đế…

Thượng Đế tạo ra con người? Một giả thuyết (6). Con người làm ra Thượng Đế: một điều hiển nhiên!

Nguyễn Hoài Vân
http://nguyenhoaivan.com/
Đầu năm 2010



Chú thích

(6) Giả thuyết, vì tùy thuộc vào những giả thuyết về chính Thượng Đế (như giả thuyết Whitehead), vào những giả thuyết về sự tạo thành vũ trụ, sự vật (thuyết Big Bang, hay một giả thuyết khác)… Người ta cũng có thể nghĩ Thế Giới được tạo nên bởi một Ác Thần, vì Thế Giới đầy sự ác, nhưng có hy vọng được cứu rỗi bởi một Đấng Cứu Thế được gửi đến bởi Thượng Đế Toàn Thiện. Đó là niềm tin của nhiều giáo phái thuộc trào lưu «Chứng Ngộ» Gnostique, một trào lưu của Ky Tô Giáo Nguyên Thủy, như giáo phái Manicheisme. Lại một giả thuyết!

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét