Thứ Hai, 9 tháng 8, 2010

Dân chủ, với nhiều mô thức xã hội

Ngô Nhân Dụng

Mặc dầu có nhiều lời đồn đãi từ gần hai chục năm nay, lịch sử chưa hề ngưng. Mà có thể sẽ không bao giờ dừng chân, không bao giờ chấm dứt. Có người nghĩ lịch sử đã hoặc sắp chấm dứt vì họ theo cách luận giải của Hegel, nhưng lại tin là sau cùng loài người sẽ đồng ý với nhau về một cách tổ chức xã hội tử tế nhất, tạm gọi là tối hảo, sau đó sẽ không còn phải tranh cãi, đấm đá hoặc chém giết nhau về những “phản đề” lớn lao nữa.

Nhưng chúng ta cũng biết là thường mỗi khi xã hội loài người tìm ra giải pháp cho một vấn đề khó khăn nào đó, thì sau một thời gian thế nào họ cũng sẽ thấy ngay có những vấn đề rắc rối mới, do chính những giải pháp vừa áp dụng sinh đẻ ra. Điều này đúng trong phạm vi kỹ thuật, trong cách tổ chức kinh tế, cũng như trong cách xếp đặt chính trị để phân chia quyền hành và phận sự của những người sống chung với nhau.

Trước khi lên cầm quyền, ông Nicolas Sarkozy đã cổ động mạnh mẽ cho quyền tự do kinh doanh. Ông nói, “Suốt 25 năm qua, nước Pháp không ngừng làm nản lòng những người có sáng kiến, trừng phạt những người thành công. Khi ngăn cản không cho những thành phần năng động nhất làm giầu, hậu quả là làm cho tất cả mọi người khác bị nghèo đi.” Nghe những ý kiến đó, nhiều người tin ông thấy nỗi khó khăn lớn của nước Pháp là sản xuất chứ không phải là phân phối các tài sản cho công bằng, nhiều người nghi ông tính đưa nước Pháp đến gần mô hình kinh tế Mỹ. Mấy năm sau, cũng ông tổng thống Pháp đó, lại mới tuyên bố rằng thời của kinh tế tư bản tự do đã chấm dứt - fini! Bây giờ, ông lại coi việc chia sẻ các tài sản là quan trọng hơn.

Mỗi thời đại loài người chúng ta chọn một mâu thuẫn quan trọng nhất trong xã hội cần tìm cách giải quyết gấp. Ngay việc chọn lựa này cũng đủ để chúng ta bất đồng ý kiến và gây ra tranh chấp trong từng quốc gia, và giữa các quốc gia. Có người coi mâu thuẫn giữa chủ nhân và người làm công là quan trọng nhất. Có người thấy mâu thuẫn giữa những nhà kinh doanh sản xuất một bên, và các người tiêu thụ ở bên kia, là điều căn bản phải đặt thêm luật lệ điều chỉnh. Các nhà kinh doanh và các nhà chính trị cầm quyền cũng luôn luôn chống đối nhau, bên nào cũng kêu gọi “nhân dân” đứng về phía mình. Ai biết được trong 25 năm nữa trên thế giới sẽ nêu ra những vấn đề lớn nào?

Trong đám đa số đã đồng đồng ý với nhau đâu là vấn đề tối quan trọng phải lo, thì họ cũng chưa thể đồng ý về phương cách giải quyết vấn đề đó. Và như vậy, xã hội loài người sẽ còn tiếp tục bầy ra nhiều vấn đề mới để tranh luận trước khi lựa chọn.

Chẳng hạn, chúng ta thấy trong việc tổ chức một xã hội, một quốc gia, có lúc ta sẽ bắt buộc phải lựa chọn giữa nhiều giá trị, tất cả đều đáng quý nhưng đem áp dụng thì có thể xung khắc với nhau. Một vấn đề nan giải là mâu thuẫn giữa các quyền tự do và ý muốn giữ công bằng giữa mọi người. Đánh thuế chẳng hạn, đó là chuyện chính trị quan trọng nhất ở các nước dân chủ; mà trong chuyện đó làm sao thực hiện được cả tự do lẫn công bằng?

Chuyện xăng và xe

Khi giá xăng ở Mỹ lên cao, thế nào cũng nghe nhiều người so sánh: “Ăn nhằm gì! Xăng ở Âu châu nó đắt gấp ba, bốn lần, đắt từ bao nhiêu năm nay rồi họ vẫn chịu được! Đừng than nữa!”

Nghe xong nhiều người Mỹ cũng thấy được an ủi. Họ thấy: Giá xăng ở Pháp, ở Đức cao kinh khủng, nước Mỹ thật là thiên đường – của những người lái xe.

Nhưng một điều người ta quên nói thêm, là ở Âu châu rất ít người phải lái xe hơi đi làm hay đi học. Tới thành phố Amsterdam ở Hà Lan thấy bao nhiêu người đi xe đạp. Một trò tinh nghịch của học sinh phá làng phá xóm là lấy trộm xe đạp của người ta đem vứt xuống sông! Mỗi tuần phải dùng phà đi “quét,” vớt lên hàng chục chiếc xe đạp! Ở Pháp, ở Đức, dân phần lớn đi xe buýt, xe điện. Hồi dậy ở Trường Võ Bị Hoàng gia Canada tại St-Jean, có lần tôi cho một đồng nghiệp người Đức đi xe nhờ. Anh là giáo sư thỉnh giảng từ một đại học tại Stuttgart qua dậy Vật lý học một năm, mỗi tuần lại đi xe đò lên Montréal cách ba chục cây số nghe nhạc. Hỏi tại sao không mua chiếc xe cũ đi cho nó tiện, bao giờ hồi hương thì bán lại, anh nói: “Tôi không biết lái xe!” Anh bảo ở nước Đức anh không cần xe, đi đâu đã có xe điện, gấp quá thì gọi taxi.

Ở Mỹ trái lại, ai cũng phải lái xe, “không xe là không chân.” Một thanh niên trên 30 tuổi mà không biết lái xe sẽ bị mọi người nhìn bằng con mắt nghi ngờ! Chắc anh này phải có cái gì bất ổn (wrong)! Khó lòng được nhận vào học chương trình Ph.D. chứ đừng nói tới chuyện tốt nghiệp, đi dậy học!

Sau khi chứng kiến cảnh hàng triệu chiếc xe kẹt cứng trên xa lộ 45 từ Houston lên Dallas để chạy bão Rita, chắc nhiều người Mỹ cũng thấy sự bất tiện của tình trạng “người người lái xe, ngày ngày lái xe, ta nhất định thắng, địch nhất định (gài số) de!” Nhưng khó lòng thay đổi được người Mỹ. Muốn bắt đầu thay đổi phải đợi một cơn khủng hoảng dầu lửa thế giới; rồi từ từ, một trăm năm sau, chắc họ sẽ đổi chút chút!

Chuyện giá xăng và chuyện dùng xe chỉ là một hình ảnh tiêu biểu cho lối sống khác biệt giữa hai lục địa; nó phản ảnh cách tổ chức xã hội ở Mỹ và Âu châu rất khác nhau. Khi nói “cách tổ chức xã hội” chúng ta không nên nghĩ là có những người ngồi suy nghĩ kỹ lưỡng, bàn bạc với nhau, rồi quyết định cả nước nên sống chung với nhau như thế nào. Xã hội loài người, nhất là ở một nước tự do, cách thức người ta sống chung với nhau không được quyết định theo lối đó. Người ta sống trước khi quyết định sẽ sống theo mô thức nào. Một mô thức xã hội từ từ xuất hiện, hàng thế kỷ mới thành hình, càng ngày càng thấy rõ nó riêng biệt. Ở Âu châu những thành phố cổ đã có từ thời vua chúa đi xe ngựa. Đường xá chật hẹp, nhà cửa san sát hai bên. Ở Mỹ phần lớn các thành phố đều mới, nhiều thị trấn ra đời sau khi công ty Ford đã chế ra hàng loạt loại xe rẻ tiền, trong lúc các mỏ dầu đã được khai phá triệt để, thiên hạ ai cũng muốn có ít nhất một cái xe hơi. Cách thiết kế các đô thị khác nhau, cách xây nhà ở khác nhau, tự nhiên lối sống khác nhau. Nếu bảo đó là do văn hóa họ khác nhau thì cũng đúng. Từ đó, chính trị cũng khác nhau.

Trong các quyết định chính trị của một nước, chắc không có quyết định nào quan trọng bằng chuyện đánh thuế! Bên Mỹ nhiều người lái xe hơi, người Âu châu ít lái xe riêng là vì chính sách thuế khóa khác nhau! Ở Âu châu xăng bán đắt vì đóng thuế xăng cao; nhà nước dùng tiền thuế thu được để trợ cấp cho các công ty chuyên chở công cộng. Người dân đi xe buýt mỗi ngày hoan nghênh. Ở Mỹ mà nhà chính trị nào đòi tăng thuế xăng chắc sẽ bị dân chúng cho về vườn sớm! Không những các hãng xe hơi phản đối, các công ty dầu lửa than phiền, các hãng bảo hiểm chống, mà ngay các công nhân mỗi ngày lái xe đi làm cũng sẽ không chịu! Quý vị có thể nói ngược lại rằng chính vì dân ham lái xe quá cho nên chính sách thuế của nhà nước phải chiều ý họ, họ muốn dân chủ thì phải chịu hít khói. Cái nhân này sinh ra quả đó, rồi quả lại thành duyên tạo ra nhân mới. Năm 16 tuổi các thanh niên thiếu nữ Mỹ tập lái xe, nhìn những chiếc xe lòng nổi đầy mơ ước, họ bắt đầu chọn xe rồi. Nói đổ xuống sông xuống biển, có 10 trận bão như Rita nữa cũng không làm cho dân Mỹ thay đổi mối tình đầu của họ gắn bó với chiếc xe hơi! Người đứng ở bên kia bờ Đại Tây Dương sẽ phải lắc đầu tội nghiệp cho cảnh dân Mỹ ngụp lặn trong biển trầm luân đầy khói xe và cát bụi! Người Mỹ đứng ở bên này thì lắc đầu thương hại dân Âu châu cứ bị chính phủ bắt nạt bắt đóng thuế xăng cao mãi mà không biết vùng lên đòi quyền tự do làm chủ cái xe của mình!

Chuyện xăng và xe chỉ là một góc nhỏ trong cuộc sống, cho thấy các dân tộc chọn thể thức sống chung với nhau như thế nào. Một lần nữa, phải nhắc lại là khi nói “chọn,” chúng ta nên hiểu chữ đó một cách tương đối thôi. Cần biết khiêm tốn, chúng ta chỉ chọn trong khả năng những cái mình có thể chọn mà thôi. Mình chọn xã hội rồi chính xã hội nó sẽ chọn mình. Nhưng không phải vì thế mà người ta không dám chọn. Nói chung, dân Âu châu trao cho nhà nước nhiều quyền quyết định hơn, được can thiệp vào đời sống người dân nhiều hơn. Ở nước Mỹ thì có ông tổng thống đã nói chính phủ phải càng nhỏ càng tốt, nếu trên đời không có cái gọi là chính phủ thì tuyệt diệu! Nói đến phương thức tổ chức xã hội thì phải nói đến vai trò của nhà nước trong xã hội đó.

Mỹ và Âu châu

Ta có thể so sánh thấy ngay những lựa chọn khác biệt của Mỹ và Âu châu, khi phải cân nhắc giữa tự do và công bằng xã hội. Tuy vậy, lục địa Âu Châu cũng không thuần nhất; khi nhìn vào chi tiết thì ngay giữa các quốc gia đó cũng chọn nhiều mô thức khác nhau.

Thí dụ, người Mỹ đề cao tự do kinh doanh hơn Âu châu. Nhưng từ đầu thế kỷ trước họ đã đặt ra thuế lợi tức lũy tiến, nghĩa là nếu anh làm ăn giỏi, kiếm nhiều tiền, thì anh phải đóng góp cho quốc gia nhiều hơn – vì anh sử dụng các phương tiện chung của xã hội nhiều hơn. Hiển nhiên, bị đánh thuế tức là quyền tự do kinh doanh của anh bị xâm phạm, vì anh đã làm ra tiền mà không được hưởng một mình! Ở nước Mỹ cũng có chế độ an sinh xã hội (welfare) và y tế miễn phí cho người nghèo (medicaid). Nó tạo một xã hội bình đẳng hơn, nhưng cũng tăng thuế, lại làm mất một chút quyền tự do làm ra tiền và giữ tiền của người giầu.

Công nhân ở Mỹ dễ bị sa thải hơn ở Âu châu, nghĩa là chủ nhân có nhiều quyền tự do quyết định hơn; nhưng nước Mỹ cũng có chế độ bảo hiểm thất nghiệp. Tức là xã hội Mỹ công nhận là nhà nước cũng phải lo bảo vệ đức công bằng, chứ không phải chỉ bảo vệ tự do mà thôi. So sánh các kiểu tổ chức xã hội giữa các nước Âu châu và Mỹ, một điều đáng xét nhất là quan niệm của họ về công bằng xã hội, cách họ thực hiện quan niệm đó trong các luật lệ về kinh tế, xã hội.

Câu hỏi căn bản là: Bảo vệ đức công bằng như thế nào? Nhà chính trị học nổi tiếng thế kỷ trước là John Rawls (1921-2002) đưa ra mấy quy tắc về Công Lý; trong cuốn “Công lý thể hiện qua Công bằng” (Justice as Fairness). Rawls giả thiết rằng mọi người đều hướng thiện và có ý thức về Công lý như nhau. Sau khi xác nhận mọi người phải có những quyền tự do ngang bằng nhau (quy tắc thứ nhất) Rawls đề nghị khi trong xã hội có những bất bình đẳng về xã hội và kinh tế thì phải làm sao để tất cả mọi người đều được bình đẳng về cơ hội (quy tắc 2a). Ngoài ra, cách tổ chức xã hội phải làm sao mang lại mức lợi ích tốt nhất cho những người yếu thế nhất trong tập thể (quy tắc 2b).

Những phân tích lý thuyết của Rawls (The Theory of Justice, 1971) cũng không khác lắm so với điều Adam Smith đã nêu lên hai thế kỷ trước. Người được coi là ông tổ của kinh tế học, trong cuốn “thánh kinh” của kinh tế tư bản, The Wealth of Nation (1776) ông cũng đề cao công bằng xã hội. Adam Smith muốn trong xã hội những người nghèo nhất cũng có cái áo vải để mặc, có giầy da để đi. Đó là những hàng hóa mà vào thời đại ông sống ở Anh quốc ông cho là nếu không có thì “người ta sẽ xấu xa hổ thẹn khi ra trước công chúng.”

Quy tắc “không để ai phải hổ thẹn” của Smith ngày nay có thể diễn tả trong “quyền có công việc làm” xứng đáng với phẩm giá con người. Amartya Sen diễn tả “quyền có việc làm” giống như một thứ quyền tự do mà nếu thiếu thì không có bình đẳng trong xã hội. Ông cho là nếu xã hội cung cấp tiền bảo hiểm thất nghiệp thì cũng chỉ làm cho người mất việc giảm bớt được một phần tình trạng mất tự do trên, trong việc chi tiêu. Nhưng còn những phần khác, như lòng tự tin, giá trị con người, thì chưa giảm được (Phát triển là Tự do, 1999).

Khi chúng ta muốn những người yếu thế nhất cũng được sống xứng đáng, thì tất nhiên nhiều người khác phải hy sinh bớt phần của họ. Ai có thể hy sinh dễ dàng hơn? Tất nhiên, đó là những người khá giả nhất. Bên Âu châu người ta đề cao những quy tắc công bằng xã hội hơn, áp dụng theo những mức độ được coi là cao hơn ở Mỹ. Sự khác biệt, hơn kém chỉ là ở mức độ thôi dù ai cũng đồng ý trên nguyên tắc, nhưng chỉ thế thôi cũng đủ thấy là Mỹ với Âu Châu khác nhau rất nhiều.

Chúng ta có thể viết nhiều cuốn sách so sánh hệ thống xã hội giữa Mỹ và Âu châu. Chỉ cần nêu lên một vài thí dụ hiển nhiên dễ thấy nhất, thí dụ sự phân phối lợi tức và tài sản sao cho công bằng .

Trong các quốc gia tiên tiến, Mỹ nổi tiếng là nước có mức độ chênh lệch giữa người giầu với người nghèo cao nhất, nhất là khi so sánh với Nhật Bản và các nước Tây Âu. Người ta đo mức chênh lệch đó bằng Chỉ số Gini, chỉ số nằm giữa số không và số một, càng lớn thì càng bất công. Nếu trong một nước tất cả mọi người có lợi tức bằng nhau thì chỉ số Gini là 0, zero; nếu tất cả GDP thuộc về một người thì chỉ số là một, con số càng cao thì càng bớt bình đẳng. Chỉ số Gini của Nhật Bản là 0.249; Đức 0.283; Pháp, 0.327; ở Mỹ chỉ số Gini là 0.433 thời ông Reagan làm tổng thống, lên 0.462 thời ông Clinton, vào năm 2004 là 0.466. Tây Âu đã thành công trong việc bảo vệ bình đẳng, công bằng trên mặt lợi tức lương bổng hơn Mỹ châu.

Nhưng trên mặt bảo vệ quyền của mọi người phải có việc làm thì Tây Âu đã từng thua Mỹ. Trong những năm 1965 – 73 tỷ lệ thất nghiệp các nuớc không khác nhau lắm, ở Mỹ là 4.5 phần trăm; ở Ý cao hơn chút đỉnh, 5.8%, Pháp chỉ có 2.3%, riêng tại Đức đặc biệt thấp hơn 1 phần trăm. Nhưng trong mươi năm từ 1995, tỷ lệ thất nghiệp ở các nước Pháp, Ý và cả Đức đều gia tăng lên tới 10%, cao hơn 10%, trong khi ở Mỹ tỷ lệ sấp sỉ 6%. Đến cuộc khủng hoảng 2008 thì tỷ lệ thất nghiệp tại Mỹ mới lên trên 9%.

Nước Mỹ có vẻ chú ý tới khuyến khích việc tạo ra tài sản hơn là phân phối tài sản. Cách tổ chức hệ thống kinh tế, xã hội ở Mỹ chấp nhận tình trạng bất bình đẳng về lợi tức và tài sản như một trạng thái bình thường. Phần lớn người Mỹ không cảm thấy ganh tị với người giầu, vì tin là quyền tự do làm giầu ai cũng có như nhau. Năm 2005 ông Bill Gates giầu nhất thế giới (125 tỷ mỹ kim); ông Warren Buffett vẫn đứng hạng nhì (40 tỷ) nhưng nhiều tờ báo không loan tin về sự chênh lệch này. Cả hai đều là những người thân lập thân cả. Năm đó, 5 người giầu đứng hạng từ 6 đến 10 đều thuộc một gia đình Walton; nhưng ông bố họ là Sam Walton, người sáng lập công ty Wal Mart cũng xuất thân là một anh bán hàng cho một cửa tiệm J.C. Penny. Năm 2010, nghe nói một người Mexico đã chiếm giải quán quân giầu nhất thế giới, cả hai ông Mỹ đều tụt xuống. Họ có vẻ không buồn bã gì, vì còn mải lo đem tiền đi làm việc thiện.

Nhưng khi người ta thấy ở nước Mỹ còn hàng chục triệu người không có bảo hiểm y tế, đặc biệt là những người gốc Phi châu, thì điều đó làm cho nhiều người bất bình, đưa tới cuộc cải tổ y tế năm 2010. Qua hàng thế kỷ người Âu Châu thường tội nghiệp cho nước Mỹ vì đã để cho, về mặt y tế nhiều công dân của họ phải sống thiếu thốn hơn dân nghèo những nước khác. Trong khi đó, người Mỹ lại lấy làm ái ngại cho dân chúng các nước Âu châu sống trong cảnh tỷ lệ thất nghiệp cao, mà họ cho thất nghiệp làm mất phẩm giá con người.

Tại sao chúng ta đóng thuế?

Thuế là phần đóng góp của mỗi cá nhân vào ngân quỹ chung của xã hội để chi tiêu cho các việc chung. Người giầu thường phải đóng nhiều hơn nhưng vẫn không mất luật công bằng, vì họ được hưởng lợi nhiều hơn khi sử dụng các định chế quốc gia (Thí dụ: Cảnh sát bảo vệ trật tự trên xa lộ thì những người có xe được lợi nhiều hơn người không có xe; người giầu sử dụng các phi trường nhiều hơn hẳn những người nghèo). Thuế cũng là một cách tái phân phối lợi tức từ người giầu sang người nghèo và những người không may lâm vào cảnh thiếu thốn. Ông Nguyễn Quang A kể chuyện trong một cuộc hội thảo ở Hà Nội vào giữa thập niên 1990 ông than phiền về nạn cán bộ hạch sách các nhà tư doanh, mà lúc đó ông cũng là đảng viên đảng Cộng Sản. Một vị lãnh đạo, ông A cho biết thuộc tầng lớp cao nhất, tỏ ra thông cảm với ông về tệ nạn tham nhũng. Nhưng trong giờ giải lao, ông lãnh đạo này vừa xoa bụng vừa nói (đùa) với Nguyễn Quang A: Thì các cậu làm ra tiền, anh em họ khó khăn, tái phân phối một chút có sao?

Tham nhũng cũng là một thứ thuế, tái phân phối, vô danh và vô hình. Quan niệm tham nhũng là một phương pháp tái phân phối lợi tức cũng giống quan niệm dùng thuế để tái phân phối. Điều khác biệt là ở các nước dân chủ, tự do, các sắc thuế được trình bầy công khai, ai cũng chấp nhận làm việc là phải đóng thuế, ai cũng biết thuế dùng để làm gì; chẳng hạn để thiết lập quỹ y tế công cộng miễn phí, hoặc cứu trợ những người bị nạn bão lụt. Còn ở các nước chậm tiến thì “thuế hạch sách” không có văn bản, suất thuế cao hay thấp người thọ thuế không biết trước, nó tùy theo “cảm hứng” của người thu thuế. Cũng không có sổ sách giấy tờ, chỉ những người thu thuế biết với nhau, và chi tiêu cho riêng họ! Dân chúng không được biết, không được bàn, không được hưởng gì cả. Khi một vị lãnh đạo nghĩ tham nhũng cũng là một cách tái phân lợi tức, đó là một căn bệnh tâm lý cần trị liệu gấp. Thuế làm giảm tự do, ở nước nào cũng vậy; tái phân lợi tức là giúp công bằng xã hội tăng lên. Nhưng phải công khai, minh bạch.

Trên mặt thuế khóa thì phần lớn các nước Tây Âu trên lục địa đều đánh thuế rất cao. Thụy Điển chẳng hạn, thuế cao bậc nhất thế giới. Nước Mỹ đánh thuế thấp hơn, gần nay chính phủ Bush lại giảm thuế, mà trong việc cắt giảm này những người giầu nhất (đóng thuế cũng nhiều) lại được giảm hơn những người nghèo nhất. Nhưng việc đánh thuế nhiều hay ít là do các chính phủ dân cử quyết định; mà dân chúng các nước Âu châu hay Mỹ đều có khả năng thay đổi chính phủ, nghĩa là thay đổi chính sách thuế khóa của quốc gia.

Đánh thuế là xâm phạm quyền tự do sinh sống, quyền kiếm tiền của người dân. Đánh thuế càng cao tức là càng làm mất tự do. Đổi lại, có nhiều tiền thuế thì nhà nước mới có khả năng tái phân phối lợi tức, chia sẻ bớt từ người giầu sang người nghèo để xã hội công bằng hơn. Người Mỹ coi tự do quan trọng hơn bình đẳng trên mặt lợi tức, còn dân chúng nhiều nước Âu châu nghĩ ngược lại. Sự lựa chọn là do dân chúng, họ quyết định theo các thủ tục dân chủ, trong việc bỏ phiếu. Mỗi nước lựa chọn theo bảng giá trị nằm trong truyền thống văn hóa của họ; khi đã lựa chọn rồi thì sau một vài thế hệ sẽ khó thay đổi. Hiện nay ở Đức đảng SPD có khuynh hướng xã hội cũng đồng ý nên giảm bớt thuế, dù sự công bằng cũng giảm theo. Nhưng các cử tri trung thành của họ cũng phản đối, đảng bị mất đa số trong quốc hội. Đảng CDU muốn thay đổi nhanh hơn, nhưng cũng không đủ phiếu để tự họ quyết định. Cuộc cải tổ thuế khóa ở Đức sẽ bị chậm lại mất nhiều năm. Cho nên chúng ta cần bàn kỹ với nhau trước khi quyết định. Toàn dân phải tham gia cuộc thảo luận này, chứ không nên đóng kín cửa cho một nhóm nào đó bàn riêng với nhau.

Chúng tôi đã nêu vài thí dụ để so sánh những lựa chọn giữa tự do và công bằng xã hội, cho thấy lựa chọn của người Mỹ và Âu châu khác nhau nhiều lắm. Người Việt Nam sẽ chọn mô thức nào cho thích hợp với căn cơ của mình, đó là điều bà con ta sẽ phải thảo luận và lựa chọn?

Nhưng ngay giữa các nước Tây Âu họ cũng theo các quan niệm khác nhau. Hiện nay Âu châu đang tiến đến thống nhất để cạnh tranh Mỹ về mặt phát triển kinh tế. Một trong những trở ngại cho việc kích thích kinh tế và cho việc thống nhất là ngay giữa các nước trong lục địa cũng có những chính sách khác nhau khi muốn thực hiện công bằng xã hội. Chúng tôi sẽ xin trình bầy tiếp trong phần sau để thấy việc xây dựng một chế độ dân chủ tự do cho nước ta có thể dùng kinh nghiệm từ rất nhiều nguồn gốc, chứ không phải cứ đòi tự do là bắt chước một nước khác.

(Còn tiếp)

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét