Thứ Năm, 19 tháng 8, 2010

GIỌT LỆ CHELSEA

Lê Hữu

LTS. Truyện dưới đây là một câu chuyện thời sự có thật phần nào được tiểu thuyết hóa.

Kỳ 3 - (Tiếp theo và hết)

Thứ Tư, 22/11/2000
. . . . .

Thật lạ lùng! Mình nhớ rõ là đã bỏ chiếc lược ấy vào trong túi xách, và mình cũng nhớ rõ ánh mắt chăm chú của David nhìn mình vào lúc đó, nhưng bây giờ mình lại không thấy nó đâu nữa. Mình đã lục lọi từng ngăn nhỏ và dốc ngược cả cái túi xách để trút hết mọi thứ ra nệm giường, tất cả vẫn còn nguyên, chỉ thiếu có chiếc lược, kỷ vật của David. Mình nhớ đến nó khi mình đang chải đầu.

Mình hỏi mẹ, mẹ đưa mình chiếc lược của mẹ vì tưởng mình cần nó. "Không phải," mình nói, "chiếc lược nhôm." Mẹ ngạc nhiên, hỏi, "Chiếc lược nhôm nào? Chiếc lược này cũng tốt vậy." Mình không muốn giải thích với mẹ. Lúc David đưa mình chiếc lược, có mẹ đứng gần đấy nhưng chắc mẹ không để ý. Mình không hỏi bố, vì tin chắc là bố chẳng biết gì. Mình thật vô tâm quá và có lỗi với gia đình ông ấy. Có thể là David vẫn có chiếc lược khác. Dù sao mình vẫn ân hận. Mình không chắc có dịp nào gặp lại ông ta. Liệu ông ta có hỏi mình về chiếc lược ấy? Liệu ông ta có đòi nhìn lại chiếc lược ấy? Mình sẽ trả lời sao đây? Mình không muốn nói dối, và không quen nói dối ai bao giờ…

* * *

Tôi nhìn kỹ lại tấm ảnh chụp cảnh mà tôi chỉ nhìn thấy được trong một thoáng vài ba giây trên màn hình tivi. Chelsea trong một cử chỉ tự nhiên đang đưa tay quệt những giọt nước mắt lăn dài trên má. Ngấn nước mắt trông khá rõ. Khác với vẻ tươi tắn thường thấy, khuôn mặt cô khi ấy trông có vẻ thẫn thờ, xa vắng. Tấm ảnh chụp cận cảnh nên chỉ thấy có một mình Chelsea. Bên cạnh cô, phía tay trái là một bên vai và mớ tóc của một phụ nữ bị chiều dọc của tấm ảnh cắt lìa. Tôi đoán nhiều phần là bà Hillary tuy chỉ thấy được có vài đường nét.

Điều may mắn cho ông Clinton không phải là ông đã mang theo được một bộ sậu hùng hậu, tả phù hữu bật, hay một đoàn tùy tùng đến hơn một ngàn người với chi phí cho chuyến đi lên đến hàng trăm triệu mỹ kim, mà là ông đã mang theo được cô con gái yêu quý của ông. Những giọt nước mắt và khuôn mặt đẫm lệ của Chelsea nói nhiều hơn bài diễn văn "lịch sử" dài năm trang giấy được nhiều người khen ngợi của ông Clinton. Những giọt ngắn giọt dài ấy không phải là những giọt châu rơi thánh thót hay lóng lánh như những "giọt nước mắt ngà". Những giọt lệ nóng ấm ấy cũng nói cho mọi người biết rằng mọi chuyện đã thực sự kết thúc. Còn gì nữa đâu, chiến tranh đã đi qua, và cả những tàn tích, những dấu vết buồn phiền cũng đã được rửa sạch, đã trôi theo dòng nước mắt cô. Hai mươi lăm năm sau chiến tranh, khi nước mắt của những người vợ khóc chồng, những người mẹ khóc con hồ như đã khô cạn thì mới đây thôi, những giọt lệ tươi rói cuối mùa vẫn còn chảy ràn rụa trên má cô gái Mỹ hai mươi tuổi đến từ bên kia bờ đại dương. Có giọt nào nhỏ xuống dưới chân cô, ngay chỗ cô đang đứng, trên mảnh đất nghiệt ngã đó. Cô khóc vì cảm thương câu chuyện người phi công xấu số, hay khóc vì xót thương người vợ trẻ góa bụa và đàn con nhỏ dại khi lớn lên không được trông thấy mặt bố, hay khóc vì động lòng trắc ẩn trước cảnh lao động chân tay cực nhọc của người dân quê Việt Nam nghèo hèn lam lũ... Cho dù cô khóc vì chuyện gì đi nữa thì những giọt lệ rưng rưng ấy cũng đã bộc phát từ một tấm lòng nhân ái, từ một trái tim ăm ắp tình người. Mai sau, dù có bao giờ, hồi tưởng lại những kỷ niệm về một chuyến đi xa đến tận một đất nước nhỏ bé cách xa cô mãi tới nửa vòng trái đất, hẳn Chelsea vẫn còn nhớ được rằng, đã có những phút giây nào đó trong đời, cô đã từng để lòng mình nghiêng xuống những nỗi bất hạnh của kẻ khác, đã từng để cho những cảm xúc tràn bờ trào ra thành những giọt nước mắt xót xa thương cảm cho những số phận rủi ro, những số kiếp hẩm hiu. Cô đã không tìm cách che giấu những tình cảm bộc phát tự nhiên là những dòng lệ dạt dào ấy, như cô từng có những khi yêu khi ghét, những lúc vui lúc buồn.

(Kevin Lamarque/Reuters)

Đây chắc chắn không phải là lần đầu Chelsea đánh rơi những giọt nước mắt. Cô cũng đã từng khóc những lần trước đây như cô cho biết ở một trang nhật ký khác, chẳng hạn như lần xúc động trước tin bố cô đắc cử Tổng Thống vào năm 1992, có điều ngày ấy cô còn bé quá, chỉ vì thấy… mẹ khóc cô bé 12 tuổi cũng khóc theo. Lần khác, cô cũng đã xúc động đến trào nước mắt trong vòng tay và những lời chúc tụng của bố mẹ và bạn bè trong buổi lễ tốt nghiệp tháng Sáu năm 1997, sau khi hoàn tất học trình bốn năm tại Sidwell Friends High School.

Chelsea không phải là cô gái xinh đẹp lắm. Cô có khuôn mặt hơi dài, miệng cô lại hơi rộng, nhất là khi cười trông càng rộng hơn, để lộ hàm răng trắng bóng, đều đặn. Vẻ mặt cô lúc nào trông cũng có vẻ tươi tắn, có lẽ nhờ cô hay cười. Đôi mắt cô thường mở lớn khi ngắm nhìn sự vật, và như có chút gì rụt rè. Mớ tóc vàng hoe của cô cũng khá đặc biệt với những lọn tóc xoăn tít thả xuống quá vai. Chừng ấy đặc điểm chắc là chưa đủ để tạo sức hút những đôi mắt nhìn ngắm. Nếu cô có được chú ý chẳng qua vì cô là First Daughter, ái nữ duy nhất của một ông Tổng Thống Mỹ đầy quyền lực. Tuy nhiên, có thể nói được rằng cô có một vẻ đẹp tự nhiên, không kiểu cách màu mè, và tính tình cô cũng tự nhiên, không che giấu ngụy tạo, như thể trời sinh ra cô thế nào thì cô cứ là như vậy, khiến cô dễ chiếm được cảm tình của nhiều người.

Những đoạn nhật ký tiếp theo sau đó không thấy đề cập gì đến chiếc lược nhôm ấy nữa, chiếc lược Chelsea để lạc chỗ nào tìm mãi không thấy. Không rõ là về sau này cô có tìm ra được chiếc lược đó, và cô có còn nhớ đến nó hay đã quên nó như đã quên đi những dấu vết, những tàn tích của một cuộc chiến tranh đã trôi vào quên lãng. Có thể là cô cũng tiếc nhớ nó ít hôm, rồi thôi, chứ không đến nỗi ra ngẩn vào ngơ. Có chuyến đi nào mà cô lại chẳng mang về những vật lưu niệm lỉnh kỉnh, rồi cô cũng chỉ cất giữ chúng được một thời gian, trên đầu tủ, đầu giường, hay ngổn ngang trong những ngăn kéo, hộc tủ. Chiếc lược nhôm ấy, cô sẽ dễ dàng quên đi thôi, như sẽ quên tất cả mọi chuyện trong những ngày ở Việt Nam vừa qua. Cô còn nhiều chuyện quan trọng hơn để làm, còn nhiều vật đáng giá hơn thế nữa để tiếc, để nhớ.

Tấm ảnh mới nhất của Chelsea, ít ngày sau chuyến đi Việt Nam mà Nghĩa in ra được cho tôi là ảnh chụp Chelsea trong dáng điệu "phấn khởi, hồ hởi", đang hăng hái cầm dao và nĩa xẻ thịt chú gà tây trên bàn ăn trong ngày Lễ Tạ Ơn ở trại David, Maryland. Đôi mắt mở lớn, chiếc miệng rộng và nụ cười rạng rỡ, thoải mái lại nở rộ trên khuôn mặt cô. Cùng với gia đình, cô sẽ "tạ ơn" những gì đây trong ngày lễ đó. Tạ ơn bà mẹ vừa được bầu vào chức vụ dân cử mới khi sắp sửa từ bỏ danh vị First Lady. Tạ ơn ông bố được bình yên, tai qua nạn khỏi sau hai nhiệm kỳ tám năm nhiều sóng gió. Tạ ơn sau vài chuyện lục đục giữa bố và mẹ, gia đình cô vẫn cứ là một gia đình “ấm no hạnh phúc”. Tạ ơn những người bạn trai dễ mến đã tạt ngang qua cuộc đời cô, đã mang đến cho cô chút tình yêu đầu đời, rồi lại lặng lẽ xa cô vì đã không đi được chung một đường, chung một hướng. Tạ ơn gia đình cô vừa trở về an lành sau một chuyến đi xa thật xa. Nhớ lại chuyến đi ấy, liệu cô có tạ ơn đất trời về cái may mắn là gia đình cô đã không phải dính dấp và chịu đựng những hệ quả của cuộc chiến tranh nghiệt ngã gây bao nhiêu thương tổn cho biết bao gia đình người Mỹ khác. Cuộc chiến tranh nào cũng đều là mất mát, là chết chóc, là hủy diệt, là tàn bạo, dù ở phía nào của cuộc chiến. Nếu cô ra đời sớm hơn chừng một phần tư thế kỷ, hẳn cô đã nhìn thấy rõ hơn bộ mặt khó thương của cuộc chiến tranh ấy, và có khi cô sẽ phải lựa chọn đứng về phía nào của cuộc chiến. Không giống như là những lựa chọn trong tình yêu đâu. Tất nhiên trong tình yêu, cô khó có thể yêu cả hai chàng trai cùng một lúc, nhưng vẫn có thể yêu hơn kém chút đỉnh, nếu cả hai đều… đáng yêu. Còn trong chiến tranh thì không thể nào có chuyện đó, mà chỉ có yêu và ghét, hai phía đối nghịch. Một khi cô đã yêu bên này thì cô phải ghét bên kia, và phía ấy sẽ là thù địch. Cũng không thể có chuyện vừa yêu vừa ghét theo kiểu "giận mà thương" được.

(Claro Cortes IV/Reuters)

Trong những giờ phút enjoy bữa tiệc gà tây cùng với gia đình, tôi chắc là Chelsea đã chẳng còn nhớ gì nữa. Sau bữa tiệc này, cô sẽ phải gấp rút trở lại với những chồng sách vở ở trường học sau khi đã nghỉ một mùa fall quarter để được gần bố nhiều hơn trong những tháng cuối cùng của nhiệm kỳ Tổng Thống, và để theo phụ giúp mẹ trong mùa vận động tranh cử ở New York vừa qua. Rất nhiều thứ đang chờ cô phía trước. Cô sẽ rất là bận rộn trong năm học cuối ở Stanford để chuẩn bị cho ngày ra trường mùa xuân năm tới. Rồi sau đó lại còn phải sửa soạn cho quarter đầu tiên ở ngôi trường mới Oxford University nữa chứ, ngôi trường bố cô từng theo học nhiều năm trước đây. Con đường trước mặt cô còn dài thật dài, và cô cũng sẽ còn nhiều chuyến đi xa kỳ thú khác.

* * *

Sắp tới đây ông Clinton sẽ không còn là Tổng Thống nữa. Hai nhiệm kỳ tám năm ròng rã của ông chỉ còn lại những ngày tháng phù du. Có thể là sau khi về vườn ông sẽ dành thì giờ để viết sách, viết hồi ký, hoặc sẽ làm một chuyến giang hồ đây đó, và biết đâu ông lại chẳng ghé thăm Việt Nam thêm một lần nữa không chừng, để lại bắt tay thêm một lần nữa những người trẻ của một đất nước mà lớp tuổi dưới ba mươi chiếm đến hai phần ba dân số. Lớp tuổi mà đối với họ, chiến tranh đã đi qua như một kỷ niệm buồn. Chẳng ai muốn gợi lại mãi những kỷ niệm buồn. Những chương sách cũ đã khép lại. Những người trẻ tuổi lớn lên sau chiến tranh, họ muốn viết tiếp những chương sách mới, muốn những đổi thay cho đất nước họ. Và Clinton, ông đã được đón chào nồng nhiệt, được hăm hở, vồ vập bắt tay vì ông đáp ứng được lòng mong mỏi, khát khao của họ. Ông cũng dễ dàng chia sẻ với họ những hoài bão, những ước mơ lớn lao làm nên những chuyện quốc gia đại sự để mang về một vận hội mới cho đất nước, cho dân tộc họ. Ông là biểu tượng của tự do và nhân quyền, và còn là biểu tượng của sự trẻ trung, tiến bộ và đổi thay nữa. Ông Clinton còn trẻ lắm khi mới đắc cử Tổng Thống nhiệm kỳ đầu, và đến bây giờ trông ông cũng vẫn còn trẻ trung. Ông đã làm việc sôi nổi, đã yêu sôi nổi. Ông cũng chẳng phải tài cao đức rộng gì cho lắm, mà có đủ cả hai mặt tốt, xấu lẫn lộn theo cái nghĩa "nhân vô thập toàn", chưa kể có lắm chuyện bê bối như ông từng thú nhận. Người Mỹ không care lắm chuyện đó, miễn ông làm được việc, và quả là ông đã làm được việc. Người Việt trong nước cũng chịu ông và tỏ ra ngưỡng mộ ông, nhất là giới trẻ, vì họ cảm thấy ông gần gũi với họ, và vì họ cũng muốn được thành công như ông vậy. Ông Clinton hẳn cũng thấy được điều đó trên các đường phố ở Việt Nam qua những tiếng reo hò, những cánh tay vẫy, những tràng pháo tay, những tiếng kêu lớn tên ông đầy kích động. Và khi đến gần họ hơn, ông còn nhận được những bàn tay siết chặt, những ánh mắt đồng tình, những nụ cười đồng cảm. Không có ai nháy mắt hay kề tai ông nói nhỏ điều gì, nhưng mà ông thấy được, nghe được, hiểu được. Ông đã có chủ đích trong chuyến đi, đã gặp gỡ được những đối tượng cần gặp gỡ.

Chuyến đi “lịch sử” của ông Clinton mai đây sẽ chỉ còn lại những tấm ảnh màu giữ làm kỷ niệm; thế nhưng, nếu đấy là một trong những kỷ niệm khó quên trong cuộc đời làm chính trị của ông, chắc ông vẫn muốn đi tìm lại những kỷ niệm ấy. Bắt tay những người trẻ thêm một lần nữa, những người trẻ xấp xỉ tuổi con gái ông, có lẽ ông Clinton cũng chỉ muốn như thế nếu còn dịp nào ghé lại Việt Nam. Nếu chỉ vì muốn ăn thêm tô phở nữa, ông đâu có cần phải đi xa đến vậy. Ngay tại đây, tại khu phố Little Saigon này, lúc nào cũng sẵn có, và ngon hơn nữa là khác.

Sắp tới đây Chelsea cũng chẳng còn là First Daughter nữa. Nhưng điều đó cũng đâu có gì là quan trọng, và chắc là cô cũng chẳng thiết tha gì lắm với cái danh vị đó. Chắc chắn một điều là nhiều người vẫn còn nhớ đến cô, và vẫn còn nhớ tới những giọt nước mắt cô trong chuyến đi Việt Nam vừa qua. Những giọt nước mắt hiếm hoi ứa ra nơi khóe mắt cô gái Mỹ đang sống giữa những tháng năm tươi đẹp nhất của một đời người. Cô đang sống những năm tuổi đôi mươi, tuổi thanh xuân, tuổi hoa bướm, tuổi mộng mơ, tuổi ngọc tuổi ngà hay tuổi gì gì đó, trên một đất nước từng được gọi là the land of dreams. Chắc hẳn là cô cũng từng có những giấc mơ. Một trong những giấc mơ của cô, tôi nhớ có đọc ở đâu đó, là được trở thành bác sĩ chuyên khoa chữa trị bệnh tim cho trẻ em. Cô yêu trẻ em, và cô cũng yêu thú vật. Cô không hiểu rõ chiến tranh Việt Nam lắm như cô từng thú nhận. Cô cũng không cần biết chiến tranh là gì, cô chỉ thấy nó thật là vô nghĩa, như một việc làm độc ác nhất trong số những việc làm độc ác, và khác với những gì diễn ra trong cuộc sống bình lặng thường ngày của cô. Như ở đất nước cô người ta chẳng bao giờ đánh đập thú vật cả, như cô vẫn vuốt ve chú Buddy thân thiết luôn luẩn quẩn bên cô, như trẻ em không hề biết nói dối, như mọi người vẫn mỉm cười và say hi với những người quen và không quen khi gặp nhau ở ngoài đường. Một người trẻ tuổi nào đó trong đám đông những người trẻ tuổi trên đường phố Saigon đã gọi lớn tên cô, cô quay đầu tìm kiếm, và cô ngoắc ngoắc tay chào tất cả. Cô cũng đã mỉm cười và say hi với họ bằng chiếc miệng rộng của cô. Chiếc miệng quả có hơi rộng một chút thật nhưng cũng chẳng sao, vẫn cứ tươi tắn, vẫn cứ đẹp như thường vì đã được cô gắn lên nó nụ cười thân ái. Thế là đủ. Cô đã khóc và rồi cô lại cười. Cầu cho những bóng mây buồn bã sẽ chỉ thoáng hiện trong phút giây thôi, rồi sẽ nhanh chóng bay đi, trả lại cô bầu trời xanh ngắt trong khuôn viên đại học Stanford ngày cô trở lại trường.

Hãy quên đi, quên đi nhé, Chelsea!... Nhìn lại tấm ảnh cô lần nữa, nhìn lại ngấn lệ đọng trên má cô lần nữa, tôi muốn nói nhỏ với cô theo lối nói thông thường của người Mỹ, "That's OK, Chelsea. It's over. Everything will be fine."

Tôi cẩn thận lấy kéo cắt rời tấm ảnh màu được Nghĩa in ra từ internet. Chỉ là tấm ảnh cắt ra trên giấy, nhưng cũng OK, có còn hơn không. Bộ ảnh sưu tập của tôi lại vừa có thêm tấm ảnh mới, tấm ảnh mà Nghĩa đặt tên là "Giọt lệ Chelsea".

Lê Hữu
(6/2001)

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét