Thứ Tư, 18 tháng 8, 2010

GIỌT LỆ CHELSEA

Lê Hữu

LTS. Truyện dưới đây là một câu chuyện thời sự có thật phần nào được tiểu thuyết hóa.
Kỳ 2 - (Tiếp theo)

Thứ Bảy, 18/11/2000

Mình đứng cạnh mẹ trong lúc bố đứng giữa Daniel và David, hai người con trai của Trung tá Lawrence Evert. Bố đang lắng nghe Daniel kể lại với giọng nghẹn ngào những hình ảnh cuối cùng về người cha mà ông ta vẫn còn giữ được trong trí nhớ. "Tôi còn nhớ rõ hôm ấy là một ngày hè oi ả vào cuối tháng Bẩy năm 1967, cả nhà tôi ra tận phi trường ở Phoenix, Ariz. để tiễn bố tôi sửa soạn bay đi Nam Việt Nam. Ông ấy chậm rãi bước lên thang máy bay, chậm rãi quay lại vẫy vẫy chúng tôi trước khi bước vào lòng máy bay. Rồi bố tôi biến mất. Ông không bao giờ về lại nữa, và đó đúng là lần cuối cùng chúng tôi được nhìn thấy bố." Daniel nói khi ấy ông mới 8 tuổi và David, em trai ông, mới 6 tuổi. "Mẹ tôi kể, năm ngày sau khi máy bay bố tôi bị bắn rơi, Elizabeth, đứa em gái út của chúng tôi ra đời. Trước đó, bố có gọi phone về nhà thăm hỏi mẹ tôi, và nói là ông dự tính trở về Arizona sau phi vụ ấy để kịp có mặt trong ngày sinh của nó. Liz chẳng bao giờ biết mặt bố nó."

Đến đây thì Daniel làm cho mình phải khóc thật. Mình cố kềm lòng nhưng nước mắt cứ ứa ra không sao ngăn lại được, và cảnh vật trước mắt mình bỗng dưng nhòa đi. Mình lau vội nước mắt, nhưng có mấy phụ nữ người Việt ở gần đó trông thấy. Họ cứ nhìn mình chằm chằm. Chẳng biết họ nghĩ gì. Trông họ có vẻ quê mùa và hiền lành quá. Vài người trong số họ đội những chiếc nón lá cũ kỹ, đi chân đất, quần áo lấm bẩn. Mình quay sang mẹ, thấy khuôn mặt mẹ lặng yên. Đôi mắt mẹ giấu sau cặp kính đen nhưng mình chắc là mắt mẹ cũng đỏ hoe. Mẹ vẫn hay đeo kính đen như vậy. Mọi người vẫn cứ tưởng mẹ là người phụ nữ cứng cỏi lắm, nhưng thực ra chỉ có mình biết là mẹ rất nhạy cảm và dễ xúc động. Mẹ lại mới nhận được tin vui được bầu vào ghế thượng nghị sĩ của New York tuần trước. Bố mẹ ôm nhau mừng rỡ. Cả nhà đều vui, nhất là bố. Buddy cũng vui nữa, cứ luẩn quẩn bên mẹ, ngúc ngoắc cái đuôi. Mẹ phải trả lời nhiều cú điện thoại từ khắp nơi gọi đến chúc mừng... Chú Gore thì không biết thế nào, liệu có thắng nổi không, bố cứ lo cho chú ấy. Ngày mình về chắc là đã có kết quả chính thức rồi.

Bắt chước mẹ, mình cũng lấy kính mát đeo vào. "Cô khóc à, Chelsea?" Nghe tiếng hỏi, mình quay sang và nhận ra David. Ông ta đứng cạnh mình lúc nào. "Câu chuyện không mấy vui phải không?" David nói. "Daniel không nên kể chuyện đó lúc này." Rồi ông ta bỗng hỏi, "Có phải tên của cô được lấy từ bài hát Chelsea Morning của Joni Mitchell không?" Mình gật đầu, ngạc nhiên, hỏi sao ông ta biết. David mỉm cười và nói ông ta còn biết nhiều chuyện khác về mình. Mình tính hỏi còn chuyện gì nữa, nhưng thôi. David nói ông ta thích cái tên ấy và hỏi ai đặt cho mình vậy. Mình trả lời, "Chắc là mẹ. Mẹ tôi nói đó là tên của bài hát mà bố và mẹ đều yêu thích thuở hai người mới quen nhau." David nói, "Thế thì cô phải cám ơn mẹ cô. Mẹ tôi cũng thích bài hát đó nhưng bà không nghĩ ra việc đặt tên nó cho đứa em gái tôi." Mình thấy ông ta nói chuyện vui vui. Rồi David lại hỏi, "Buổi sáng cô là Chelsea, thế thì buổi chiều, buổi tối cô vẫn là Chelsea chứ không phải là người nào khác chứ?" Mình không hiểu rõ lắm ông ta muốn nói gì, nhưng cũng trả lời, "Sáng trưa chiều tối gì cũng vậy thôi, đâu có gì thay đổi." "Chắc chắn như thế chứ?" ông ta cười và hỏi tiếp. Mình sợ câu hỏi ấy có thể là cái trick nên chỉ mỉm cười, không trả lời.

