Thứ Bảy, 7 tháng 8, 2010

HỒI KÝ NGUYỄN HIẾN LÊ – Tập III

LTS. Kể từ hôm nay, tạp chí Diễn Ðàn Thế Kỷ hân hạnh giới thiệu với bạn đọc Tập III Hồi Ký của Nguyễn Hiến Lê. Bộ Hồi Ký gồm ba tập này đã được nhà xuất bản Văn Nghệ tại Nam California ấn hành vào năm 1988, cách đây 22 năm.

Nguyễn Hiến Lê là một học giả có tiếng tại miền Nam Việt Nam trong thời gian đất nước Việt Nam bị chia cắt, các tác phẩm biên khảo và dịch thuật của ông đã đóng góp rất lớn vào đời sống văn hóa của miền Nam trước kia và là gia tài chung cho cả nước bây giờ và mai sau. Trong mấy thập niên qua, tại Việt Nam sách của ông được in lại khá nhiều, kể cả bộ Hồi Ký của ông, nhưng thiếu tập III, nói về những năm sau 1975 khi tác giả sống dưới chế độ mới do những người chiến thắng mang từ ngoài Bắc vào Nam.

Chúng tôi rất cám ơn ông Võ Thắng Tiết, giám đốc nhà xuất bản Văn Nghệ ở Nam California, đã cho phép Diễn Ðàn Thế Kỷ đăng lại trọn Tập III của bộ Hồi Ký Nguyễn Hiến Lê, trong đó nói lên những cảm nghĩ trung thực của một trí thức miền Nam sau khi đã biết thế nào là đời sống dưới chế độ cộng sản.


DÐTK

*

Nguyễn Hiến Lê

HỒI KÝ

LỜI NHÀ XUẤT BẢN

Truyện dài “Cộng sản bịp bợm” tiếp diễn đã bảy mươi năm, và sẽ còn tiếp diễn mãi không biết đến bao giờ mới dứt. Vô số người từng bị lừa, trong đó có khối kẻ thuộc hạng đại trí thức: khoa học gia, nghệ sĩ, triết gia, học giả v.v... tên tuổi vang lừng khắp hoàn cầu. Ðến khi thức tỉnh, những phần tử lương thiện nhất đấm ngực chịu tội trước dư luận; số lớn còn lại thì im lặng, nín khe nghe trong sự bẽ bàng. Còn quần chúng, còn các dân tộc không thức tỉnh kịp thời trước khi đại họa xảy đến, thôi thì chỉ có kêu trời, và vùng vẫy, và quằn quại.

Truyện dài “Cộng sản bịp bợm” đại khái cũng như chuyện “xem thơ Trạng Quỳnh”, có khác là khác nhau ở chỗ chuyện Trạng Quỳnh đưa tới một tiếng chửi đổng rồi một trận cười, còn chuyện cộng sản thì đưa tới chỗ tàn đời.

Trước tháng 8-1945 cũng như trước tháng 4-1975, số đồng bào ta khắp Nam Bắc bị cộng sản lừa bịp chắc chắn phải đến nhiều triệu người. Học giả Nguyễn Hiến Lê là một.

Ông Nguyễn đã đọc sách viết về cộng sản, đã nghe những lời khen chê về cộng sản, đã tìm hiểu về cộng sản, nhưng sau khi cộng sản chiếm xong miền Nam, ông sống với chúng ít lâu, rồi ông sững sờ. Chưa từng có thời nào tệ đến thế.

Sự thức tỉnh nào dưới chế độ cộng sản cũng đau đớn: Ông Nguyễn đã có lần rưng rưng nước mắt. (trang 486 bản thảo) Ông xác nhận: “Muốn thấy chế độ đó ra sao thì phải sống dưới chế độ dăm năm. Ðó là bài học đầu tiên và vô cùng quan trọng mà tôi và có lẽ cả 90% người miền Nam rút được từ 1975 tới nay. Muốn nghe ai phê bình, khen chê gì thì nghe, muốn đọc sách gì thì đọc, dù là người thông minh, chịu suy nghĩ, cũng chỉ biết lờ mờ một chế độ thôi.” (trang 473 bản thảo).

Và ông viết hồi ký, ghi lại những điều mình đã thấy về cộng sản.

Ông Nguyễn viết xong hồi ký sau năm năm sống dưới chế độ cộng sản, nhưng sự thức tỉnh chắc chắn không ngừng lại sau năm năm. Hồi ký viết năm 1980, ngay một năm sau ông đã phải “sửa lại nhiều chỗ”, phải viết lại mấy đoạn, phải thêm vào một số ghi chú, và lại nhận là mình vừa lầm nữa! (trang 510 bản thảo). Nếu ông không sớm qua đời, quá trình thức tỉnh của ông sẽ còn tiếp tục, và biết đâu ông không rút thêm một bài học thứ hai, là: dăm năm chưa đủ biết hết các trò bịp của cộng sản.

Nhưng mặc dầu hồi ký chấm dứt sớm, mặc dù sự nhận định của ông lúc bấy giờ có thể chưa phù hợp với nhận định của nhiều người trong chúng ta hiện nay, ông Nguyễn cũng đã để lại cho chúng ta một tài liệu có giá trị. Trong vòng trên mười năm qua hiếm có tài liệu nào kể tội cộng sản Việt Nam được khúc chiết và toàn diện như vậy.


*

Vả lại ngoài giá trị của tác phẩm, còn có tấm lòng của tác giả.

Nguyễn Hiến Lê là một trong số những nhà văn đóng góp nhiều nhất vào nền văn học miền Nam. Trong suốt ba mươi lăm năm ông cúc cung tận tụy vừa viết vừa dịch trên trăm tác phẩm; sự nghiệp ấy - về phẩm cũng như về lượng - là một hãnh diện của văn học miền Nam chúng ta. Sau ngày cộng sản đến, ông vẫn tiếp tục trước tác, nhưng tuyệt nhiên không cho in một trang sách nào dưới chế độ mới. Mọi bản thảo, mọi di cảo của ông, một khi viết xong liền được chuyển ra hải ngoại. Sách ông viết đã giúp ích nhiều thế hệ thanh niên trong nước, sách ông viết lại đuổi theo chúng ta trên bước đường lưu vong, thân xác ông đã vùi xuống quê hương miền Nam, nhưng tác phẩm của ông, tâm hồn ông vẫn hướng về chúng ta; sự lầm lẫn trong đời, ông cũng hướng về chúng ta mà bộc bạch.

Trong ý nghĩa ấy chúng tôi trước tiên chọn xuất bản tập cuối cùng trong bộ hồi ký đồ sộ của ông để trình độc giả. Sau này, khi điều kiện cho phép, sẽ cố gắng tiếp tục cho in các tập I và tập II.


California ngày 10 tháng 5 năm 1988
Nhà xuất bản Văn Nghệ


PHẦN VI
Giai đoạn 1975 - 1981
(Phần này viết xong năm 1980, năm 1981 sửa lại nhiều chỗ)

CHƯƠNG XXX

CHẾ ÐỘ TẬP THỂ Ở MIỀN NAM


CẢM TÌNH CỦA TÔI VỚI KHÁNG CHIẾN
Cho tới năm 1974 tôi đã được biết tới ba xã hội: xã hội nông nghiệp của ông cha chúng ta, xã hội tư bản của Tây phương do ảnh hưởng của Pháp và vài nét xã hội tiêu thụ (Société de consommation) ở thời kì hậu kĩ nghệ (post-industriel) của Mĩ; ba xã hội đó tôi đã phác qua vài nét trong các phần trên.

Từ 1975 tôi lại được biết thêm một xã hội nữa mà người ta gọi là Xã hội chủ nghĩa (1).
Tôi vốn có cảm tình với Việt minh, với cộng sản; ghét thực dân Pháp, Mĩ, nhất là từ 1965 khi Mĩ đổ quân ào ạt vào miền Nam; tôi khinh những chính phủ bù nhìn của Pháp, Mĩ. Tôi phục tinh thần hi sinh, có kỉ luật của anh em kháng chiến và mỗi lần có thể giúp họ được gì thì tôi sẵn lòng giúp.

Từ năm 1954 tôi đã được đọc nhiều bài Tố cộng của chính phủ Ngô Ðình Diệm; hơn nữa, tôi được nhiều bạn của tôi di cư vô Sài gòn kể cho tôi nghe chính sách điền địa ở Bắc tàn nhẫn tới mức bỏ tù, giết cả những người kháng chiến, có con ở trong kháng chiến, chỉ vì họ có 4-5 mẫu ruộng (chưa đầy hai hecta) và bị liệt vào hạng điền chủ, tư sản bóc lột kẻ nghèo. Chính những bạn tôi đó cũng đã giúp kháng chiến, đều có lòng ái quốc, đều là những người đứng đắn, tốt, mà không thể sống ở ngoài đó được, phải bỏ cả mồ mả tổ tiên, nhà cửa, bà con họ hàng vô đây với hai bàn tay trắng, sống chen chúc trong những khu lao động, can đảm lập lại cuộc đời.

Tôi lại được đọc một số sách Pháp hoặc Nga, Anh... dịch ra tiếng Pháp viết về đời sống ở Nga, Trung cộng như: J’ai Choisi la Liberté của V.A. Kravchenko (Self - 1948), Zigzags à Travers la Vie Soviétique của Raymond Henry (Albin Michel - 1947), Un Étudian Africain en Chine của E.J. Hevi, người nước Gana, Phi châu (Edition Internationales - 1965); vài cuốn nữa tôi quên tên kể những vụ đại thanh trừng trong các năm 1935-1938 ở Nga, thời Staline; kể một vụ án hoàn toàn do một chính quyền cộng sản (Hung gia lợi thì phải?) dựng lên từ đầu đến cuối, bắt giam hàng chục người, tra tấn, buộc phải khai những điều họ không hề làm, buộc họ tố cáo một đảng viên quan trọng mà đảng muốn bôi nhọ, thủ tiêu, rốt cuộc chính nhân vật này cũng phải khai những điều mình không làm mà chịu tử hình, hi vọng đảng sẽ giữ lời hứa mà “khoan hồng” với vợ con.

Năm 1968 nghe những tin tức và những hình ảnh về cuộc tàn sát rùng rợn ở Huế trong biến cố Mậu Thân, tôi hoang mang, đau lòng cho đồng bào Huế và lo lắng cho tương lai dân tộc.

Năm 1968 tôi lại được đọc trên trang báo Pháp những lời chỉ trích chính phủ Nga của hai nhân vật Nga nổi danh khắp thế giới: nhà bác học Sakharov, “cha sinh ra bom H” của Nga, và nhà văn Soljenisyne, tác giả những cuốn Pavillon des Cancéreux, Premier Cercle, được giải Nobel năm 1970 L’Archipel du Goulag...

Ấy là chưa kể tác phẩm của những văn hào Pháp André Gide, Anh Bertrand Russell... mới đầu có cảm tình với Nga rồi sau chê; của những nhà văn như Koestler, Georghiu, Dijlas... mới đầu đã tận tâm hoạt động trong đảng, lãnh những trách nhiệm quan trọng, mà sau phải bỏ đảng, trốn ra nước ngoài, vì chính sách tàn bạo hoặc đường lối sai lầm của đảng.

Ðọc trước sau khoảng hai chục cuốn viết về cộng sản Nga, Trung hoa, Ðông Âu như vậy, tôi tuy ghét, tởm Staline, Mao Trạch Ðông... nhưng vẫn tin rằng chế độ cộng sản công bằng hơn chế độ tư bản; nhất là cộng sản Bắc Việt dưới sự lãnh đạo thời kháng chiến của Hồ chủ tịch mà tám chín phần mười người Việt kính mến, khắp thế giới phục thì không thể nào tàn nhẫn như Nga, Trung hoa được, đảng có lỗi thì sửa sai ngay. Ðó là tâm lí chung của đa số trí thức Sài gòn, chứ chẳng của riêng tôi.

Hơn nữa, chúng tôi còn phục Bắc Việt là trong cuộc kháng chiến lâu dài, gay go chống Pháp, chống Mĩ mà vẫn kiến thiết về văn hóa, khảo về Nguyễn Du, thơ đời Lí, đời Trần, soạn tự điển, khai quật các di tích vùng đền Hùng (2), sáng tác về ca, nhạc... Chúng tôi nhờ các bạn ở Pháp mua rồi gởi lén về cho sách báo Bắc, truyền tay nhau coi những đồ quốc cấm đó; lại sang một băng nhạc có những bài Bắc Việt trình diễn ở Paris (năm nào tôi quên rồi), say mê nghe những bài Ai đưa con sáo sang sông (Ái Liên ca), Quảng bình quê tôi, Làng tôi (hợp ca tám giọng nữ và đàn tranh)... mà khen anh chị em ngoài đó có tinh thần yêu nước cao.

Khi hội nghị Paris kết thúc năm 1973, chúng tôi mừng rằng chiến tranh sắp chấm dứt sau non ba chục năm dai dẳng, khốc liệt, toàn dân sẽ nắm tay nhau kiến thiết quốc gia. Tôi không được đọc toàn văn Hiệp ước đó, chỉ do báo chí mà biết đại khái rằng Bắc Việt, Mĩ, Mặt trận giải phóng và Chính phủ dân chủ miền Nam thỏa thuận với nhau sẽ có ba thành phần ở miền Nam: người của Mặt trận, người của Chính phủ miền Nam, và một số người ở trong nước và ngoài nước, không theo phe nào (tức thành phần thứ ba) ở giữa dung hòa hai thành phần trên.

Tôi đoán công việc đó khó khăn nhưng có thể thực hiện được nếu những người trong sạch, có tư cách, nhiệt tâm ở miền Nam và ở ngoại quốc về chịu ra đảm đương việc nước, và nếu Mặt trận vẫn tỏ ra vẻ ôn hòa như họ thường tuyên bố. Như vậy, sau bốn năm năm, miền Nam ổn định rồi, có thể thống nhất quốc gia được, Bắc Nam dung hòa nhau, Nam hồng thêm lên một chút, để cùng nhau kiến thiết mà tạo hạnh phúc cho dân. Riêng tôi, tôi sẵn sàng bỏ một ít tự do, sống thanh bạch hơn nữa, miễn là hết thấy cái nạn tham nhũng, ăn cắp, ăn cướp, phè phỡn, bóc lột và thấy con người có tư cách hơn. Tôi vẫn thường nói với nhà tôi: cộng sản vào đây thì nội 48 giờ là hết cái tệ đó.

Ngày 30-4-75 - VIỆT NAM THỐNG NHẤT

Nhưng hiệp định Paris vừa mới kí xong - tất nhiên có chữ kí của Nga, Trung hoa và một số nước khác như Pháp, Anh... - hai bên trao đổi tù binh với nhau xong, Mĩ rút hết quân về rồi thì chiến tranh lại tái diễn. Thế là hiệp định chưa ráo nét mực đã bị xé bỏ. Tôi không hiểu có một sự thỏa thuận ngầm nào giữa các cường quốc nắm vận mạng của Việt nam không, có những uẩn khúc, những bí mật nào không. Theo luật quốc tế, phải 50 năm sau, những bí mật đó mới được công bố, lúc đó những kẻ chịu trách nhiệm chết hết rồi.

Một bên (Bắc) mới thắng được Mĩ về ngoại giao, rất phấn khởi, khí thế đương hăng; một bên (Nam) bị Mĩ chẳng nghĩ gì đến liêm sỉ, nhẫn tâm bỏ rơi, vừa uất ức vừa thất vọng, thì phần thắng về ai, điều đó rất dễ hiểu. Quân Bắc tiến tới đâu, dân chúng một phần sợ những vụ chém giết, chôn sống như ở Huế tết Mậu Thân, dắt díu, bồng bế nhau bỏ chạy; một phần ghét Mĩ, ghét chính phủ Thiệu, theo quân đội giải phóng cho nên cuộc tiến quân của Bắc dễ như chẻ tre, chỉ trong ít tháng chiếm trọn miền cao nguyên và miền Trung Việt, gần tới Biên hòa. Tổng thống Dương văn Minh biết chống cũng vô ích, xin hai bên ngừng chiến để đỡ chết dân và chính quyền miền Nam chờ đợi quân đội miền Bắc vào Sài gòn để giao lại quyền hành, nói tóm lại là xin đầu hàng vô điều kiện; và ngay 12 giờ trưa ngày 30-4 tướng Trần văn Trà của Mặt trận ngồi xe thiết giáp tiến vào Dinh Ðộc Lập. Sự thắng lợi đó quả là vẻ vang cho miền Bắc, nhưng xét kĩ thì cũng như sự thắng lợi của quân đội Mao trạch Ðông năm 1949 (cũng chỉ trong có mấy tháng họ tiến từ Nam kinn tới biên giới Bắc Việt); và cũng như sự thắng lợi của Khmer đỏ (ngày 17-4) khiến Lon Nol phải bỏ nước thoát thân như Nguyễn văn Thiệu, Ðại sứ Mĩ phải nhục nhã cuốn cờ bỏ Nam vang mà về nước, và Khmer đỏ vào Nam vang 13 ngày trước cộng sản Bắc Việt vào Sài gòn.

Từ ngày 20-4-75, Sài gòn rất xôn xao. Một ông bạn thân của tôi 56 tuổi, ở gần nhà tôi, đương đau mà gia đình cũng “bốc” lên phi cơ để tị nạn, mới tới Manille thì chết, phải chôn ở đó. Một cô em ruột nhà tôi, cô Trịnh thị Mộng Ðơn cũng dắt con lên phi cơ qua với chồng bên Mĩ.

Rồi chính cô em út tôi, Nguyễn thị Mùi, gần 60 tuổi, cũng theo gia đình bên chồng qua Mĩ; vợ chồng tôi giữ lại ở với chúng tôi, cô không chịu. Trong số ba người em, tôi mến cô nhất, mà cô cũng quí tôi. Cô làm dâu họ Tô ở Hà nội, có ba người con đều vào hạng học giỏi. Con gái lớn, Tô Lệ Hằng đậu tiến sĩ vật lý, tính tình hợp với tôi, hiện ở Pháp, giúp đỡ tôi được nhiều việc, vợ chồng tôi coi ba cháu đó như con. Cô đi rồi, ở Sài gòn tôi không còn ai ruột thịt cả.

Mấy ngày hạ tuần tháng 4 dương lịch đó tôi vẫn nghĩ tình hình không có gì bi đát lắm đến nỗi phải di cư. Quân Bắc có tiến vào Sài gòn thì Nam Bắc cũng thương thuyết với nhau - trước Bắc đòi Mĩ rút đi, Thiệu rút đi, thì bây giờ họ rút cả rồi, còn muốn gì nữa? - mà hiệp định Paris còn đó, Bắc phải thi hành chứ. Tôi ngây thơ quá.

Mười một giờ sáng ngày 30-4, ông láng giềng ở phía trong nhà tôi cùng với con lái một chiếc Vespa hớt hơ hớt hải di cư, để lại nhà cửa cho bà cụ thân sinh 77 tuổi và một chị bếp.

Mười hai giờ tôi bắt đài phát thanh, được tin tướng Trần văn Trà vào dinh Ðộc Lập, Ðại tướng Dương văn Minh với vài nhân viên trong nội các ra tiếp, bảo:
- Chúng tôi chờ các ông tới để bàn giao.

Trần văn Trà đáp:
- Các ông còn gì trong tay nữa mà bàn giao?

Tin đó làm tôi rất buồn: thế là hiệp định Paris đã bị xé bỏ, không còn chuyện ba thành phần trong chính phủ miền Nam nữa, mà chỉ còn có Mặt trận giải phóng, tức cộng sản.
Chiều 30-4 tôi ra đầu ngõ thấy nhiều chiếc Honda cắm cờ đỏ sao vàng vụt qua vụt lại, người ngồi trên xe toàn là thanh niên, hớn hở, mỉm cười với dân chúng hai bên đường. Sau này người ta gọi họ là “chiến sĩ 30”.

Chiều hôm sau, 1-5, tôi mới lại chợ Trương Minh Giảng. Nhà nào cũng phấp phới cờ đỏ sao vàng, người qua lại tấp nập, hơi có vẻ tưng bừng, nhưng cũng có nhiều bộ mặt đăm chiêu. Chi nhánh ngân hàng Việt nam thương tín ở gần chợ đóng cửa im ỉm. Chợ về chiều đã vắng. Tôi lại nhà bác sĩ Nguyễn Hữu Phiếm. Cửa sắt đóng kín. Một chị giúp việc cho hay cả gia đình bạn tôi đã di cư tối hôm 28-4 vào giờ chót; vì quyết định trễ cho nên không kịp báo cho tôi biết trước. Tôi sửng sốt: “Mấy hôm trước, bác sĩ còn quyết tâm ở lại kia mà!” Chị giúp việc bảo: “Ông bà tôi vì tình con gái, chàng rể và mấy cháu ngoại mà phải đi, nhưng định 5-6 tháng sẽ trở về, cho nên đồ đạc trong nhà còn để lại hết”. Nhưng anh bạn tôi không bao giờ trở về nữa, hai năm sau chết ở Paris vì bệnh căng xe máu (leucémie).

Tôi lủi thủi về nhà bảo nhà tôi (bà họ Nguyễn): “Người thân đi hết rồi, không còn ai nữa, buồn quá”.
Khoảng 25-4 phát hành cuốn sách thứ 100 của tôi, nhan đề là Mười Câu Chuyện Văn Chương. Tôi đợi đường hàng không Sài gòn - Paris tái lập để gửi thư và một bản cuốn đó cho vợ con tôi mắc kẹt ở Paris. Tôi không nhớ mấy tháng sau mới nhận được thư của họ, nhận được tôi hồi âm liền; còn cuốn Mười Câu Chuyện Văn Chương thì non hai năm sau chính phủ mới cho phép gởi qua.

Tôi phục quân đội giải phóng rất có kỉ luật: vào Sài gòn mà không gây một vụ đổ máu (trước đó ai cũng ngại có một cuộc “tắm máu” như Huế năm 1968), một vụ cướp bóc nào; còn giúp đỡ dân chúng nữa. Tôi lại tràn trề hi vọng khi chủ tịch Mặt trận giải phóng, luật sư Nguyễn hữu Thọ, tuyên bố miền Nam sẽ theo chính thể dân chủ cộng hòa, sẽ trung lập, giao thiệp với Tây phương, về kinh tế sẽ có 5 thành phần từ quốc doanh đến công tư hợp doanh, tư doanh v.v... Như vậy thì rất hợp với sở nguyện của mọi người, quá sở nguyện của giới trí thức nữa.

Nhưng chỉ được non một năm rồi người ta rục rịch thực hiện sự thống nhất Bắc, Nam và cuối năm 1976 thì không còn miền Nam nữa, từ Lạng sơn đến Cà mau là một nước theo chủ nghĩa xã hội như Nga, tiến bộ hơn cả Trung hoa, Ðông Ðức nữa vì hai nước này vẫn còn là dân chủ cộng hòa.

Từ năm 1975 đến nay, hai vợ chồng tôi ở lại Sài gòn (lâu lâu nhà tôi mới về Long xuyên ít bữa), nương tựa lẫn nhau để làm tròn bổn phận công dân, thích ứng với thời mới, tìm hiểu chế độ mới.

(Còn tiếp)


Chú thích

(1) Danh từ này dịch từ danh từ société socialiste của Pháp. Nghe kì cục lắm. Pháp có danh từ société nghĩa là xã hội, đoàn thể; do société mà có danh từ social: thuộc về xã hội, đoàn thể; có tính cách xã hội, đoàn thể; rồi social lại đẻ ra danh từ socialisme để trỏ những chủ nghĩa nhắm thay đổi hoàn toàn một chế độ, nhất là chế độ sở hữu tài sản để cải thiện đời sống lao động, đặc biệt là đời sống thợ thuyền.

Tôi thấy chế độ của nước ta ngày nay, cũng như của Nga, Trung Hoa... có điểm này đặc biệt khác với các nước tư bản là tính cách tập thể: đảng chỉ huy tập thể, dân làm chủ tập thể (theo lí thuyết), sản xuất tập thể: nông trường quốc doanh, hợp tác xã nông nghiệp, xí nghiệp quốc doanh, hoặc công tư hợp doanh, tổ hợp sản xuất..., như vậy để cho cá nhân, một số nhỏ tư nhân, không còn nắm được sự sản xuất mà bóc lột vô sản nữa.

Còn về qui tắc: có làm thì có ăn, không làm thì không ăn; làm theo khả năng, hưởng theo sức mình làm được, thì không khác gì xã hội tư bản; ngay đến tư sản cá nhân cũng vẫn được tôn trọng (ít nhất là trên lí thuyết), hơn nữa, còn được truyền cả cho con cháu, chỉ khác chế độ tư bản là nó bị hạn chế để khỏi bị lạm dụng mà bóc lột người nghèo, thế thôi.

Vì vậy tôi nghĩ chẳng cần phải dịch sát mà có thể dùng danh từ xã hội tập thể để thay thế danh từ xã hội xã hội chủ nghĩa. Xã hội tập thể tiến lên xã hội cộng sản, như vậy xuôi hơn là nói xã hội xã hội chủ nghĩa tiến lên xã hội cộng sản.

(2) Công việc này ngày nay còn tiếp tục không hay chỉ rầm rộ được một thời, quốc gia thống nhất rồi thì ngưng y như công việc khảo cổ ở Trung hoa.



Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét