Thứ Hai, 30 tháng 8, 2010

NGUYỄN THỊ MINH NGỌC - TỒN TẠI GIỮA CÁC RANH GIỚI VÔ HÌNH

Phỏng vấn do Song Chi thực hiện

Từ năm 1968-1975, cái tên Ngọc Minh đã xuất hiện trong giới văn chương miền Nam qua một số truyện ngắn đăng trên các tạp chí, bán nguyệt san, như “Trái khổ qua” (Văn),“Trăng huyết” (Thời Tập), “Người mẫu” (Nhà Văn)… Ngoài viết lách, Ngọc Minh còn đến với ngành phim ảnh khá sớm. Năm 1974-1975, khi chị đang theo học đạo diễn điện ảnh tại trường Đại học Tri Hành phân khoa Điện ảnh và Kịch nghệ thì xảy ra biến cố lịch sử 30.4. Sau 30.4.75, Minh Ngọc lại quay lại học đạo diễn sân khấu và ra trường năm 1980. Giai đoạn sau này chị lấy nghệ danh là Minh Ngọc.

Suốt mấy chục năm sống và làm việc ở Việt Nam cho đến ngày rời nước theo chồng sang Mỹ năm 2006, Minh Ngọc là một cái tên, một khuôn mặt mà giới làm văn nghệ từ Nam ra Bắc, từ trong nước đến ngoài nước, trong nhiều lĩnh vực khác nhau, đều biết đến. Chị hoạt động ở nhiều lĩnh vực: là nhà văn, tác giả kịch bản sân khấu và điện ảnh, diễn viên sân khấu và điện ảnh, đạo diễn sân khấu, giảng viên sân khấu v.v… Nếu kể hết ra những việc chị đã làm, những tác phẩm trong từng lĩnh vực, những giải thưởng lớn nhỏ… chắc là phải mất nhiều trang giấy, chỉ có thể tóm tắt: chị đã viết khoảng 70 vở kịch truyền thống và hiện đại, đạo diễn khoảng 30 vở kịch truyền thống và hiện đại, là tác giả của khoảng 30 kịch bản phim tài liệu và phim truyện, 11 tập truyện ngắn, 1 tiểu thuyết, nhận được hơn 30 giải thưởng văn học và sân khấu, tham dự nhiều hội nghị, nhiều hoạt động về sân khấu, văn học và giáo dục tại nhiều quốc gia khác nhau… Tóm lại, đó là một con người đa năng và ham làm việc, hồi còn ở Việt Nam lúc nào cũng thấy chị đang tất bật, phờ phạc vì cùng lúc phải hoàn tất nhiều việc khác nhau. Đến khi lập gia đình, một cuộc hôn nhân muộn màng sau nhiều lần lỡ hẹn làm cô dâu, tưởng rằng Minh Ngọc sẽ chịu ngồi yên, nhưng không, chị vẫn thế - khi thì đang viết cái này lúc lại đang diễn cái kia, rồi đi đi về về giữa hai nơi - với mẹ ở Việt Nam và với chồng ở Mỹ, tiếp tục những dự án còn dang dở…

Minh Ngọc

Và giữa những công việc đang ngổn ngang đó là cuộc trò chuyện này của chúng tôi…

1. Khi còn ở VN, người ta thấy chị ở rất nhiều vai trò, lĩnh vực khác nhau, là nhà văn, tác giả kịch bản sân khấu, điện ảnh, là diễn viên kịch, diễn viên phim, là cô giáo v.v… Vậy thì lĩnh vực nào là tình yêu lớn nhất của Minh Ngọc? Mặt khác, Minh Ngọc trong vai trò nào, lĩnh vực nào thì thể hiện được chính mình nhất?


Minh Ngọc: 1/ Đã chạm vào những lĩnh vực nầy thì ngoài phần tài năng bẩm sinh còn phải yêu và điên với nó đủ và dư chứ không thể thiếu. Chính vì vậy mà khi đi dạy, tôi thường khuyên những học viên nào không đủ sức thì nên chuyển ngành nhanh. Cũng có nhiều người rất yêu nghề nhưng nghề không yêu lại. Loại tình yêu nầy khó cân đong đo đếm lớn nhỏ, nhất nhì được. Ngày nào nghề còn yêu mình thì mình còn đáp trả lại nó, yêu cái nào nhất có thể do nó yêu mình nhất; mà cũng có thể ngược lại. Có những người mẹ yêu những đứa con ngoan và giỏi, cũng có những bà mẹ dồn hết cho những đứa nổi loạn, đi hoang, khuyết tật, bất bình thường, hay lọt vào những số phận hẩm hiu. Đôi khi tôi thấy hóa ra trò diễn, giúp mình thể hiện cái điên của mình nhất, trò viết, nhất là những ghi chép còn nằm trong ngăn kéo, thể hiện cái tỉnh của mình nhất, còn những trò tổng hợp, để đứa con tinh thần của mình chường mặt được với đời, thể hiện cái hèn của mình nhất.

2. Nhiều năm hoạt động nghệ thuật tất bật ngược xuôi trong nhiều vai trò khác nhau, chị tự nhận xét như thế nào về công việc của mình?


Càng hoạt động nghệ thuật, càng thấy bộc lộ những yếu kém của mình về nhiều mặt. Làm nhiều quá, khó đi chuyên sâu một lĩnh vực nào.

Nhiều mơ ước dở dang.

Khi tôi còn nhỏ, cổ tích cho tôi là chuyện ở tù oan thời Pháp của má tôi. Lớn lên nhiều phen “vào tù, ra khám” để thăm thân nhân, để cùng sống, ăn, ngủ diễn chung với nhiều kiểu tù, vẫn mơ viết một ghi chép về tù Việt qua các triều đại, nhưng mãi, chuyện đó vẫn chưa xong, và chưa biết bao giờ xong.

3. Từ khi theo chồng sang Mỹ sinh sống, chị làm thế nào để tiếp tục được công việc sáng tác, biểu diễn của mình và chị đã làm được những gì?


Thấy tôi sang đây, viết và làm sân khấu mang tính cách “vui là chính”, thù lao nhận được đôi khi “như chuyện thần tiên” đến độ ông xã tôi đề nghị tôi ở không, đừng làm gì hết, kẻo càng làm, càng tự hạ giá mình.

Thật sự ra, giá không nằm ở thù lao. Ví dụ vừa rồi tôi cùng Khánh Ly, Quang Tuấn, Minh Phượng có tham gia chương trình ở Austin, giúp quỹ xây trường dạy văn hóa tiếng Việt cho thiếu nhi ở đây của chùa Linh Sơn. Khán giả Việt nơi đây vốn ít, lại đụng hai cái đám cưới và vài sự cạnh tranh không lành mạnh nên chỉ hơn nửa hội trường, nhưng phải nói là sống gần năm năm trên đất Mỹ, hiếm khi tôi mới được gặp nhóm tổ chức không vì tiền và một đối tượng khán giả tuyệt vời như vậy. Họ không vừa ăn vừa coi, họ không cần xem những la hét thét gào của loại hài dơ hỗn, họ rưng rưng với cảnh ngộ người mẹ đơn độc sống tựa vào hàng xóm khi những đứa hiếu thảo thì không còn nữa, còn đứa có điều kiện lại bị những trói buộc khác không thể lui tới thường xuyên. Họ nghe chị Khánh Ly và anh Quang Tuấn rút ruột tâm tình “hãy yêu nhau đi”, đừng sân hận trách cứ lầm lỗi cũ để vun xới cho thế hệ tương lai. Nghe kể, sau đêm diễn nhiều khán giả không đi xem được đã rất tiếc. Anh Ian Bùi đề nghị chúng tôi về diễn ở Dallas và Fort Worth, vì theo anh khán giả Dallas cũng tuyệt vời như vậy.

Cũng có nhiều lễ Vu Lan tôi bị đi diễn ở những nơi mà thầy trụ trì biến báo còn hơn những bầu sô nổi tiếng tai ngược ở đây. Thấy cách thầy xoay sở để làm được việc mà theo thầy thì “chùa cũng phải trả bill”, tôi vẫn nghĩ nếu nằm nhà tôi sẽ không có được những vốn đời thú vị như vậy.

4. Công việc của chị vẫn là gắn bó với cộng đồng người Việt ở bên ngoài hay chị đã tìm cách đặt những bước chân vào môi trường văn hóa nghệ thuật rộng lớn hơn, ví dụ như của quốc gia mà chị đang sống?


Thành phố nơi tôi sống hiếm có người Việt trừ vài tiệm nail, vài nữ tu sĩ, vài gia đình chồng Mỹ, vợ Việt qua đây từ trước 1975. Thành phố có một rạp hát độc nhất và tôi vẫn thường tham gia vài dự án kịch và performing art với họ nếu hợp vai. Đó là những kịch bản cũ của Mỹ (nhưng có thể vẫn mới với Việt Nam). Với cộng đồng Việt ở các tiểu bang khác thì chỉ tham gia như người viết trong hòan cảnh ở xa xôi như vầy (các cô bán vé máy bay vẫn gọi đùa là vùng “kinh tế mới” của Mỹ). Hiện tôi đang chuẩn bị chương trình kịch về Việt Nam cho Nhà Hát ở Liên Á tại New York với vở “Chúng Tôi Là” vào tháng Ba năm tới. Vở này tôi viết về đời sống của phụ nữ Việt Nam lấy chồng ở nước ngoài, có người thành công, cũng có người thất bại. Vở được viết sau cái chết của cô Huỳnh Mai ở Hàn. Giờ thì đã có thêm vài cái chết nữa, trong đó có một cô gái Việt trùng tên với mình.

5. Nhận xét và kinh nghiệm làm việc của chị giữa hai môi trường hoạt động nghệ thuật trong nước và của cộng đồng người Việt bên ngoài?


Với người mà quỹ thời gian còn ít như tôi, ngồi ghi lại những nhận xét và ghi nhớ lại những kinh nghiệm sẽ vô cùng nguy hiểm. Vì nó sẽ làm lõm mất thêm thời giờ để sáng tác những tác phẩm đích thực“là mình”. Tôi thấy ở trong hay ngoài nước, đây cũng là nghề nguy hiểm, nếu thật sự mình muốn đi tới cùng điều mình muốn làm.

6. Chị nghĩ gì về văn học, sân khấu, điện ảnh trong nước và của cộng đồng người Việt ở bên ngoài?


Ít người phân biệt được chính phẩm và phế phẩm, thứ phẩm.

Trong thời buổi các sản phẩm văn hóa được “hàng hóa hóa”, đẻ ra đứa con, thấy không bị dị tật là mừng cho con. Như người mẹ sanh con khó, tuổi nhiều, thì giờ sắp hết, chỉ mong đẻ nốt những đứa còn nằm vắt vẻo giữa đường ranh sanh tử. Nhớ câu ông bà dặn “thương cha chớ chọc ăn mày”, chẳng muốn ngó xiên ngó xéo trẻ nhà người lẫn các nền tảng này nọ. Cũng có thể là sợ quả báo, nếu ai cũng ngậm miệng, cố đẻ những đứa trẻ như là lần sanh nở cuối của mình, mong là sẽ lại có những tác phẩm chính phẩm tử tế.

Thái độ này có thể nói là kết quả của việc sanh khó và hiếm muộn, lại sống trong thời buổi các loại nền suy vi như vầy, khi mà hiếm có những tác phẩm hay với ba chữ Bi – Trí - Dũng hoàn hảo phải có, tôi chỉ cố gắng sáng tác sao cho ít hèn nhất.

Coi như cũng là một thiên chức phải hoàn thành của một cá nhân sáng tác.

7. Sau khi lập gia đình và ra nước ngoài, chị vẫn đi đi về về hoạt động giữa hai môi trường, so với trước kia chỉ sống và làm việc ở VN, chị đã có những nhận thức và những trải nghiệm mới mẻ như thế nào và những điều này được chị đưa vào tác phẩm ra sao?


Nhiều người nói trong nước ngồn ngộn đề tài, ở xa có thể biết, nhưng sống với nó, khác xa với chuyện ở xa đọc hay nghe về nó.

Cũng có trường hợp, cũng cảnh ấy nhưng qua ống kính những người nước ngoài mới lung linh làm sao, kể cả những cảnh tưởng là nhếch nhác.

Cho dù ở đâu, sự thông thương cũng tốt hơn nước đọng, ao tù.

Có người nói với tôi, đặc tính của người Việt là thích về, còn người Mỹ thích đi.

Đi về Việt Nam với tôi bây giờ mang một ý nghĩa kép: vừa về, và cũng vừa là đi. Những chuyến đi như vậy hạnh phúc của con người sáng tác được nhân đôi.

Chỉ có một điểm khác lớn là cuộc sống gia đình quá khác với cuộc sống độc thân. Trên phương diện là người vợ, cứ phải để bếp nhà lạnh hơi nhiều (với chồng tôi, nhưng vẫn là ít với tôi, thời độc thân) như vậy e cũng ít nhiều bất phải với người bạn đường.

Hy vọng khi ông xã tôi nghỉ hưu, chúng tôi sẽ thu xếp để cuộc sống người vợ và con người sáng tác trong tôi được hòa giải và hòa hợp với nhau.

8. Để sống, tồn tại và sáng tác qua các thời kỳ, chế độ, vùng đất khác nhau (miền Nam trước 1975, Việt Nam sau năm 1975, trong cộng đồng người Việt ở hải ngoại), chị có nghĩ rằng mình đã phải giấu mình đi hay phải biến màu đi ít nhiều? Quan điểm chính trị, quan điểm về nghệ thuật của chị có thay đổi gì qua những thời kỳ, những vùng đất khác nhau đó?


Đơn giản thôi, tôi biết SỢ những oan hồn khuất lấp của thế giới tâm linh và biết TRÂN TRỌNG những tiếng thét câm của những người không nói được.

Và tôi biết KHÔNG SỢ những người bất nhân, cũng như biết KHINH loại người bất nghĩa.

Khi trang bị được tinh thần đó, trung thành được với chính mình thì việc gì phải giấu biến, vì tất cả lộ hết ra tác phẩm của mình rồi. Dĩ nhiên, tôi cũng gặp nhiều trở ngại, loại trở ngại chưa phơi ra công luận được.

Tạm thời, tôi sống theo lời khuyên của một câu thoại trong vở kịch “Dư Luận Quần Chúng” của một tác giả Rumani : “Đạo đức trong thời đại mới này là Không ngạc nhiên, không kêu ca, không sợ hãi”.

Tôi hiểu mình phải tránh xa các loại người “trở cờ”. Cờ của tôi không có màu, chỉ có tiếng nói câm của chữ Minh trong tên tôi, mà tôi hy vọng là nó gần với câu “Vật bất đắc kỳ bình tắc minh”.

9. Những chia sẻ của chị về những thuận lợi, khó khăn, vui, buồn… trong nghề nghiệp và trong đời thường khi là một phụ nữ làm văn hóa văn nghệ lại hoạt động trên nhiều lĩnh vực khác nhau?


Có lần nhờ là phụ nữ, tôi được cho phép phát biểu trong một buổi họp mặt dân làm nghề năm năm mới có dịp hội tụ ba tiếng mà chủ tọa đã dành hết hai tiếng bốn mươi lăm phút để đọc những tờ giấy lẽ ra nên in ra và phát cho mọi người. Tôi muốn rớt nước mắt khi nhìn thấy những nghệ nhân gần đất xa trời đến đó lên tiếng kêu cứu về một nền nghệ thuật truyền thống đang tuột xuống điểm âm. Tôi không nhớ mình đã dùng vài phút hiếm hoi được nói đó để nói những gì, nhưng tôi biết rõ mình đã không nhân danh một phụ nữ mà là một “Con Người”, một cá nhân muốn được mình và các đồng nghiệp làm nghề một cách tử tế.

Những rắc rối tôi gặp, đôi khi không phải vì ý tưởng, văn phong của chính tôi, mà còn vì hồi thế kỷ 20, tôi nhắc lại mấy câu thơ của vài người chết trẻ.
Ví dụ câu thơ trước khi tự thiêu của Nhất Chi Mai (1934-1967):
Tôi thấy mình hèn yếu!
Tôi nghe lòng đắng cay!
Sống mình không thể nói
Chết mới được ra lời!.


Hay câu thơ trong bài “Chúc Tết” của Tú Xương (1870- 1907):
Chúc cho khắp hết ở trong đời.
Vua, quan, sĩ, thứ, người muôn nước.
Sao được cho ra cái giống người


Mãi đến sang thế kỷ 21, tôi mới hiểu loại người nào lồng lộn khi nghe nhắc lại những câu thơ ấy.

10. Nếu bây giờ chọn một tác phẩm, một đề tài cần nhất phải thực hiện như là một mong muốn và thôi thúc lớn nhất, với chị sẽ là gì?

Đó là một tác phẩm để tìm những tri âm khác không gian và thời gian, chắt sạch những vết hèn còn sót lại trong tiềm thức, để các thế hệ chưa sanh ra đủ tỉnh táo nhận ra cái bản lai diện mục của cái thời mình đang sống qua những lời lẽ lăng ba vi bộ mà có thể thời này cho là lời lảm nhảm của một ả điên say.

Tạm đặt tên tác phẩm đó là X.

Tôi chỉ mong muốn mình được thấy khi đứa con tinh thần tên X được ra đời đầy đủ như một sinh linh khỏe mạnh trong giai đoạn mình còn sống và tỉnh táo, không phải ở thế
Chấp tay tôi quỳ xuống
Chịu đau đớn thân này
Mong thoát lời thống thiết!
Dừng tay lại người ơi!


như Nhất Chi Mai.

Cảm ơn chị về cuộc trò chuyện này.

SONG CHI.
8.2010.


1 nhận xét:

  1. Đọc bài phỏng vấn này, có thể người ta có cảm giác chung là Minh Ngọc không sợ bạo quyền, thế lực, tuy nhiên trong từng câu trả lời, MN đã mượn những lời hoa mỹ, có khi sáo rỗng để trả lời loanh hoanh. Đọc xong thấy... trớt quớt. Uổng quá. Minh Ngọc ơi, đã không sợ thì cứ nói thẳng. Đây là một cuộc phỏng vấn chớ có phải một vở kịch đâu. Hay Minh Ngọc muốn chứng tỏ mình có khả năng lèo lái cuộc phỏng vấn? Về Song Chi, sao không "đè" Minh Ngọc để hỏi lại câu hỏi mà phần trả lời còn quá mông lung? Phải chăng Song Chi đã gởi những câu hỏi cho Minh Ngọc, và Minh Ngọc đã trả lời bằng... giấy mực?

    Trả lờiXóa