Bố đang nói gì đó với Daniel, chỉ tay xuống khu vực đang được đào xới, những tảng đất bùn đỏ quạch. "Cô biết không," David nói, "có một dạo, lúc còn nhỏ, hai anh em tôi vẫn cứ nghĩ là bố còn sống, và cứ bàn tính với nhau làm cách nào đến được Việt Nam để giải cứu bố ra khỏi nhà tù và đưa bố về lại nhà, giống như là những chàng hiệp sĩ trừ gian diệt bạo vậy. Thật buồn cười!" Mình chẳng thấy chút gì gọi là "buồn cười" cả, làm sao mà có thể cười được những chuyện như vậy chứ. “Chúng tôi nói với mẹ,” David lại kể tiếp, “nhưng mẹ chỉ im lặng, chẳng nói gì. Mẹ thường dắt chúng tôi đến nhà thờ để cầu nguyện cho bố... Đến khi lớn lên một chút, tôi hiểu rằng việc ấy không thể nào thực hiện được, và tôi cũng hiểu được sự im lặng của mẹ tôi. Mẹ tôi đã im lặng như thế suốt bao năm. Bà sống lặng lẽ như một cái bóng, hầu như không muốn tiếp xúc, chuyện trò với bất cứ ai về sự vắng mặt lâu năm của bố tôi, làm như là ông đã chết rồi vậy, mà đúng là ông chết thật. Mãi cho đến lúc không có mặt bố tôi trong số những người tù cuối cùng được trả về, lần lượt bước xuống thang máy bay, tôi hiểu rằng mọi chuyện đã thực sự kết thúc, như là chiến tranh đã kết thúc, và cũng dập tắt hoàn toàn niềm hy vọng của mẹ tôi. Liz, đứa em gái út của tôi cũng ít nói ít cười giống như mẹ tôi vậy. Đôi lúc tôi… không hiểu được nó."

David nói với giọng đều đều như người nói một mình. Nước mắt mình lại muốn ứa ra, nhưng lúc này mình đã đeo kính mát nên ông ta không thể biết được. Mình chẳng biết nói sao nên chỉ im lặng. David trách Daniel kể chuyện buồn, nhưng câu chuyện ông ta kể nghe lại càng buồn hơn. Sau đó là những phút im lặng. David đứng yên một lúc, chăm chú quan sát đám người đang làm việc bên dưới, rồi ông hạ thấp giọng, bùi ngùi, "Thật hết sức cảm động khi nhìn những người dân quê Việt Nam đang mải miết làm công việc cực nhọc, mò mẫm trong những vũng đất bùn để thu nhặt cho bằng được từng mẩu xương vụn của bố tôi lẫn trong đó. Chúng tôi muốn nói cho họ hiểu được rằng chúng tôi yêu mến họ, và thực tình là không hề giữ trong lòng chút hờn oán nào đối với họ; mà ngược lại, chúng tôi còn cảm kích và biết ơn họ đã giúp đỡ tìm kiếm bố chúng tôi nữa." Nhìn vẻ mặt David lúc đó mình hiểu là ông ta nói thật. David nói thêm, "Tôi tin là bố tôi sẽ rất vui sướng khi mà những con trai của ông sau cùng đã tới được nơi đây để đưa ông về lại quê nhà, kề cận mẹ tôi." Thực tế, người ta chỉ đưa về được những mẩu xương vụn, mình nghĩ, và chỉ biết nói phụ họa, "Tôi cũng tin là như vậy." Trông David có vẻ thật thà, dễ mến.

(AP Photo/David Guttenfelder)

Im lặng một chút, David nói, "Tôi có vật này cho cô." Ông ta lấy ra từ trong túi áo một cái túi nhỏ, dẹp, giống như là cái bao đựng kính đeo mắt vậy, rồi ông ta từ từ rút ra một chiếc lược bằng nhôm. "Chiếc lược này được làm bằng một mảnh kim khí từ chiếc máy bay bị bắn rơi của bố tôi ngay tại chỗ này. Những người thợ thủ công Việt Nam ở đây đã làm thành những sản phẩm xinh xắn là những chiếc nhẫn và những chiếc lược như thế này đây. Tôi có ý định tặng nó cho một phụ nữ nào đó trong chuyến đi này." David nói, mỉm cười, nhìn thẳng vào mắt mình. "Khi nãy tôi thấy cô khóc vì câu chuyện của bố tôi, và bây giờ tôi muốn tặng cô chiếc lược này. Cô không từ chối chứ?" Mình ngạc nhiên, "Nhưng đây là kỷ vật của ông và gia đình, tôi không thể..." "Cô đã chia sẻ chút kỷ niệm về bố tôi nên tôi cũng muốn cô cùng chia sẻ với chúng tôi những kỷ vật này." David nói và nhẹ nhàng đặt chiếc lược vào lòng bàn tay, xoè ra trước mặt mình trong một dáng vẻ trịnh trọng. Mình hơi lúng túng nhưng rồi không hiểu sao mình lại đưa tay cầm lấy chiếc lược ấy, và cả cái bao đựng lược nữa. "Tôi sẽ giữ mãi vật này," mình nói nhỏ.

Sau đó David bước lại đứng cạnh Daniel, nghe bố nói chuyện. Bố ngỏ lời khen ngợi và cám ơn toán công nhân Mỹ-Việt đang làm việc ở đây. Mắt bố cũng rớm lệ, và giọng bố nghe run run, có lẽ cũng vì cảm xúc. Nghe nói ngày xưa bố từng tham gia phong trào phản chiến trong thời kỳ chiến tranh Việt Nam. Mình cũng không biết bố làm vậy là đúng hay sai nữa. Chắc là bố chỉ muốn kêu gọi mọi người ngừng tay bắn giết để chấm dứt thảm họa chiến tranh. Hơn 50 ngàn người lính Mỹ đã gục chết trên vùng đất xa xăm, quạnh quẽ này, và nghe đâu tới mấy triệu người lính Việt nữa. Những con số thật khủng khiếp. Đã có biết bao nhiêu người con David mất cha, biết bao nhiêu người vợ Evert mất chồng. Những người đi rồi không về lại nữa... Mình đâu có biết gì nhiều về cuộc chiến tranh ấy. Liệu có phải dốc toàn lực binh hùng tướng mạnh để đánh nhau với những con người quê mùa, lam lũ như thế này. Chiến tranh vô lý quá, tại sao người ta lại phải tìm cách giết hại lẫn nhau? Ở nước mình, muốn khép tội chết một người nào, phải qua bao nhiêu là xét xử. Thế mà trong chiến tranh, người ta giết người hàng loạt, nhanh chóng và dễ dàng. Thật lạ lùng! Mình không hiểu nổi, nhưng mình chỉ nghĩ, việc đó không thể xảy ra trong một xã hội văn minh. Giết hại đồng loại là việc làm độc ác nhất trong số những việc làm độc ác... Vẫn còn hơn 1.500 người lính Mỹ mất tích nghĩa là vẫn còn những đứa con tiếp tục đi tìm dấu vết những người cha thân yêu, vẫn còn những người mẹ đang sống âm thầm như chiếc bóng. Rồi lại còn biết bao nhiêu người mẹ Việt Nam nữa chứ. Những bà mẹ Mỹ hay bà mẹ Việt Nam đều giống nhau. Như mẹ mình, như tất cả những bà mẹ trên đời, mình tin là như vậy.

Những người dân quê đứng quanh đó mở to mắt nhìn chăm chăm vào đoàn người mới đến thăm ngôi làng nhỏ bé của họ như thể đang quan sát những sinh vật lạ lùng đến từ ngoài trái đất. Biết đâu gia đình họ lại chẳng có người thân chết trong cuộc chiến đó. Thế nhưng, trong cái nhìn tò mò của đám người ấy, mình không thấy vẻ gì là oán ghét, thù hằn cả. Trông họ cũng không có vẻ gì là dữ tợn. Liệu họ có tìm cách che giấu vẻ dữ tợn trong cái vỏ hiền lành ấy không? Mình không tin như vậy. Mình chú ý nhất là những đứa bé đen đủi, lem luốc, chỉ mặc độc chiếc quần cụt. Phía xa xa là những túp lều tranh lụp xụp, những thửa ruộng xiên xẹo ngập nước và bùn. Ngoài ra chẳng có gì cả. Họ sống trong những túp lều đó sao? Họ sinh ra, lớn lên, và sống như vậy suốt đời trên mảnh đất này sao? Mình nghe nói đây là một đất nước nghèo nàn, nhưng mình vẫn không thể hình dung được cái nghèo của họ ra sao cho đến khi trông thấy tận mắt... Thực sự, chưa có chuyến đi nào làm mình phải khóc và mang cảm giác nặng nề đến vậy.

Chỉ ít tuần nữa thôi bố đâu có còn là Tổng Thống nữa. Mình hiểu tại sao bố đã dành những ngày tháng cuối nhiệm kỳ để đến thăm đất nước này. Bố từng nói với mẹ và mình nhiều lần về ý định ấy, nhưng mãi đến bây giờ bố mới thực hiện được. Bố có vẻ chuẩn bị rất kỹ cho bài diễn văn đọc ở Ðại học Quốc gia Hà Nội hôm qua. Bố có đọc thử phần mở đầu và phần kết cho mình nghe. Mình chỉ cười, nói, "Con chỉ sợ chẳng ai hiểu gì cả khi nghe bố nói mấy câu tiếng Việt mở đầu ấy." "Đây sẽ là bài diễn văn lịch sử, lần đầu tiên được đọc ngay giữa thủ đô của một nước từng là thù địch của Hoa Kỳ trong nhiều năm qua," bố nói, làm ra vẻ trịnh trọng, và nháy mắt với mẹ và mình. Bố hay dùng chữ "lịch sử" khi nói đến chuyện gì quan trọng. Mẹ chỉ mỉm cười, nhún vai, nói với mình, "Bố muốn đi vào... lịch sử."

Một đoạn khác:
…………..

"Ái nữ của Ngài thật tuyệt. Cô ấy làm tôi nhớ đến Emily, cô con gái yêu quý của Norman Morison, chiến sĩ đấu tranh cho hòa bình. Emily cũng từng sang thăm Việt Nam trước đây cùng với mẹ cô, và họ quả là biểu tượng đẹp cho tình hữu nghị thắm thiết giữa hai dân tộc." Bố kể mình nghe là trong cuộc gặp gỡ các nhà lãnh đạo ở Hà Nội hôm nay, người ta đã nói về mình như vậy. Khi mình hỏi bố là giữa mình và cô Emily ấy (cô gái có ông bố tự thiêu trước Tòa Bạch Ốc năm 1965 để phản kháng chiến tranh Việt Nam) có điểm nào giống nhau, bố chỉ cười, "Ông ấy nói chuyện chính trị ấy mà, đừng có thèm để ý." Mình ghét chiến tranh và cũng không thích chính trị chút nào hết. Thiếu gì những đề tài hấp dẫn và thoải mái hơn, như thể thao, văn chương và nghệ thuật chẳng hạn, tại sao người ta lại cứ phải đưa những lời lẽ ngoại giao và chính trị vào trong những câu chuyện tản mạn bên những tách trà. Mình thấy những lời lẽ ấy có một vẻ gì không thật. Mình ghét sự giả dối. Đấy là lý do mình sẽ chẳng bao giờ chọn con đường của bố và mẹ…

Tính bố thì chẳng bao giờ xem việc gì là quan trọng cả và lúc nào cũng đùa được. Chẳng hạn, lúc bắt tay chào từ giã mọi người khi rời Hà Nội, bố nói, "Tôi phải chạy về để coi thử ở nhà đã có Tổng Thống mới chưa."

Chủ Nhật, 19/11/2000

………………..

Mình đã lo cho bố khi bố bị vây kín trên đường phố Saigon. Mẹ cũng lo cho bố, mọi người đều lo cho bố, nhưng có vẻ như bố chẳng lo sợ gì cả. Bố cứ sấn tới, mỉm cười, bắt tay từng người. Hầu hết là thanh niên. Đám đông chen lấn, xô đẩy, nhiều người cố chồm tới, vươn tay về phía bố. Có người bị té ngã, rồi bị những người khác đè lên. Mình thấy những cảnh sát người Việt chạy tới chạy lui, la hét, nhưng không sao ngăn cản được họ. Những nhân viên an ninh cao lớn cũng phải chen lấn để bám sát bố. Quang cảnh gần như hỗn loạn. Mình không thể biết được tình cảm đích thực của họ đối với bố như thế nào, nhưng trông họ có vẻ thân thiện nên mình cũng bớt lo. Có người cuồng nhiệt quá như bị kích động, kêu lớn tên bố, cố ý cho bố nghe thấy. Rồi bố cũng nghe thấy, nhưng người đàn ông đứng xa quá, bố không tới gần được, bố chỉ đưa tay ngoắc ngoắc. Bố cũng đã được đón chào cách đó ở Hà Nội hôm kia. Thực ra, trong những lần đi với bố trước đây, mình cũng từng chứng kiến cảnh bố được chào đón nồng nhiệt như vậy nhiều lần ở nhiều nơi khác nhau. Tuy nhiên, gần như đây là lần đầu tiên cảnh này diễn ra ở một đất nước từng là cựu thù của Mỹ, khi mà những vết thương chiến tranh không chắc đã thực sự lành lặn, và không ai biết chắc được tình cảm và phản ứng của dân chúng sẽ ra sao (?). Thế nào trong đám người trẻ tuổi chào đón bố hôm nay lại chẳng có những người mà gia đình họ từng là nạn nhân của chiến tranh, của bom đạn Mỹ, vậy mà trông thái độ, cử chỉ, và mắt nhìn của họ đâu có vẻ gì là thù ghét người Mỹ. Thỉnh thoảng có tiếng gọi lớn tên mẹ trong rừng người dọc hai bên đường phố.
"Chelsea!" tiếng người nào đó gọi lớn tên mình. Giọng một phụ nữ thì phải. Đám đông nhốn nháo, những cánh tay giơ cao, ngoắc ngoắc. Mình chẳng nhận ra ai cả. "Chelsea, tôi đây nè. Tôi biết cô!" Tiếng gọi lớn hơn. Chắc chắn mình không nghe lầm. Mình quay qua quay lại tìm kiếm, nhưng chỉ thấy người và người. Mình chỉ biết mỉm cười, bắt chước mẹ, giơ tay vẫy vẫy về phía phát ra tiếng gọi ấy...

Một đoạn khác:

………………….

Cái món "pho" này cũng khá ngon đấy chứ. Mọi người có vẻ ngạc nhiên và thán phục khi thấy bố sử dụng đũa một cách thành thạo. Họ đâu có biết là bố đã phải practice nhiều lần, không phải mới đây mà từ chuyến đi Trung quốc năm trước. Trông bố ăn ngon lành. Bố được cái là dễ ăn và ăn khỏe, cái gì cũng gật gù khen ngon, chẳng biết khen thật hay khen giả. Bố ăn đến hai tô lớn, một phở bò, một phở gà, trong lúc mình chỉ dám ăn một tô nhỏ. Ăn xong, bố còn đòi uống thêm ly nước trái cây xay, và phải là xoài bố mới chịu, rồi lại thêm một ly café sữa nữa. Bố ăn rất nhanh, sau đó bố lấy giấy bút viết ra những ý chính cho bài nói chuyện sắp tới. Bố có cái tài là có thể làm việc ở bất cứ nơi đâu, bất cứ lúc nào, lúc ăn sáng, ăn trưa, lúc trên xe, trên máy bay, lúc trong phòng, ngoài vườn. Lúc nào bố cũng có sẵn cây bút, mảnh giấy trong người, lúc nào bố cũng có thể tập trung tư tưởng, ghi ghi chép chép được. Mình vẫn phục tài ứng khẩu của bố trong những lần nói trước đám đông. Mình lại không được như bố. Cứ thấy bao nhiêu cặp mắt chòng chọc nhìn về phía mình là mình đã run rồi. Trong bài diễn văn đọc ở Đại học Quốc gia Hà Nội hôm kia, mình nghe loáng thoáng bố nói đến việc xây dựng một tương lai tốt đẹp hơn cho trẻ em Việt Nam và Hoa Kỳ của một thế hệ mới, thế hệ của sự hợp tác và tình hữu nghị giữa hai nước. Mình từng nghe bố lặp đi lặp lại nhiều lần ở nhiều nơi khác nhau những điều tương tự. Đó quả là những điều tốt đẹp và chắc là mọi người cũng đồng ý như vậy, thế nhưng có thực hiện được hay không vẫn là chuyện khác. Câu mình thích nhất trong bài diễn văn ấy là câu mà bố trích dẫn lời của ông đại sứ Peterson, "Chúng ta không thể thay đổi được quá khứ, nhưng chúng ta có thể thay đổi được tương lai."

Những đoạn tiếp theo là những hàng chữ rời rạc, có đoạn chỉ một hai hàng ngắn ngủi... Chắc là Chelsea chỉ ghi vội vã vì không đủ thì giờ, hay là vì không có chuyện gì đáng ghi, và tôi cũng chỉ đọc lướt qua... Mắt tôi dừng lại ở một đoạn khác:
(Còn tiếp một kỳ)

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét