Thứ Ba, 10 tháng 8, 2010

Dân chủ, với nhiều mô thức xã hội

Ngô Nhân Dụng

Kỳ 2
Mô thức Anglo-Saxon và mô thức Sông Rhine

Các nước bên Âu châu cũng không phải cùng theo một mô thức tổ chức xã hội, tuy các nhà khoa học chính trị có vẻ đồng ý là những nước hai bên bờ sông Rhine có một mô thức chung. Mô thức đó khác hẳn lối tổ chức xã hội theo mẫu Anglo-Saxon, đặc biệt là từ sau thập niên 1980, thời bà Thatcher và ông Reagan.

Từ thập niên 1990 kinh tế Mỹ và Anh quốc phát triển cao và bền vững hơn hẳn Âu châu và Nhật Bản. Nó tiến nhanh được là nhờ cuộc cách mạng tin học và internet, nói chung, nhờ nền kinh tế mà tri thức đóng vai trò trọng yếu không khác gì thép hoặc năng lượng trong các gian đoạn phát triển trước. Nhưng chúng ta không quên rằng một người Âu châu đã nghĩ ra internet. Ông Tim Berners Lee người Anh, giáo sư Đại học MIT nhưng bầy ra world wide web khi đang làm việc cho CERN ở Thụy Sĩ năm 1991. Vào thời 1980 dân Pháp đã dùng hệ thống Minitel ở ngay trong nhà riêng nhiều năm trước khi dân Mỹ ở ngoài các trường đại học biết lên mạng. Sở dĩ kinh tế tri thức tiến nhanh được ở Mỹ là nhờ chế độ kinh tế tự do hơn, khuyến khích các doanh nhân bỏ tiền vào những vụ đầu tư nhiều may rủi. Các xí nghiệp ra đời dễ, tàn lụi cũng dễ. Chính sách thuế khóa khích lệ người ta dễ dàng bỏ tiền vốn vào những dự án rủi ro hơn, nhiều người dám thử thời vận hơn.

Sau khi kinh tế Đức, Nhật trì trệ nhiều năm trong thập niên 1990, người Âu châu cảm thấy họ phải rút tỉa những kinh nghiệm của nước Mỹ. Xã hội của họ được tổ chức chặt chẽ, cứng nhắc quá. Người dân được bảo đảm mức sống thoải mái từ khi ra đời đến khi xuống đất. Nhà nước tìm đủ cách bảo đảm các công nhân có việc làm rồi thì khó bị mất việc, nếu mất việc thì được hưởng trợ cấp rất lâu. Vì công quỹ phải chi nhiều, thuế khóa lên cao. Các xí nghiệp khó sa thải công nhân, mà đóng thuế lại cao; nhiều xí nghiệp đã đem tiền ra nước ngoài đầu tư.

Kinh tế miền sông Rhine được gọi là “kinh tế thị trường xã hội” (social market economy) vì khuynh hướng bảo vệ công bằng trong xã hội. Một đặc điểm khác là những quyết định trong nền kinh tế đó được chia sẻ cho nhiều loại người tham dự chứ không phải dành riêng cho giới quản đốc được các chủ nhân (hội đồng quản trị do các cổ đông bầu ra) ủy nhiệm. Nghiệp đoàn ở Đức được tham dự, công nhân tham dự vào chính sách quản lý, gọi là mô thức “đồng quyết định” (Codetermination). Nhà nước cũng ghé vào khi cần can thiệp giữa chủ và thợ, và rất hay can thiệp bằng các luật lệ ràng buộc xí nghịêp. Vai trò các ngân hàng ở vùng sông Rhine quan trọng hơn ở Mỹ, vai trò của thị trường tài chánh, thị trường chứng khoán nhẹ hơn. Khi nói đến thị trường là ta nói tới hàng vạn, hàng triệu người “vô danh” quyết định, chỉ theo tiêu chuẩn lợi lộc cho họ. Khi cần đổi là họ đổi rất nhanh, giá cổ phần lên hay xuống quyết định số phận các nhà quản trị. Các quan hệ với ngân hàng không theo lối như vậy, có liên hệ trực tiếp giữa người với người, và cách nhìn có tính lâu dài hơn. Từ sau Thế Chiến II đến đầu thập niên 1990 kinh tế miền sông Rhine được coi là kiểu mẫu: tốc độ phát triển cao và bền chặt, xã hội đoàn kết, người người tương nhượng.

Nhưng từ năm 1992 tình hình thay đổi. Kinh tế Mỹ chạy với tốc độ cao hơn, kéo dài liên tục nhiều năm, và một phép lạ mới là không bị lạm phát cao trong khi phát triển. Cuộc khủng hoảng tín dụng năm 2007 khiến kinh tế Mỹ khựng lại, nhưng từ năm 2010 họ đã cải tổ hệ thống tài chánh, vẫn còn rất nhiều năng lực tiến tới. Cơn thoái trào kinh tế ở Âu châu từ năm 1993 kéo dài mãi không phục hồi lại sức mạnh. Nhật Bản cũng vậy. Công nghiệp tin học ra đời, một thứ “kỹ thuật gây xáo trộn” trong trật tự kinh tế (disruptive technology), cộng với xu hướng toàn cầu hóa mạnh hơn, cho thấy hệ thống thị trường ở Mỹ “hữu hiệu” hơn trong việc phân bố tài nguyên vào việc sản xuất. Các cổ đông bỏ phiếu quyết định “thuần lý” hơn những người tham dự trong các hội đồng quản trị một công ty Đức. Thị trường chứng khoán hữu hiệu hơn các nhà quản đốc ngân hàng. Hệ thống ở Âu châu gặp nhiều trở ngại vì cứng quá, nhược điểm đó hiện ra rõ hơn khi trải qua một giai đoạn có những kỹ thuật mới ra đời.

Cho nên ở Âu châu đã có phong trào cải tổ. Có rất nhiều đề nghị đổi mới, tiêu biểu là chế độ lương bổng và bảo hiểm xã hội cho công nhân. Các nhà kinh tế thấy là các xí nghiệp ở Âu châu chịu chi phí về lao động cao quá, cao hơn hẳn Anh, Mỹ, cho nên cạnh tranh khó hơn trên thị trường thế giới. Số tiền mà xí nghiệp chi tiêu khi dùng công nhân, gọi là phí lao động bao gồm hai phần. Một phần là lương bổng, phần kia là số tiền đóng góp của xí nghiệp cho xã hội khi sử dụng một công nhân. Số tiền đó sẽ được dùng để trang trải lương thất nghiệp, bảo hiểm tai nạn lao động, hay hưu bổng. Chúng ta thấy Đức và Mỹ khác hẳn nhau.

Ở Đức, đồng lương trả cho công nhân chiếm 55 phần trăm chi phí lao động mỗi giờ, còn 45 phần trăm là tiền đóng góp cho xã hội. Chi phí lao động tại các xí nghiệp Mỹ chỉ bằng 55 phần trăm của Đức, các công ty Mỹ được lợi hơn. Bên Anh còn thấp hơn, chi phí lao động chỉ bằng 45%, nghĩa là chỉ bằng số đóng góp của một xí nghiệp Đức vào quỹ xã hội cho công nhân trong.

Nhìn vào hai thành phần của chi phí lao động chúng ta có thể thấy chúng biểu hiện hai mô thức tổ chức xã hội khác nhau. Ở Pháp và Đức, đồng lương trả cho người lao động chỉ bằng 56% và 55%, phần đóng góp cho xã hội chiếm lần lượt 44% và 45% trong chi phí một giờ làm việc. Còn ở Mỹ, đồng lương là 71%, đóng góp 29%; bên Anh, 73% và 27%. Các tỷ lệ khác nhau chứng tỏ công nhân ở Mỹ, Anh được xí nghiệp trả thù lao trực tiếp với một tỷ lệ cao hơn ở Đức hay Pháp. Nhưng ngược lại, khi các công nhân đó gặp khó khăn (thất nghiệp, về hưu) thì họ không được xã hội săn sóc bằng các đồng nghiệp ở Đức hay Pháp.

Cuối cùng, người dân sẽ quyết định. Cách tổ chức xã hội, theo lối Mỹ hay lối Âu châu, được thể hiện trong những luật lệ về thuế khóa, luật lao động, luật an ninh xã hội, vân vân, được đưa ra trước công chúng. Các nhà chính trị tha hồ bàn cãi, tha hồ vận động, sau cùng dân sẽ bỏ phiếu chọn. Một thời gian sau khi áp dụng, dân có thể đổi ý kiến.

Nhưng, như trên đã nói, phân biệt hai mô hình Anglo-Saxon và Sông Rhine còn là đơn giản hóa vấn đề. Nhìn kỹ, chúng ta sẽ thấy nước Mỹ có lúc ngả sang phía tự do nhiều hơn, có lúc nghiêng về phía bình đẳng nhiều hơn. Nhưng một điều đáng nói là ngay giữa các nước Âu châu họ cũng mỗi nước một khác.

Bảo vệ người lao động theo lối nào?

Năm 2005, Liên hiệp Âu châu họp tại Anh quốc để bàn vấn đề “hội nhập kinh tế toàn cầu hóa.” Nội dung các cuộc thảo luận có đề tài về chế độ xã hội ở Âu châu. Làm sao để các nước trong Liên hiệp bảo vệ được “mạng lưới an toàn xã hội” mà vẫn đủ sức cạnh tranh với các nước ở Mỹ châu và Á Đông, nơi giới công nhân không được bảo vệ chặt chẽ như ở lục địa Âu châu. Mạng lưới an toàn xã hội ra đời từ thế kỷ 19 ở Đức, Anh, rồi phát triển lâu ngày thành những định chế vững chắc, một phần cũng là phản ứng của các nhà chính trị trước các phong trào công đoàn, trước các đảng phái theo chủ nghĩa Xã hội và chủ nghĩa Cộng Sản.

Nhiều người cho là những nước có mạng lưới an toàn xã hội tốt thì thường chi phí lao động cao hơn, do đó khả năng cạnh tranh trên thị trừong thế giới thấp hơn. Sự thật không nhất thiết như thế.

Diễn đàn Kinh tế Thế giới (World Economic Forum) năm 2005 công bố bảng xếp hạng khả năng cạnh tranh kinh tế của 117 quốc gia, dùng một Chỉ số Phát triển và Cạnh tranh (GCI) để phân hơn kém. Trong bảng này, Phần Lan đứng đầu sổ về khả năng cạnh tranh, liên tiếp ba năm liền, Hoa Kỳ đứng hạng nhì như trước. Việt Nam được xếp hạng 81, tụt 4 nấc so với hạng 77 vào năm trước. Nhiều nước cựu cộng sản đã dân chủ hóa đứng hàng khá cao chứng tỏ họ có thể cạnh tranh giỏi: Estonia (hạng 20), Slovenia (32), Cộng Hòa Tiệp (38), Hungary (39), Cộng Hòa Slovac (41), Ba Lan (51, tăng 9 hạng), vân vân.

Điều đáng nêu lên là các nước Bắc Âu nổi tiếng về chế độ xã hội rất an toàn, nhưng họ đã nắm những hạng cao nhất về khả năng cạnh tranh. Ngoài Phần Lan còn có Thụy Điển (hạng 3), Đan Mạch (4), Iceland (7), Na Uy (9), có thể kể thêm Hà Lan (11).

Nhiều chính trị gia bảo thủ vẫn nói rằng một nước đánh thuế cao để có mạng lưới an toàn xã hội tốt thì sẽ bị thiệt thòi trong việc phát triển kinh tế; và sẽ không có khả năng cạnh tranh trên thế giới. Bảng xếp hạng chỉ số Phát triển và Cạnh tranh (GCI) cho thấy ý kiến đó không đúng. Tùy theo hoàn cảnh quốc gia, người ta có thể chọn mạng lưới bảo hiểm xã hội cao nhưng vẫn có khả năng cạnh tranh và phát triển cao. Chỉ cần một điều kiện là người dân được lựa chọn những người cai trị họ, và được thảo luận, quyết định các đường hướng của quốc gia.

Những nước Bắc Âu được Diễn đàn Kinh tế Thế giới ca ngợi là hội đủ những điều kiện tốt, như chính sách kinh tế toàn thể (vĩ mô) sáng suốt; các định chế kinh tế chính trị đều minh bạch, công khai và có hiệu quả; và các ưu tiên trong ngân sách chi tiêu của nhà nước được đại đa số người dân đồng ý. Các nước này đã đạt được mức sống cao nhất trên thế giới đồng thời vẫn có khả năng cạnh tranh cao hạng nhất. Người dân các nước này đóng thuế nặng nhất nhưng ngược lại thì họ cũng được hưởng những lợi ích như hệ thống giáo dục tốt nhất, bảo đảm an sinh xã hội tốt nhất, khiến cho lực lượng lao động có kỹ năng cao và làm việc hăng hái.

Bốn vùng Âu Châu

Chúng tôi đã trình bầy mô thức tổ chức xã hội ở Tây Âu khác với mô thức Anglo Saxon, đặc biệt là với nước Mỹ. Nhưng trong số các nước Âu châu, người ta có thể chia ra làm nhiều khuynh hướng khác nhau. Trong một bài thuyết trình cho Liên hiệp Âu châu trong tháng Chín năm 2005, giáo sư André Sapir thuộc Đại học Tự do Bruxelles đã phân chia Âu châu làm bốn nhóm.

(1) Mô thức Bắc Âu (Thụy Điển, Đan Mạch, Na Uy, thêm Hà Lan) chi tiêu một tỷ lệ cao nhất bảo đảm an toàn xã hội, cho toàn dân được hưởng. Thị trường nhân dụng tương đối tự do và linh động nhưng chính phủ thường can thiệp để bảo đảm quyền lợi lao động. Nghiệp đoàn đóng vai trò rất mạnh khiến cho lương bổng không chênh lệch quá đáng.

(2) Mô thức Anglo-Saxon (Anh quốc và Ái Nhĩ Lan) cũng có những chương trình xã hội rất rộng rãi cho những người cần đến. Tiền trợ cấp thường nhắm cung cấp cho những người đang tuổi lao động và thường làm việc. Trên thị trường nhân dụng, mô thức này chấp nhận sự chênh lệch lương bổng khá xa và các nghiệp đoàn thường yếu.

(3) Mô thức lục địa Âu châu (Áo quốc, Bỉ, Pháp, Đức, và Lục Xâm Bảo) đặt mạng lưới an toàn dựa trên bảo hiểm xã hội nhưng không căn cứ trên công việc làm; và hưu bổng rộng rãi. Các nghiệp đoàn hiện đang xuống nhưng vẫn có ảnh hưởng mạnh vì lương bổng các công nhân ngoài nghiệp đoàn cũng dựa trên các hợp đồng lao động do nghiệp đoàn đạt được.

(4) Mô thức sau cùng, Địa Trung Hải (Hy Lạp, Ý, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha) chú trọng tới hưu bổng cho người già và mạng lưới an toàn xã hội dựa trên việc bảo đảm việc làm, người làm việc được về hưu sớm. Lương bổng trong lãnh vực công ít chênh lệch, căn cứ vào hợp đồng với công đoàn. Năm 2010 các nước Hy Lạp, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha đều gặp khủng hoảng vì chính phủ chi tiêu nhiều quá, bắt đầu cải tổ lại.

Giáo sư André Sapir đã nêu lên những lời bình phẩm bốn mô thức ở Âu châu, trên cơ sở những mục tiêu từng được các nhà kinh tế khác đề nghị.

(a) Trên tiêu chuẩn “giảm bớt bất bình đẳng về lương bổng, lợi tức và giảm bớt số người nghèo” thì Giáo sư Tito Boeri nhận thấy các nước Bắc Âu đứng cao nhất về việc tái phân bố lợi tức, qua việc đóng thuế và trợ cấp xã hội (giảm bất bình đẳng 42%); những nước Địa Trung Hải thấp nhất (giảm 35%) trong khi hai nhóm kia đứng giữa (39%).

(b) Tiêu chuẩn thứ hai thuộc loại bảo hiểm cho người lao động. Thí dụ như tiền trợ cấp khi mất việc, bảo đảm chủ nhân khó sa thải người làm. Luật lệ bảo vệ việc làm nhắm giúp những người đang có việc làm rồi, và không làm tăng thuế. Trong khi đó trợ cấp thất nghiệp bắt những người đang làm việc phải đóng thêm thuế nhưng bảo đảm cho cả những công nhân không có việc làm. Cả hai loại biện pháp trên đều nhắm cùng mục tiêu nhưng đưa tới những hậu quả khác nhau.
Nếu người mất việc được hưởng trợ cấp dồi dào thì xã hội không cần phải bảo vệ việc làm một cách gắt gao nữa mà vẫn giúp được những người thiếu thốn. Ngược lại, khi công nhân ít người bị mất việc thì quỹ bảo hiểm thất nghiệp bớt quan trọng trong việc giữ công bằng chung cho cả xã hội. Mỗi quốc gia phải lựa chọn muốn chú trọng vào khía cạnh nào, bảo vệ việc làm quan trọng hơn hay trợ cấp thất nghiệp lâu dài coi là quan trọng hơn. Các nhà chính trị phải cho biết họ chủ trương biện pháp nào đáng được ưu tiên, và lá phiếu của người dân sẽ quyết định lựa chọn giữa hai giải pháp đó.

Các nước trong Liên hiệp Âu châu đã chọn lựa rất khác nhau. Các nước Địa Trung Hải bảo vệ rất mạnh những người đang làm việc, nhưng người thất nghiệp được trợ cấp ít hơn. Ngược lại, các nước Bắc Âu có trợ cấp thất nghiệp cao và áp dụng rộng rãi, nhưng không tìm cách bảo vệ công nhân giữ công việc họ đang làm. Các nước Lục địa (miền sông Rhine) cho trợ cấp thất nghiệp cao hơn miền Địa Trung Hải nhưng cũng bảo vệ những người đang đi làm hơn. Hai nước Anglo Saxon thì tương đối coi nhẹ việc bảo vệ công việc làm, nhưng trợ cấp thất nghiệp cũng cao như các nước Bắc Âu và Lục địa. Tuy nhiên, Giáo sư André Sapir nhấn mạnh, mô thức Anglo Saxon ở Âu châu không giống mô thức Mỹ, vì bảo hiểm thất nghiệp ở Mỹ rất thấp.

Nói chung, các nước Âu châu cung cấp nhiều bảo hiểm cho người lao động hơn ở Mỹ, khi các công nhân gặp những rủi ro do đời sống kinh tế lên xuống, thay đổi gây ra. Tuy nhiên, Sapir cũng nhắc nhở, bên Mỹ rất yếu trong phần bảo hiểm xã hội, nhưng lại mạnh trong phần bảo đảm cho nhiều người có việc làm trong thị trường nhân dụng. Khi các xí nghiệp Mỹ có thể cho công nhân nghỉ việc dễ, thì họ quyết định mướn thêm người cũng nhanh hơn. Một người mất việc ở Mỹ tìm được việc làm dễ hơn và sớm hơn so với những đồng nghiệp bên Âu châu. Bằng cớ là tỷ lệ thất nghiệp ở Mỹ thường chỉ trên 5, 6 phần trăm chút đỉnh, trong khi ở Đức lên trên 10 phần trăm. Khi nước Mỹ rơi vào cuộc khủng hoảng từ 2007, tỷ lệ thất nghiệp mới lên tới 10%. Điều đáng chú ý là tỷ lệ những người “thất nghiệp lâu dài” ở Âu châu rất cao so với Mỹ.

(c) Một tiêu chuẩn khác để thẩm lượng các chế độ kinh tế, xã hội là sự khích lệ, tưởng thưởng cho những người làm việc, để số người đi làm cao hơn. Công việc không phải chỉ là một thứ “cần câu cơm” mà còn mang lại những giá trị khác cho người làm việc. Trên tiêu chuẩn này thì các nước Bắc Âu và Anglo Saxon đạt được thành tích tốt hơn, với, lần lượt 72% và 69% những người trong lớp tuổi lao động đang làm việc. Các nước theo mô thức Lục địa và Địa Trung Hải thấp hơn, 63% và 62%. Đặc biệt là những người lớn tuổi (55 đến 64) và nhỏ tuổi (15 đến 24) ở các nước Bắc Âu và Anglo Saxon đi làm nhiều và thất nghiệp ít hơn hai vùng kia.

Khi nhìn tới hai tiêu chuẩn bảo hiểm cho người lao động và tỷ số người làm việc, chúng ta thấy ngay là các quốc gia cũng bắt buộc phải lựa chọn. Luật lệ càng bảo vệ những người đang làm việc thì tỷ số người có việc làm càng thấp (Địa Trung Hải và Lục địa). Nhưng mặt khác, tiền trợ cấp thất nghiệp cao không làm cho tỷ số người đi làm giảm xuống; nghĩa là dù mất việc vẫn có tiền tiêu nhưng người ta vẫn thích đi làm hơn ngồi không.

Về mặt giảm bớt nạn nghèo khó thì các nước Bắc Âu và Lục địa được điểm cao hơn các nước Anglo Saxon và Địa Trung Hải. Nhưng theo ông Sapir thì tình trạng nước Anh không giảm bớt được tỷ lệ người nghèo không phải là do chính sách xã hội mà là do việc giáo dục ở cấp cơ sở không có hiệu quả cao.

Giáo sư Sapir thẩm lượng bốn mô thức ở Âu châu trên hai tiêu chuẩn là hiệu năng kinh tế và bình đẳng xã hội. Các nước Bắc Âu đạt được điểm cao nhất trên cả hai tiêu chuẩn này; các nước Địa Trung Hải thấp trên cả hai. Mô thức Lục địa cao về bình đẳng nhưng kinh tế kém hiệu năng; các nước Anglo Saxon thì ngược lại. Giữa hai tiêu chuẩn đó, thế nào cũng phải chọn lấy một cái làm ưu tiên. Theo ông Sapir thì những nền kinh tế có hiệu năng cao thì cũng phát triển bền vững hơn.

Bài phân tích của giáo sư André Sapir nhắm trình bầy các phương pháp để Liên hiệp Âu châu tìm cách thay đổi hệ thống an ninh xã hội và luật lệ lao động, ngõ hầu thống nhất với nhau hơn. Nhưng đọc các phân tích của ông, chúng ta cũng có hiểu biết thêm về những lựa chọn của một quốc gia.

Quyền lựa chọn thuộc về toàn dân

Khi thấy các nước tiên tiến trên thế giới chọn những mô thức tổ chức xã hội khác nhau, chúng ta sẽ phân vân không biết nước Việt Nam khi thật sự dân chủ, tự do, sẽ theo mô thức nào. Người Việt Nam sẽ phải suy nghĩ ngay từ bây giờ, trong lúc còn đang vận động chấm dứt chế độ độc tài, để mai sau cùng nhau lựa chọn.

Nhưng ai sẽ là người lựa chọn? Một nhóm các chuyên gia chính trị và kinh tế? Hay một nhóm các nhà chính trị khéo nói nên được nhiều người dân hâm mộ? Làm sao biết được họ chọn đúng hay sai lầm?

Một mô thức xã hội thường phải áp dụng một thế hệ mới biết là đúng hay sai. Dù chọn một kiểu mẫu an toàn nhất, khi đem thi hành mới biết nó có thích hợp với tình trạng cá biệt của người dân nước mình hay không. Có thể nói, mỗi lựa chọn chính trị ở tầm mức quốc gia cũng là một cuộc đánh cá, giỏi đến mấy cũng có may có rủi.

Điều quan trọng là, khi đã biết lựa chọn nào cũng có may có rủi, thì chúng ta cũng biết rằng nếu quyết định sai lầm thì các kết quả xấu (hoặc tai hoạ, nếu xấu quá) sẽ chỉ có người dân đưa đầu gánh chịu. Chính vì vậy, chỉ có người dân mới có quyền quyết định việc lựa chọn. Không thể nào để cho một nhóm người, dù họ tự coi là lỗi lạc, là ưu tú đứng ra bao thầu quyết định giúp cho dân! Nếu đánh cá lầm, dân chịu hậu quả chứ không phải họ hay con cháu họ! Họ giống như những kẻ đánh bạc bằng tiền của người khác, người khác đây là dân Việt Nam. Không thể chấp nhận cho bất cứ nhóm người nào chiếm quyền quyết định của người dân.

Cho nên, lựa chọn chính yếu trước hết vẫn là chế độ dân chủ, tự do. Người dân bỏ lá phiếu quyết định theo luật chơi dân chủ, người dân sẽ tự chịu lấy trách nhiệm. Đây là điều mà các nhà tranh đấu Dân Chủ ở trong nước đang nỗ lực tranh đấu. Sau khi dân ta được tự do rồi, chúng ta sẽ tranh luận về mô thức xây dựng đất nước. Một điều chúng ta có thể đồng ý ngay bây giờ, là nước Việt Nam trong tương lai chắc chắn phải là một nước tự do dân chủ.

Ngô Nhân Dụng

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét