Chủ Nhật, 8 tháng 8, 2010

Hoa Kỳ tham dự Kỷ niệm 65 năm bom nguyên tử Hiroshima

Nguyễn Hoài Vân

Đạo đức phải chăng chỉ có giá trị thực dụng?

Ngày 6 tháng Tám vừa qua, Hoa Kỳ đã có mặt lần đầu tiên trong một buổi lễ kỷ niệm bom nguyên tử tàn phá Hiroshima. Biến cố này mang một ý nghĩa biểu tượng quan trọng, biểu dương quyết tâm của chính quyền Obama trong việc xóa bỏ vũ khí hạt nhân trên thế giới. Bên cạnh đó, người ta còn có thể ghi nhận những mục tiêu chính trị giai đoạn. Thật vậy, trước sự căng thẳng với Bắc Triều Tiên về nỗ lực trang bị hỏa tiễn nguyên tử tầm xa của nước này, Hoa Kỳ cần chứng tỏ thiện chí của mình một cách thật rõ ràng để xóa bớt hình ảnh quốc gia duy nhất đã giết hại hàng trăm ngàn thường dân bằng vũ khí hạt nhân. Hoa Kỳ cũng cần làm một cử chỉ nổi bật để nhắc nhở với dân chúng trong vùng Đông Á là người bạn Nhật Bản của mình không chỉ từng là một kẻ vũ dũng gây nhiều tang tóc, mà cũng là một nạn nhân của chiến tranh, từng phải chịu chết chóc, khổ đau, trong suốt bao thập niên, cho đến ngày nay.

Hình : Hiroshima trong hoang tàn

Đã đến lúc vai trò của Nhật Bản trong tương quan lực lượng quân sự trong vùng phải được nâng cao, và điều ấy đòi hỏi một hình ảnh dễ gây thiện cảm hơn là cái ấn tượng bá quyền cố hữu. Qua những tuyên bố gần đây của ngoại trưởng Clinton (về tranh chấp Hoàng Sa Trường Sa), vai trò bá quyền hiện đang được Hoa Kỳ nỗ lực «chuyển nhượng» cho... Trung Quốc!

Người ta còn nhớ, Tổng Thống Eisenhower từng viết trong hồi ký của mình là việc ném bom nguyên tử không cần thiết, vì Nhật Bản đã kiệt quệ, quân đội Hoàng Gia hoàn toàn bị đè bẹp, hải quân và lực lượng phòng không gần như triệt tiêu... Thật ra, những người thắng trận rất ít khi nào bày tỏ sự hối tiếc trước những tàn phá giết chóc mà họ đã gây ra cho kẻ bại trận. Hành vi của kẻ thắng, dù cho có ác độc cách mấy, cũng được coi như cần thiết, và hoàn toàn chính đáng. Những đau khổ mà kẻ chiến bại phải chịu đựng chẳng qua chỉ là sự trừng phạt các «tội lỗi» của họ. Vấn đề là kẻ bị trừng phạt ấy lại chính là những thường dân... vô tội!

Hình : nạn nhân bom nguyên tử

Mc Namara, trong một cuộc phỏng vấn, đã tuyên bố rằng nếu thua trận thì các người lãnh đạo Hoa Kỳ sẽ bị coi như tội phạm chiến tranh, không những vì bỏ bom nguyên tử ở Nhật, mà cả vì những vụ oanh tạc thường dân khác, như tại Dresde vào tháng Hai năm 1945, với số thương vong có thể lên đến hàng trăm ngàn người.

Cùng lúc, Hội Đồng Bảo Hiến (Conseil Constitutionnel), cơ quan tư pháp tối cao của Pháp Quốc, vừa xác nhận việc bãi tố các tội phạm chiến tranh sau 30 năm. Nhiều vị dân cử chống lại quyết định này, cho rằng nó đi ngược lại với điều 29 của Quy Chế Roma, quy định việc thành lập Tóa Án Hình Sự Quốc Tế, theo đó các tội ác quốc tế không có thời hạn bãi tố. Điều này cho thấy khuynh hướng coi nhẹ vấn đề tội ác chiến tranh, thích nghi hóa pháp lý liên hệ tùy theo nhu cầu của từng quốc gia, thay vì tuân theo những nguyên tắc đạo đức bất di bất dịch.

Phải chăng đạo đức không là gì khác hơn là những quy luật phục vụ cho một mục tiêu thực dụng của một xã hội nhất định? Bạo lực giết hại hàng trăm ngàn người vẫn được coi như chính đáng, như «đạo đức» nếu có một lợi ích nào đó, theo những tiêu chuẩn được quy định bởi xã hội gây nên bạo lực ấy? Nói cách khác: không có Tốt Xấu tuyệt đối mà chỉ có tốt hay xấu cho một số người nào đó?

Cũng có thể nghĩ rằng con người vốn có sẵn trong thân tâm mình những ý tưởng hướng thiện. Đây có thể là một «thảo trình» từng hiện hữu trong tâm trí của cha ông chúng ta ngay từ giai đoạn hình thành các cộng đồng người. Có thể gọi thảo trình ấy là «thảo trình hợp tác». Thật vậy, ý thức «thiện» được nảy sinh ngay khi chúng ta đối diện với một người khác. Khi ấy, chúng ta lập tức cảm thấy mình có một trách nhiệm nào đó đối với người này. Trách nhiệm này khiến chúng ta tử tế chào hỏi, nói năng thân thiện, lịch sự, tránh làm mích lòng, và nếu người ấy gặp phải vấn đề gì, thí dụ như ngất xỉu, lạc đường v.v… thì chúng ta tự cảm thấy phải làm tất cả những gì có thể làm được để giúp đỡ. Tổng hợp những thái độ ấy được gọi là sự «thiện», sự tốt. Chúng ta cũng có thể chọn thái độ ngược lại, đó là những thái độ «bất thiện», xấu. Nguyên nhân của ý thức hướng thiện là nâng cao sự hợp tác, tương trợ, giao dịch tốt đẹp giữa các thành viên của một cộng đồng. Cộng đồng người nguyên thủy nào thiếu «thảo trình hợp tác» này trong cấu trúc tâm lý thì sẽ tàn lụi và tan biến. Các thành viên của cộng đồng ấy cư xử ích kỷ, lừa đảo, dối trá, khinh bạc, lạnh lẽo, thậm chí ác độc đối với nhau, chưa kể đối với người ngoài, và phủ lên môi trường sống của họ một không khí đối kháng, bạo lực, chia rẽ, đưa đến tàn phá, hủy diệt. Ngược lại, các cộng đồng hiện hữu và phát triển được trong dòng thời gian chính là những cộng đồng với nhiều thành viên mang «thảo trình hợp tác». Họ truyền cho hậu duệ của họ, là chúng ta, thảo trình ấy. Vì thế đa số chúng ta đều có ý thức về cái tốt, về sự thiện, trong cấu trúc tâm lý của mình. Với thời gian, chúng ta nghĩ rằng cái tâm hướng thiện của chúng ta là tuyệt đối, được quy định bởi một đấng linh thiêng, mà không còn ý thức được rằng: trong bản chất, nó là con đẻ của thực dụng.

Theo tôi thì chính cái nguồn gốc thực dụng của tâm hướng thiện, trong vô thức, đã đưa đến việc tương đối hóa quan điểm thiện ác, coi nó như lệ thuộc những giá trị được coi là thực dụng, như quyền lợi dân tộc, đảng phái, tôn giáo, v.v...

Vì thế trong nhiều lãnh vực, như chính trị, người ta thường không lựa chọn giữa thiện và ác, mà giữa một tai hại lớn, với một tai hại nhỏ hơn... Vấn đề là quan điểm của người chọn lựa và người phải gánh chịu hậu quả của sự chọn lựa ấy, nhiều khi hoàn toàn đối nghịch nhau.

Nguyễn Hoài Vân
7 tháng 8 năm 2010


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét