Thứ Tư, 18 tháng 8, 2010

QUAN HỆ VIỆT MỸ NĂM 2010 TRONG BỐI CẢNH TRANH CHẤP BIỂN ĐÔNG

Tiến sĩ Đinh Xuân Quân


Các nhật báo tại Âu hay Á châu gần đây đã chú ý đến sự thay đổi trong quan hệ Mỹ và Trung Quốc (TQ). Sự kiện là Bắc Kinh giận dữ vì cuộc tập trận Mỹ - Nam Hàn với sự tham gia của 29 000 binh sĩ vào cuối tháng 7 tại vùng bán đảo Triều Tiên, mà TQ vẫn coi là khu vực thuộc ảnh hưởng của mình. Bắc Kinh đã sáu lần phản đối cuộc tập trận quy mô này. Tiếp theo đó, TQ đã có một cuộc tập trận lớn với sự tham gia của 12 000 binh sĩ, đã được tổ chức tại miền Đông nước này.

Sau vụ này, Bộ Quốc phòng Mỹ nói là hàng không mẫu hạm USS George Washington sẽ tiếp tục tiến hành tập trận tại các vùng biển ngoài khơi TQ kể cả gần Triều Tiên (Trước đó Mỹ có gởi ba tiềm thủy đỉnh mang nhiều hỏa tiển đến ba nơi tại Á châu – Diego Garcia trong Ấn Độ Dương, Nam Hàn và Phi).

TQ khẳng định «chủ quyền không thể tranh cãi» trên vùng biển quốc tế tại Biển Đông, trong một khu vực cách bờ biển TQ hơn 1000 km, bất chấp các luật lệ hàng hải quốc tế. Khu vực này là nơi Đài Loan, Việt Nam, Philippines, Malaysia, Brunei và Singapore đòi chủ quyền trên một số hòn đảo nhỏ. Đòi hỏi của TQ ngày càng quyết liệt, với lập trường chỉ nói chuyện song phương. TQ tuyên bố với Hoa Kỳ về «các lợi ích sống còn» của TQ trên phần lớn Biển Đông cũng như trường hợp Đài Loan và Tây Tạng. TQ đã đòi hai công ty Exxon và BP ngừng khai thác dầu trên thềm lục địa VN và bắt giữ hàng trăm ngư dân VN, đương nhiên coi Biển Đông (BĐ) là thuộc chủ quyền của họ.

Đứng trước tình trạng đó, Hoa Kỳ đã có phản ứng mạnh mẽ qua lời tuyên bố của Ngoại trưởng H. Clinton ngày 23/07/2010, trong cuộc họp thượng đỉnh của tổ chức ASEAN tại Hà Nội. Bà Ngoại trưởng Mỹ tuyên bố các yêu sách của TQ là bất hợp pháp và không có giá trị.

Gần đây hàng không mẫu hạm Washington đã ghé vùng biển Đà Nẵng và các chiến hạm Mỹ có thao diễn với hải quân VN, mặc dù chỉ là về cấp cứu. Vậy chính sách Hoa kỳ có nghiêng về VN hay không? VN có thể trở thành đồng minh của Mỹ trong vấn đề quân sự hay không? Quan hệ Mỹ-Việt trong 2010 và tương lai sẽ ra sao?


Bài này sẽ đưa ra một cái nhìn tổng quát về tiến trình trong quan hệ Việt-Mỹ và đánh giá quan hệ chính trị, kinh tế và ngoại giao trong tương lai gần, trong bối cảnh tranh chấp BĐ.

Một cái nhìn tổng quát

Quan hệ Việt-Mỹ coi như gián đoạn từ 1975 đến giữa thập niên 90. Việc tái lập quan hệ đã thành hình vào ngày 11 tháng 7, 1995. Quan hệ Mỹ Việt gia tăng chậm chạp - từng bước đến giữa thập niên 2000 khi phía VN quyết định nâng cao quan hệ hai bên. Từ 2005 đến nay quan hệ giữa hai nước đã cải thiện mạnh mẽ, mau chóng, và chính Quốc Hội chứ không phải là bộ Ngoại Giao Mỹ đã là một động lực thúc đẩy mối quan hệ này.

Về phía Mỹ phe ủng hộ việc xúc tiến quan hệ chặt chẽ hơn gồm các thành phần muốn làm ăn với VN, một nước có 88 triệu dân và cũng có quan hệ “bất bình thường với TQ” trong khi VN ngày có ảnh hưởng hơn tại ĐNÁ. Một thành phần khác tại Mỹ cho rằng bang giao sẽ nhiều hơn nếu VN có cải thiện về nhân quyền. Hơn nữa thành phần trên 1 triệu dân Việt tỵ nạn tại Mỹ đang ngày có ảnh hưởng đến chính sách của Mỹ tại VN.

Về phía VN, việc xích lại Mỹ sẽ giúp VN vào thị trường Mỹ nhiều hơn và một phần khác vì VN e ngại ảnh hưởng của TQ tại ĐNÁ nhất là tại BĐ. Nói vậy nhưng đối với VN, quan hệ Việt Trung luôn luôn là một “quan hệ quan trọng nhất” và giới lãnh đạo VN phải khôn khéo “đánh đu” trong quan hệ giữa Hoa Thịnh Đốn và Bắc Kinh. Tại VN có nhiều thành phần CS còn nghi là Mỹ sẽ làm mất độc quyền của đảng (trong dân gian vẫn có câu: thân Mỹ thì mất đảng và thân TQ thì mất nước).

Trong quan hệ Việt - Mỹ thành công lớn nhất là kinh tế. Mỹ là thị trường xuất cảng lớn nhất của VN và nước đầu tư số 1 tại VN vào năm ngoái (2009). Thương mại giữa hai bên đã tăng gấp 5 lần từ khi Mỹ chấp nhận cho VN hưởng “quan hệ thương mại bình thường - normal trade relations – NTR) từ 2001. Từ đó, VN càng mở rộng thị trường. Kết quả là từ 1987-2007, tăng trưởng TSLQN (GDP) của VN trung bình là 7%/năm và viện trợ của Mỹ cho VN trung bình là $100 triệu/năm nhằm vào lãnh vực y tế. Chính phủ Obama cũng đang bàn cãi cho phía VN hưởng quy chế của chương trình “Generalized System of Payments (GSP) hay không - một chương trình cho phép một số nước chậm tiến như VN xuất khẩu qua Mỹ một số hàng mà không bị thuế quan. Hơn nữa Mỹ và VN là hai trong 8 nước đang thương thuyết tự do mậu dịch trong khuôn khổ “Trans-Pacific Strategic and Economic Partnership (TPP) – Phát triển trao đổi kinh tế vùng Thái Bình Dương.

Cái khó của Mỹ trong quan hệ Việt – Mỹ: VN là một chế độ CS, nơi nhân quyền còn bị chà đạp. Tại VN, ĐCSVN cho phép một số tự do tín ngưỡng nhưng cùng lúc ĐCSVN đàn áp các tổ chức hay cá nhân đòi đa đảng và tự do dân chủ. Các nhà quan sát cho là ĐCSVN đang dần xiết tự do ngôn luận và đàn áp các người dám chỉ trích ĐCSVN ngày càng nhiều hơn từ 2009 đến nay.

I) Tiến trình trong quan hệ Việt Mỹ

Sự kiện hàng không mẫu hạm USS Washington đến vùng biển Đà nẵng và có cuộc tập trận hải quân Mỹ - Việt cho thấy phải có một tiến trình lâu dài xích lại gần nhau giữa hai nước từ nhiều năm.

Từ 2005 đến 2008 giữa VN và Mỹ đã có bốn cuộc họp “thượng đỉnh”.

Năm 2005, chuyến đi của Thủ tướng Phan Văn Khải là bước tiến ngoạn mục trong tiến trình xích lại gần Mỹ, đạt kết quả trong việc tuyên bố nâng cấp quan hệ hai bên.

Năm 2006 có chuyến đi VN của Tổng thống Bush là dịp hai bên nâng cấp quan hệ, trong đó có việc ký thỏa hiệp huấn luyện quân sự cho VN (IMET) và ký về thỏa hiệp về con nuôi bị ngưng từ 2002.

Trong cuộc họp 2008 giữa TT Bush và TT Nguyễn Tấn Dũng, hai bên ký một số thỏa ước gồm: việc trao đổi “quân sự và chính trị” một quy trình mà Mỹ chỉ có với bốn nước Á châu; thương thuyết thỏa hiệp đầu tư song phương - bilateral investment treaty (BIT); việc chấp nhận VN vào quy trình thương mại GSP; chương trình đào tạo; việc chấp nhận Peace Corps tại VN, ký kết về an toàn hạt nhân, hàng không và an toàn thực phẩm. Lần đầu tiên TT Dũng thăm “Lầu năm góc” với Bộ trưởng Quốc phòng Gates.

Cuộc họp các bộ trưởng về sông Mekông

Sau cuộc gặp các Bộ trưởng Ngoại Giao ASEAN tại Phuket Thái Lan năm 2009, bà NT Clinton đã gặp Bộ trưởng Ngoại giao các nước sông Mekông (VN, Cao Miên, Lào và Thái Lan – không có Miến Điện). Đây là lần đầu tiên Mỹ gặp các nước này bàn về sông Mekông và đã đạt được thỏa hiệp về thay đổi khí hậu, chống các bệnh truyền nhiễm và về chính sách giáo dục. Ngoài ra có việc hợp tác giữa Ủy ban sông Mekông và Ủy ban sông Mississippi trong vấn đề chia sẻ kinh nghiệm khai thác nước và thực phẩm và chính phủ Obama đã viện trợ $15 triệu thực phẩm cho các nước sông Mekông.

Trong cuộc họp này, VN và Cao Miên đã khuyến cáo Mỹ nên dính vào sông Mekong vì họ lo ngại “ảnh hưởng xấu” của các đập thủy điện TQ trên thượng nguồn sẽ có ảnh tai hại đến các nước ở vùng hạ nguồn. Sông Mekong/Cửu Long đã trở thành một đề tài nóng bỏng và trong vấn đề này vùng đồng bằng sông Cửu Long đã và đang chứng kiến tình trạng suy thoái nhanh hơn dự kiến: sông cạn dòng, đất nhiễm mặn, thủy sản thiên nhiên giảm sút trầm trọng. [Những điều này đã được nhà văn Ngô Thế Vinh báo động trước đó trong các ký sự chuyến đi khảo sát từ những năm đầu thế kỷ 21 dọc theo con sông Mekong, từ Vân Nam Trung Quốc tới Lào, Thái, Cambốt và Đồng bằng sông Cửu Long] 1.

Đến đây chúng ta thử phân tích: xích lại gần nhau như thế thì lợi ích của hai nước Mỹ-Việt là gì?

Lợi ích của Mỹ trong quan hệ Việt-Mỹ

Lợi ích Mỹ trong quan hệ với VN là thương mại, đầu tư và ảnh hưởng cộng đồng VN tại Mỹ. Hơn nữa hình ảnh VN đang trở thành một nước có ảnh hưởng tại ĐNÁ và việc VN e ngại một nước TQ “hùng hổ” đã thúc đẩy quan hệ giữa hai bên trở nên tốt hơn, giúp cân bằng ảnh hưởng của TQ tại ĐNÁ. Trong quan hệ này, phía Mỹ có một số lợi điểm và lợi thế, ví dụ cho VN hưởng hay giảm các quyền lợi thương mại, viện trợ, gia tăng quan hệ giáo dục và quan hệ “an ninh – quốc phòng.”

Lợi ích VN trong quan hệ Việt-Mỹ

Từ giữa thập niên 80 đến nay, VN theo đuổi bốn đường hướng chính trong chính sách quốc gia:

 phát triển kinh tế trong môi trường thị trường với một số thay đổi – cải cách kinh tế;
 chính sách làm bạn với các nước láng giềng trên phương diện kinh tế và ngoại giao;
 cải thiện – xiết chặt mối bang giao với TQ;
 và cùng lúc cải thiện bang giao với Mỹ để “cân bằng hóa” tham vọng bành trướng của TQ. Quan hệ với Mỹ quan trọng vì sức mạnh kinh tế, ảnh hưởng trên thế giới và sức mạnh quân sự, nhất là hải quân, của Mỹ.

Các khó khăn trong tiến trình xích lại gần nhau

Khó khăn trong quan hệ Việt-Mỹ:
 VN vẫn e ngại phản ứng của TQ (vừa làm vừa sợ vừa nhìn phía Bắc. Vừa rồi NT TQ có phản ứng khá mạnh hăm dọa VN. Gần đây Thứ trưởng QP Nguyễn Chí Vịnh nói trao đổi hải quân vừa qua giữa VN và Mỹ là "hoạt động bình thường" và báo chí nước ngoài đã "hiểu sai về mức độ quan hệ" quốc phòng hai bên - báo chí Tây phương “xuyên tạc”);
 Phía Mỹ và cộng đồng VN tại Mỹ lúc nào cũng e ngại thành quả quá xấu về nhân quyền và tự do tín ngưỡng tại VN;
 Một số người CSVN còn “sợ bóng sợ gió” là nếu Mỹ vào sâu thì ĐCSVN sẽ mất độc quyền qua “diễn tiến hòa bình.”

Ảnh hưởng của Quốc hội Mỹ trong quan hệ Việt – Mỹ

Ngược lại với nhiều nước khác, trong tiến trình bình thường hóa và xiết chặt quan hệ Việt Mỹ thì QH Mỹ đóng một vai trò quan trọng chứ không phải là Bộ Giao Mỹ.

Trong tiến trình này, QH chỉ đạo và qua tài trợ ngân sách đã ảnh hưởng chính sách Mỹ đối với VN. Nhiều thành viên QH đã đứng lên tranh đấu cho nhân quyền tại VN trong khi nhiều người khác hợp tác tìm quân nhân Mỹ mất tích (MIA). Nhiều thành viên QH (TNS Kerry, Mac Cain và Jim Webb) đã trợ giúp các chính phủ Bush và Obama trong chính sách thân thiện với VN.

II) Quan hệ kinh tế - thương mại 2

Từ năm 2005 đến nay, Mỹ đã trở thành thị trường xuất cảng lớn nhất của VN và trong năm 2009, xuất cảng của Mỹ cho VN chỉ bằng 20% xuất cảng của VN qua Mỹ. Theo các con số thì Mỹ đã trở thành nhà đầu tư lớn nhất tại VN.22 Nhưng TQ vẫn là bạn hàng lớn nhất của VN.

Thương mại Việt-Mỹ đã tăng gấp bội từ 2005 và theo bảng 1 dưới đây thì thương mại giữa hai bên đã lên đến $15 tỷ trong năm 2009 (gấp 10 lần năm 2001). 80% xuất khẩu của VN là may mặc (VN đứng thứ nhì sau TQ tại Mỹ), đồ biển, thức ăn, vv...

Thương mại Việt Mỹ có giảm chút ít trong năm 2008 và 2009 nhưng chỉ bớt 2% so với sự sa sút thương mại Tổng quát của VN là 9%. Trong năm 2010, thương mại Việt Mỹ tăng 15% so với 11% năm 2009.

Bảng 1. Bạn hàng của VN, 2009


Các chương trình khuyến khích thương mại của Mỹ (GSP, TIFA, BIT, và TPP)

Để khuyến khích phía VN, Mỹ dùng một số chương trình thương mại. Quy chế GSP là một chương trình các nước phát triển đã thành lập vào thập niên 70 để thúc đẩy xuất cảng từ các nước chậm tiến. Một số hàng sẽ vào không phải chịu quan thuế.

Trong năm 2008, nhân chuyến viếng thăm của TT Nguyễn Tấn Dũng, chính phủ Bush có gợi ý về chương trình GSP (Generalized System of Payments) cho phép một số hàng VN vào Mỹ.

Về GSP, chính phủ Obama chưa có quyết định vì các dự luật H.R. 1969 và S. 1159, tại Quốc hội, đòi hỏi nhân quyền cho VN và cho vấn đề tự do nghiệp đoàn. Dự luật này do các tổ chức người Việt đệ trình với sự hỗ trợ của một số thành viên QH, sẽ không cho phép chính phủ Obama cho VN hưởng quy chế GSP trừ khi vấn đề nhân quyền hay lao động tại VN được cải thiện, cùng với việc chấp nhận cho tự do lập nghiệp đoàn.

Ở cấp chuyên viên, phía VN và Mỹ làm việc ráo riết về TIFA (Trade and Investment Framework Agreement – Mô hình thỏa hiệp đầu tư và thương mại được coi là bước đầu tiên trong việc đi tới việc ký một Hiệp ước tự do thương mại (FTA - free trade agreement ). Hai bên cũng thương thuyết về một “thỏa hiệp đầu tư song phương - bilateral investment treaty (BIT).

Hiện nay các cuộc đàm phán bị đình chỉ vì chính phủ Obama chưa quyết định về hình dáng của bản thoả hiệp đầu tư song phương. 3 Về thương mại, VN muốn thương lượng “Thỏa ước đa phương tự do thương mại” trong khuôn khổ hợp tác các nước Thái Bình Dương (Trans-Pacific Partnership - TPP).

Tranh chấp thương mại Việt – Mỹ

Khi thương mại tăng gia thì sẽ có một số bất đồng ý kiến và tranh chấp. Các mối tranh chấp là hàng may mặc, cá “ba sa,” việc Mỹ coi VN chưa phải là một nền kinh tế thị trường, việc bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ (bản quyền) và các bất đồng về chính sách trị giá đồng bạc. /

Phía VN chú trọng đến ba điểm đầu nhất là các vụ kiện các nhà xuất cảng VN về “bán phá giá.” Thường thường các vụ tranh chấp thương mại là một cái gai nhưng trong năm 2010 các vụ này đã không ảnh hưởng đến quan hệ song phương. Các đàm phán về TIFA (Đầu tư và thương mại) đã là một nơi hai bên trao đổi và giải quyết các tranh chấp thương mại.

Viện trợ Mỹ

Năm 2005 khi có bang giao, viện trợ của Mỹ cho VN đã tăng vọt lên trên $100 triệu/năm và VN trở nên một trong những nước Á châu nhận viện trợ của Mỹ. Số tiền này sẽ tăng trong năm 2009 với $130 triệu và $140 triệu cho 2010. Sau đó Chính phủ Obama đã xin $120 triệu cho VN năm 2011. Các chương trình viện trợ nhằm vào bệnh HIV/AIDS, cải cách kinh tế và vài chương trình khác như gỡ mìn và thanh lọc dioxin.

III) Các bất trắc trong quan hệ Việt-Mỹ

1) Nhân quyền: Từ khi “đổi mới” VN cho người dân quyền sở hữu cơ sở công nghiệp và thương mại, đời sống tinh thần cũng có phần dễ chịu hơn trước. Từ 2007 trở đi, có nhiều dấu hiệu cho thấy CSVN có chính sách đàn áp các nhà “bất đồng ý kiến” nhất là về vấn đề TQ.

Từ 2008 và 2009, việc đàn áp các người bất đồng ý kiến gia tăng, nhất là khi họ đề cập đến các vấn đề nhạy cảm như tham nhũng, chính sách kinh tế, môi trường, vv. Năm 2009 các “blogger hay luật sư” dính vào nhân quyền hay dân chủ đã bị đàn áp và bị bắt bớ. Các người bất đồng ý kiến như LS Lê Công Định bị bắt vì cho là sai phạm điều 88 của luật hình sự, “tuyên truyền chống nhà nước”. Nhiều LS khác cũng bị quấy nhiễu. Nhiều blogger khác chỉ trích chính sách đối với TQ hay có dính dáng đến “khối 8406”, đảng dân chủ thì bị đe dọa và cấm đoán.

Một số người thượng vùng cao nguyên cũng bị áp bức từ năm 2004. Ngoài ra công an đã đàn áp người thượng theo “Thiên chúa giáo” cho thấy là thiếu tự do tín ngưỡng.

2) Tự do tín ngưỡng: Khi có “đổi mới,” dân chúng có quyền tự do tín ngưỡng nhưng VN còn kiểm soát gắt gao các tổ chức tôn giáo. Theo VN thì các tôn giáo phải gia nhập các tổ chức tôn giáo “quốc doanh” và do đó làm khó một số đạo.

Từ 2004, Bộ NG Mỹ đã xếp VN vào các nước “cần chú ý – country of particular concern” (CPC). CP Bush đã thương thuyết và rút VN ra khỏi quy trình CPC và do đó tránh bị QH dùng các biện pháp chống VN.

Năm 2006, CP Bush rút VN ra khỏi CPC viện cớ có phát triển khả quan trong nhiều phương diện trước khi TT Bush thăm hội Nghị APEC tại VN. Trong dịp này phía VN đã thả một số tù.

3) Quyền tự do lập các công đoàn: Muốn được hưởng quy chế GSP, có nhiều đòi hỏi phía VN phải thay đổi về các vấn đề lao động. Hiện giờ công nhân không có quyền lập hay tham gia các công đoàn ngoài các công đoàn “quốc doanh.”

Hội HRW (Human Rights Watch) đã lên tiếng về việc tự do lập các công đoàn nhất là đối với các doanh nghiệp nhà nước (DNNN). Theo báo cáo của BNG vào 2009 thì có 85% các DNNN, 60% các doanh nghiệp hợp doanh (DNHD) và 30% Doanh nghiệp tư nhân (DNTN) có công đoàn. Các công đoàn này là quốc doanh. Hiện nay ở VN công nhân bị nhiều áp bức, có nhu cầu thay đổi về luật lao động và chính phủ đang trình một luật lao động mới cho QH vào 2010.

4) Luật về nhân quyền cho VN: Vì vậy, nhiều dân biểu Mỹ (ảnh hưởng của cử tri gốc Việt) đã nêu lên những lo ngại về nhân quyền tại VN. Một số dự luật được đệ trình còn gọi là “Luật về Nhân quyền cho VN” được khởi xướng. Dự luật mới nhất về “Nhân quyền cho VN” (H.R. 1969 và S. 1159) sẽ ngăn cản VN hưởng quy chế GSP trừ khi TT Obama xác nhận là VN đã có tiến bộ về Nhân quyền. Ngoài ra các dự luật này sẽ gây nhiều khó khăn cho phía VN và sẽ giúp đài phát thanh Á châu tự do có thêm ngân sách (vừa được hưởng quy chế vĩnh viễn thay vì phải được chấp thuận ngân sách hàng năm), và đòi hỏi CP Obama trình về nhân quyền nếu muốn được viện trợ cho VN hay các vấn đề khác. Hai luật này là khí giới của cộng đồng VN trong vấn đề thúc đẩy dân chủ hóa.

5) Tỵ nạn người thượng - Từ 2001 nhiều người Thượng từ VN đã phải trốn qua Cao Miên. Đã có nhiều chương trình giúp họ và LHQ xếp họ là tỵ nạn chính trị. LHQ đã ký một thỏa hiệp năm 2005 với VN và Cao Miên là những người này khi trở về VN sẽ không bị áp bức.

6) Nạn Buôn Người: VN là nơi có tệ nạn buôn người – bán sức lao động. Các Doanh nghiệp nhà nước gởi nhiều công nhân ra nước ngoài trong nhiều ngành và họ bị “bóc lột sức lao động.” Trong báo cáo 2009, Bộ NG Mỹ cho là VN thuộc hạng 2 về các nước có tệ nạn buôn người (sức lao động) và nay có khoảng 500,000 công nhân làm việc tại nước ngoài.

IV) Còn những gì trong việc Việt-Mỹ xích lại gần nhau? Vai trò cộng đồng VN hải ngoại ra sao?

Các trở ngại chính còn lại trong quan hệ Việt Mỹ đối với phía Mỹ là:

 Có tiếp tục chính sách “tiếp xúc cấp cao” với phía VN hay không?
 Có thêm “nhân quyền” vào các thương thuyết Việt-Mỹ hay không? Ngoài ra còn thêm những gì khác?
 Theo dõi – liên kết quốc phòng đến mức nào?
 Có nghiêng về phía VN trong tranh chấp với TQ về Hoàng Sa và Trường Sa tại BĐ?
 Có cho VN hưởng chương trình “Generalized System of Payments program” cho phép một số hàng VN vào Mỹ không thuế?
 Có thương thuyết tự do thương mại tại Á châu trong đó có VN hay không?
 Viện trợ cho VN bao nhiêu?
 Làm sao giải quyết các vấn đề còn lại từ chiến tranh VN - Nhất là nạn nhân dioxin?

Vai trò quan trọng của cộng đồng VN hải ngoại:

 Trước hết cộng đồng NV tại Hải ngoại gởi về hàng năm một số tiền khổng lồ giúp gia đình và gián tiếp giúp VN phát triển.
 Trong tranh chấp BĐ, người Việt hải ngoại có vai trò tích cực – ví dụ đã lên tiếng khi “National Geographic” đã in lộn tên các quần đảo đang tranh chấp (HS & TS). Người Việt hải ngoại không quá khích về việc tranh chấp các hải đảo, vì có kiến thức quốc tế về các hải đảo đó.
 Người Việt hải ngoại cũng ảnh hưởng đến lập trường của QH Mỹ nhất là trong dự luật Nhân Quyền cho VN là (H.R. 1969 và S. 1159). Nó sẽ ngăn cản VN trong một số đặc lợi GSP cho VN cũng như việc đào tạo sinh viên VN.
 Người Việt hải ngoại cũng ảnh hưởng đến lập trường của CP Mỹ nhất là trong vấn đề vận động BĐ. Khi Mỹ tuyên bố tự do hàng hải trên Biển Đông có nghĩa là Mỹ bác bỏ luận điệu lấy thịt đè người của TQ.

Trong chuyện Biển Đông chúng ta thấy VN đã đi đêm với Mỹ từ lâu, trong khi bề ngoài vẫn giả bộ chẳng có ý đồ gì cả, qua các tuyên bố “đó là việc bình thường” hoặc “báo chí nước ngoài xuyên tạc.”
Trong gia đoạn tranh chấp lâu dài tại BĐ, ta nên tỉnh táo thế của Mỹ trong “liên hoàn” ngăn chặn tham vọng bành trướng của TQ và qua đó một phần giúp VN.

TQ sẽ thử Mỹ trong vấn đề BĐ – ví dụ như tiếp tục bắt ngư phủ VN và Phi Luật Tân, hay thử “đương đầu” với một chiếc tàu nhỏ của Mỹ v.v... Lập trường của Mỹ nay rõ ràng và đã gây phấn khởi cho các nước Á châu. Mỹ sẽ là đòn bẩy để các nước ASEAN liên kết thương thuyết một thỏa ước cho BĐ với sự chứng kiến của Mỹ. TQ muốn thương thuyết “song phương” để bẻ từng nước một nhưng NT Clinton đã khuyến cáo một thế đứng chung cho ASEAN.

Kết luận

TQ chỉ mất 30 năm, sau khi theo kinh tế thị trường, để trở thành kinh tế số 2 trên thế giới, qua mặt Nhật Bản và có thể qua mặt Mỹ trong vài chục năm nữa. Mặc dù thành công về kinh tế TQ đã “không được nể” và được coi là một “nước có trách nhiệm.” Các nước láng giềng từ Nam Hàn đến VN và Ân Độ đều lo ngại TQ vì những đòi hỏi lãnh thổ trên BĐ, kiểm soát các thị trường và dùng hải quân để bành trướng, thao diễn quân sự - dọa nạt các nước láng giềng.

Mỹ đã dự đoán việc này từ lâu vì các nước Á châu như Ấn Độ, Thái Lan, VN, Mãlai, Indonesia, Phi, Indonesia, Nam Hàn, Nhật, vv. đều ngại nguy cơ TQ và luôn có những vận động để đối phó.

Họ ngả theo Mỹ không phải chỉ vì Mỹ có hải quân mạnh, có “quyền hành từ họng súng” như Mao Trạch Đông nói, hay có thể làm trở ngại cho tham vọng bành trướng của TQ – mà chính là vì Mỹ có những giá trị tinh thần cao đẹp hơn là cái món xã hội chủ nghĩa của TQ rất nhiều. Những giá trị đó là xã hội tự do, nhân bản, cởi mở và pháp trị. TQ đem lại cho nhân loại giá trị tinh thần gì? - Chỉ là con số không!

Từ việc này VN có học được bài học nào không? Vẫn tiếp tục cái “anh em XHCN” với TQ hay là dứt khoát thay đổi, mang đất nước thực sự đến các giá trị cao hơn là tự do, dân chủ, thay vì chỉ hô khẩu hiệu suông như xưa nay? 4




________________________

1/ Bác sĩ Ngô Thế Vinh đã báo động và viết nhiều về đề tài này trong cuốn Mekong Dòng Sông Nghẽn mạch .
2/ Xem CRS Report R40755, U.S.-Vietnam Economic and Trade Relations: Issues for the 111th Congress, by Michael F. Martin.

3/ “Hormats: BIT To Balance Business Needs With Labor, Environment Goals,” World Trade Online Daily News, March 10, 2010.


4/ Trong khi gia nhập WTO, Vietnam còn giữ nhãn hiệu “non-market economy – NME” chưa là kinh tế thị trường đến năm 2019, giúp cho các công ty Mỹ dễ kiện VN trong vấn đề phá giá.




Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét