Chủ Nhật, 29 tháng 8, 2010

Bắc Hành

Ngự Thuyết

(Tiếp theo) - Kỳ 3

Rời nghĩa trang, tôi hỏi T. mình sẽ đến thăm nơi nào. T. đề nghị:
“Hay là mình ghé La Vang thăm một chút rồi đi tiếp.”

Tôi đồng ý ngay. Tôi nghe tiếng La Vang từ lâu. Khu thánh địa này không xa, thuộc tỉnh Quảng Trị, cách Huế khoảng 60 cây số. Từ quốc lộ rẽ qua trái một đoạn đường gặp ngôi nhà thờ đang được trùng tu (nhà thờ cũ đã bị tiêu hủy trong trận chiến 1972), xe ủi đất đang mở thêm vài con đường mới, những lớp đất vàng tươi vừa được ủi lên phơi mình dưới nắng trưa. Nhà thờ nằm trong một khuôn viên rộng rãi cạnh một cây đa cao lớn đúc bằng bê tông, bên dưới là tượng Đức Mẹ. Trước pho tượng, khoảng gần một trăm giáo dân đang quỳ cầu nguyện rì rầm. Tôi nhìn kỹ bức tượng. Đức Mẹ mặc áo dài Việt Nam, chít khăn vành vàng có đính những hình ngôi sao trắng, tay bồng chúa hài đồng. Đặc biệt là khuôn mặt Việt Nam dịu dàng với đôi mắt to, đẹp, và buồn, quá buồn. Đức Mẹ đã hiện lên trên cây đa (nay được đúc lại bằng bê tông như đã nói) năm 1798 sau những trận tàn sát giáo dân một cách kinh khủng vào thời những vua chúa phong kiến. Thế thì Đức Mẹ hiện lên ở La Vang trước Fatima, Bồ Đào Nha, khá lâu (Đức Mẹ hiện lên ở Fatima nhiều lần vào năm 1917 khi Cách Mạng Vô Sản thành công ở Nga, khi Chiến Tranh Thế Giới thứ I đang ở hồi quyết liệt). Đến cạnh Nhà Thờ, thấy vắng người, thấy có những hàng bàn ghế dài đặt bên hông, tôi ngả lưng nằm xuống định nghỉ một chốc. Ngồi lâu trên yên sau xe hai bánh ê cả lưng. Và ngủ thiếp đi lúc nào không biết. Bỗng như nghe vang vang đâu đây tiếng hát dìu dặt, tôi choàng tỉnh. Nhìn đồng hồ, đã hơn 12 giờ trưa, nhìn về phía tượng Đức Mẹ, giáo dân đang đứng đồng ca. Còn T. thì đi đi, lại lại quan sát những bức tường dài, thấp, chạy ngang, chạy dọc, trên đó có gắn những tấm đá, tấm sứ mỏng ghi tên họ những người đến viếng thăm, người nước mình và người nước ngoài. Có tên một số vị lãnh đạo quốc gia trước kia, cùng những lời xưng tụng.

Quanh quẩn nơi đấy gần một tiếng, chúng tôi lại lên đường. Ra tới cổng lấy xe mới biết được giữ xe miễn phí, lại biết thêm người hành hương nào muốn ở lại tại La Vang một thời gian, cũng có chỗ trọ tươm tất tại mấy tòa nhà gần cổng ra vào, khỏi trả tiền. Tôi quên hỏi ăn uống thì sao, được miễn phí hay không.

Xin giã từ, xin giã từ Đức Mẹ, xin giã từ La Vang. Xin giã từ những tiếng cầu kinh, những bài thánh ca ngân lên trong không gian trưa tĩnh lặng. Trên đường ra Quảng Trị và cho đến khi trở về, tuy là người ngoại đạo, tôi vẫn thường nghĩ đến Đức Mẹ Sầu Bi.

Đến Cổ Thành Quảng Trị, chúng tôi đi bao quanh giáp một vòng rồi mới vào bên trong. Không còn doanh trại như xưa, chỉ là một đám đất bỏ hoang, cỏ dại, lau sậy mọc cao dưới những hàng dừa song song. Những dãy thành ngang dọc nay chỉ còn sót lại vài ba bức tường thấp lè tè đổ nát trên đó rêu xanh, cỏ may loang lổ từng đám. Hào khô nước, bờ hào đang được xây lại. Hình như Cổ Thành đang được tu sửa lại để làm khu lưu niệm.

Không có thì giờ đi các nơi khác của thành phố Quảng Trị, trước kia bị san bằng trong chiến tranh nay đang gượng dậy, chúng tôi chạy đến bến đò Ngô Xá thuộc thôn La Duy, tìm dấu vết của người thân ngày xưa từng qua đây và không bao giờ trở lại. Cách đây hơn nửa thế kỷ, nền văn hóa làng mạc còn bao trùm hầu hết mọi sinh hoạt, đường sá giao thông khó khăn, cầu cống ít, thuỷ lộ được sử dụng nhiều. Hành khách, hàng hóa từ Huế đi Quảng Trị, hay đi các nơi khác, hay từ các nơi khác về, như bánh trái, gạo lúa, cau chuối, heo ca, gà vịt v.v... đều được chuyên chở bằng ghe, đò, nốt. Hồi đó chưa có máy đuôi tôm, động cơ, thuyền bè di chuyển bằng mái chèo, họăc buồm theo các ngõ sông, ngòi, hói, phá, biển. Chủ đò không thể nào chèo suốt ngày đêm, ngày này qua ngày khác, cho nên nếu muốn đò đi không ngừng nghỉ, hành khách phải phụ chèo - bạc trốt xuống nốt cũng phải chèo. Qua khỏi, Thanh Hương, Vân Trình thuộc Huế, đi dọc theo kinh Vân Trình vô phá Tam Giang ra miền Trà Lộc chèo tiếp tới bến đò Ngô Xá. Đây là vùng khá tấp nập thuộc Quảng Trị, từ đó có thể đi tiếp hay dừng lại nghỉ, và nếu cần, đổi qua đường bộ đi những hướng khác, vận chuyển bằng xe bò, xe ngựa, gánh gánh.

Nay chúng tôi đi tìm bến đò Ngô Xá, không còn. Mọi dấu vết cũ đều bị xóa sạch. Bến đò Ngô Xá ngày xưa nay chỉ còn là một khúc sông bèo con trôi lềnh bềnh, tre pheo hai bên bờ uốn cong như vòng cung ngã xuống thật thấp, có đọt chấm xuống dòng nước đang trôi vẽ thành hình chữ V nhọn, dài, uốn éo. Tôi đứng nhìn khúc sông ấy nắng đã lên cao bóng cây che hơn một nửa dòng nước. Tôi đứng nhìn khá lâu. Tiếng chim bi thương vang lên từng chuỗi ngắn như từ một quá khứ xa xôi nào. Phải chi có nhang để cắm lên những mô đất có hình dáng những ngôi mộ. Tôi nhớ hồi sau tháng tư 1975, vợ một người bạn có chồng đi tù ở miền Bắc, chồng chết hơn một năm mới được tin, bán số tư trang ít ỏi còn lại để có tiền lặn lội trên nhiều chuyến xe hơi, xe lửa chật như nêm ra vùng Hoàng Liên Sơn tìm mộ chồng, được cán bộ đứng từ cổng trại giam đưa tay vẫy vẫy chỉ chỉ về phía chân đồi xa, không có ai dẫn đi, đành phải bước thấp bước cao một mình đi tới đó thắp thật nhiều nhang van vái trời đất đồi núi cỏ cây rồi cắm nhang lên trên đám đất cỏ gai mọc tràn lan không thấy đâu là mồ mả. T., có lẽ muốn cho tôi được yên, đi vào một ngôi nhà tranh bên sông hỏi han, uống nước trà với chủ nhà. Người dân quê ở đây rất hiếu khách, thấy người lạ vào là vui vẻ “mời bác ngồi chơi uống miếng nước cho vui”.

Lại tiếng chim bi thương ấy như kêu từ dĩ vãng, tiếng chim từ quy hay tử quy đâu đây rót vào không gian tịch mịch buổi xế trưa từng chuỗi ngắn rã rời, mệt mỏi, hụt hơi, buồn thảm. Tôi không hề nghe tiếng chim quy tại Mỹ đã đành, tại các vùng khác của Việt Nam cũng rất ít. Chỉ nghe nhiều ở các miền quê của Huế và Quảng Trị vào khoảng cuối xuân qua đến hết hè. Nghe như nghe một cái gì vừa đổ vỡ, tàn tạ, chia lìa. Đó có phải là tiếng kêu chim quốc như trong bài Qua Đèo Ngang của Thanh Quan,“Nhớ nước đau lòng con quốc quốc”? Hay trong bài Quốc Kêu Cảm Hứng của Nguyễn Khuyến:
Khắc khoải sầu đưa giọng lửng lơ
Đấy hồn Thục Đế thác bao giờ
Năm canh máu chảy đêm hè vắng
Sáu khắc hồn tan bóng nguyệt mờ
Có phải tiếc xuân mà đứng gọi
Hay là nhớ nước vẫn nằm mơ
Đêm ngày ròng rã kêu ai đó
Giục khách giang hồ dạ ngẩn ngơ


Có lẽ không phải. Trong thơ của Thanh Quan và Nguyễn Khuyến nói trên đều dùng điển tích vua Đỗ Vũ mất nước, sau chết hóa thành chim đỗ quyên, tức là chim quốc, theo hai nhà thơ ấy. Nhiều từ điển Việt Nam cũng cho rằng chim quyên là chim quốc (Từ điển từ và ngữ Việt Nam - Nguyễn Lân, 1998; Từ Điển Tiếng Việt - Viện Ngôn Ngữ Học, 1988). Tôi không nghĩ như thế.

Chim tử quy, tiếng dân dã miền quê thuộc vùng Bình Trị Thiên gọi là chim quy, khác hẳn chim ò ho, tu hú, hoặc chim quốc. Chim quốc lông đen, thuộc loài gà, thường ở trong bụi rậm, kêu quốc quốc, và hay lủi - lủi như quốc. Chim quy lông nâu vàng nhạt, lớn bằng chim sẻ, thân thon hơn, đầu nhỏ hơn, đuôi và chân dài hơn, thường đậu trên các cành cây nhãn, bưởi, khế, thầu đâu (sầu đông?) kêu liên miên từng chuỗi ngắn quy... quy...quy...quy...quỳ-quỳ-quỳ, mà có người sính tiếng Pháp nhại père... mère... frère.. .tout perrrdu (cha mẹ anh em đều mất hết). Hay đó là chim quyên trong Chinh Phụ Ngâm,“Ca quyên gọi làm rơi nước mắt” của người chinh phụ, hoặc “Đầu cành quyên nhặt, cuối trời nhạn thưa” trong Kiều mô tả mùa hè đang kề cận ở ngay cành cây ấy mà mùa thu đã lấp ló ở chân trời?

Cửa Việt! Từ Ngô Xá đến Cửa Việt trời đã xế chiều. Cửa Việt, nơi ngày xưa chúa Nguyễn Hoàng đến đóng trại lần đầu tiên sau khi mang theo quân lính Thanh Nghệ, cả vợ con của họ và dân chúng vào lánh nạn vùng Thuận Quảng theo lời chỉ bảo của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm: “Hoành sơn nhất đái, vạn đại dung thân.” Đất Thuận Quảng hồi đó nay là Bình Trị Thiên. Sau một thời gian ngắn, vào năm 1600, chúa Nguyễn Hoàng dời doanh trại về Ái Tử thuộc huyện Triệu Phong, Quảng Trị bây giờ, được bô lão và dân sở tại đem dâng bảy chum nước. Ngài phán đây đúng là điềm tốt. Theo Trần Trọng Kim, Việt Nam Sử Lược, khi sắp mất, Nguyễn Hoàng dặn người con thứ sáu Nguyễn Phúc Nguyên rằng: “Đất Thuận Quảng này bên bắc thì có núi Hoành Sơn, sông Linh Giang, bên nam thì có núi Hải Vân và núi Bí Sơn thật là một nơi trời để cho người anh hùng dụng võ. Vậy ta phải thương yêu nhân dân, luyện tập quân sĩ để mà gây dựng cơ nghiệp về muôn đời.” Theo Nguyễn Phúc Tộc Thế Phả in tại Sài Gòn 1995, “Nguyễn Phúc Nguyên giao toàn quyền quyết đoán việc nước cho Nguyễn Phúc Khê, con thứ 10 của chúa Nguyễn Hoàng. Chỉ có án tử hình và trọng án thì phải tâu lên mà thôi.” Nguyễn Phúc Khê, thuỵ phong Nghĩa Hưng Quận Vương, được thờ ở Thái Miếu, là người tài trí, cơ mưu. Lúc Nguyễn Phúc Nguyên đã yếu cho vời Nguyễn Phúc Khê vào chịu cố mệnh, căn dặn:“Ta kế nghiệp tổ tiên, trên giúp vua, dưới cứu dân. Nay Thế tử lịch duyệt chưa đủ, mọi việc quốc, quân đều uỷ thác cho hiền đệ.”


Năm 1626, chúa Sãi (Nguyễn Phúc Nguyên) dời dinh về làng Phúc Yên, huyện Quảng Điền, Thừa Thiên; năm 1636 chúa Thượng (Nguyễn Phúc Lan) dời về làng Kim Long, huyện Hương Trà, Thừa Thiên; năm 1687 chúa Ngãi (Nguyễn Phúc Trăn) dời về làng Phú Xuân, huyện Hương Trà, Thừa Thiên; năm 1712 chúa Nguyễn Phúc Chu dời ra làng Bác Vọng, huyện Quảng Điền, Thừa Thiên; năm 1738 chúa Nguyễn Phúc Khoát lại dời về Phú Xuân; năm 1774 chúa Trịnh Sâm cử tướng Hoàng Ngũ Phúc vào đánh chiếm Phú Xuân, tiếp theo sau đó Tây Sơn chiếm giữ Phú Xuân gần 30 năm (theo Thái Văn Kiểm, Cố Đô Huế, 1994).

Năm 1801 chúa Nguyễn Ánh lấy lại được thủ phủ cũ của tổ tiên, cho xây lại thành trì làm kinh đô, nay là Huế, và lên ngôi Hoàng Đế năm 1802, xưng đế hiệu là Gia Long.

Sông Thạch Hãn và sông Hiếu đổ ra cửa Việt mênh mông ngoài kia. Không xa cửa biển bao nhiêu, bờ Nam sông Thạch Hãn thuộc huyện Triệu Phong, được nối liền với bờ Bắc thuộc huyện Gio Linh, bằng một cây cầu khá dài đang xây dở dang, xây xong sẽ dài hơn cầu Trường Tiền bắc ngang qua sông Hương nhiều. Trước 1975, Cửa Việt là một căn cứ hải quân khá quan trọng của Việt Nam Cộng Hòa nên sinh hoạt nơi ấy khá nhộn nhịp. Nay bờ Nam không được phát triển mấy, bờ Bắc thì khá tấp nập với quán xá, dinh cơ, mái ngói đỏ, đường sá, chúng tôi từ bờ Nam nhìn qua thấy. Chúng tôi đến cửa Việt, bờ Nam, thì mặt trời đã xế. Khát nước và đói nhưng không tìm ra được quán ăn nào. Cũng không có khách sạn. Nói chung, hoang vắng. Trên những mảnh sân hẹp tráng xi măng mỏng, người ta cho phơi con khuyết, một loại tép biển để làm ruốc chứa trong lu, vại lớn, rồi chiết vào thau nhôm mang ra chợ bán, tiếng miền Bắc gọi đó là mắm tôm. Nơi đầu cầu, trẻ con rách rưới chơi đùa, dưới chân cầu dăm ba chiếc thuyền buôn chở những bao khuyết, cá khô, gần cửa biển mấy chiếc đò nhỏ gắn máy đuôi tôm trôi chầm chậm ven bờ. Đặc biệt có một chiếc thuyền thon và dài trên đó khoảng trên mười người ra sức chèo, thuyền lao vun vút, xuôi dòng rồi quay ngoắt đầu ngược dòng một cách lẹ làng. Hỏi ra mới biết mấy thôn ven Cửa Việt sắp mở hội đua trải. Ở Huế vùng ngả ba Sình, ngả ba Tiên Nộn trước kia cũng có tục lệ đua trải đầu xuân, nay không biết còn hay hết. Làng mạc gần cửa Việt cũng hoang vắng với những túp tranh nghèo, vườn tược tiêu điều, cây cối thưa thớt.

Không kiếm ra quán trọ ngủ qua đêm, tôi hơi lo. T. nói:
“Không sao anh. Về làng An Cư cũng gần em có bà con mình ngủ lại.”

Trời đã chạng vạng tối. Trên đường chạy về An Cư tôi nhìn phong cảnh không được rõ nhưng cũng biết đã qua nhiều khu mồ mả. Dừng xe trước một ngôi mộ khang trang có hàng rào sắt bao quanh, T. cho biết đó là lăng ông Nguyễn Văn Tường, một nhân vật lịch sử quan trọng cuối đời vua Tự Đức, trước kia bị cộng sản lên án “Việt gian bán nước cho Tây”, nay đã được phục hồi danh dự. Một vị nữa hình như cũng đã được phục hồi danh dự, đó là Khâm Sai Đại Thần Phan Thanh Giản. Có câu nói dân gian chỉ bốn chữ thôi, thay đổi thứ tự của bốn chữ ấy sẽ tạo nên ba vế, ý nghĩa mỗi vế mỗi khác, thật hóm hỉnh: “Sai đâu sửa đấy, sửa đâu sai đấy, sai đấy sửa đâu.” Vế thứ ba muốn nói “hết thuốc chữa”. Nhưng trong trường hợp hai nhà yêu nước vừa nêu, nhà nước đã sửa đúng.

Đến một khúc sông, T. dừng xe lại bên bờ gọi một con đò được chèo bằng mái chèo chứ không dùng máy đuôi tôm đang trôi chầm chậm giữa dòng. Đò ghé vào ngay, và chúng tôi được chở qua bên kia sông chơi. Tiếc quá, trời đã tối, không ra cửa biển được, quanh quẩn một chốc đành phải quay lại bờ cũ. Nước trong xanh, sóng ít, gây gây lạnh. Buổi chiều tối trên sông tĩnh lặng lạ lùng, chỉ có tiếng sóng nhỏ đập vào mạn thuyền nghe róc rách như tiếng suối xa, và tiếng mái chèo đều đều khua nước. Không đừng được, tôi thò hai tay xuống rờ dòng sông rồi bụm lên một ít nước phả vào mặt, vào tóc, ướt mèm. Uống thử một ngụm, lợ lợ. T. cũng làm như tôi. Trên đường đò trở về bờ cũ, T. hỏi anh chèo đò:
“Sáng mai mấy giờ đi đánh cá, cho tụi tui đi theo với.”

“Dạ bốn giờ sáng, hai anh đi theo chơi cho vui.”

“Đậu mô?”

“Đậu ở Bến Đá gần đây.”

Dân quê ở đây hiền hòa, chơn chất. Tôi bảo T. biếu một ít tiền, chủ đò nhất định không nhận, tôi năn nỉ, cuối cùng anh ấy lấy một nửa. Tôi hỏi nhỏ T. có quen anh chèo đò không. T. bảo em thường ra ngoài này nên nếu không quen thì cũng có thể biết nhau. Rứa là đủ.

Tối hôm đó chúng tôi mặc nguyên áo quần đi đường ngủ tại nhà từ đường của họ Phan trên một chiếc giường tre đặt ở chái phải, có chiếc mùng ngăn muỗi, bốn góc cắm trên đầu bốn cây hóp, chiếc chiếu lành lặn để đắp, nhưng cái gối thì đen bóng vì mồ hôi và cáu bẩn, may kiếm được tờ báo lót lên trên, cũng còn ngại, đội luôn nón vải mà ngủ. Cửa lá sách, cửa sổ đều mở toang, ánh trăng, ánh sao rọi vào. Quanh mùng, mấy con bướm đêm và vài loại côn trùng khác bay chờn vờn, kêu vù vù. Nhiều con đậu lên mùng, nhổm người dậy mấy lần xua đuổi, chúng bay đi rồi lì lợm quay lại đậu. Xin chào thua. Gió thổi suốt đêm và sóng biển xa dội lại. Tôi không yên tâm, nằm trằn trọc mãi. Việt kiều, trong túi có tiền đô la, nhiều tiền Việt Nam, tờ hộ chiếu, vé máy bay, thẻ tín dụng, và cả bằng lái xe do California cấp. Lỡ chuyện bất trắc xẩy ra, biết đâu. Nhưng tôi đã quá lo xa. Gần sáng mới ngủ thiếp làm trễ chuyến đi theo ghe đánh cá lúc 4 giờ như đã định. Một dịp may hiếm có đối với tôi thế là vuột khỏi tầm tay, biết bao giờ có được một dịp khác như thế.

Chúng tôi sửa soạn rời An Cư thì trời đã sáng “tửng bừng bưng” rồi. Người giữ nhà từ đường đã dọn sẵn một bữa ăn sáng thôn quê: khoai sắn luộc cháy sít đáy nồi thơm thơm chấm muối mè đậu phụng. Và một bình trà đậm. Chiều hôm qua ngoài Cửa Việt tìm đến một ngôi nhà tranh nhỏ, cạnh sân phơi khuyết, này mua bất cứ cái gì có thể cho vô bụng, được o con gái trả lời chỉ còn mấy khúc cá thu tươi kho nước xắp xắp với mía lau, nhưng không có bánh mì, cũng chẳng có cơm kiếc, bún biếc chi cả, ăn nể (tiếng vùng khác gọi là ăn vã) rứa thôi, có được không hai chú, còn muốn cơm thì phải chờ nấu. Được lắm chứ o, nhưng bây giờ đói quá, có chi ăn nấy khỏi cần cơm, ngon chưa từng thấy. Sáng hôm sau dậy đói meo, khỏi đánh răng, muốn đánh cũng không có, quên mang theo kem và bàn chải, ở dơ sống lâu, bốc ngay củ khoai, củ sắn, nóng hổi hổi vừa thổi vừa ăn, cũng ngon không kém bữa ăn cá nể tối hôm qua.

Trước khi khởi sự “bắc hành”, dù có ít thì giờ, chúng tôi đã định trong chuyến đi hoặc chuyến về sẽ đến thăm mấy ngôi làng trên rẻo đất nằm tiếp giáp với biển Đông bên ngoài phá Tam Giang, và vài làng lân cận, đặc biệt là làng quê của danh tướng Nguyễn Tri Phương.

Những người có công lớn cho tổ quốc như Nguyễn Hoàng, Nguyễn Tri Phương không được nhà nước bây giờ quan tâm mấy. Những vị ấy chỉ được đề cập sơ sài trong mấy cuốn Sử, hoặc được đặt tên cho vài con đường nhỏ, vài ngôi trường bé, trong khi những kẻ khác được thổi phồng một cách quá đáng. Lấy trường hợp ông Hồ Chí Minh chẳng hạn. Dù ông là một nhà yêu nước hay chỉ là một người tranh đấu cho Cộng Sản Đệ Tam Quốc Tế, tuỳ theo góc độ nhìn của mỗi người, ông cũng đã phạm nhiều lỗi lầm khiến cho tổ quốc điêu linh từ khi ông cướp chánh quyền cho đến bây giờ. Chỉ xin nêu ra đây hai điều sai lầm nặng nề nhất. Trước hết ông đã du nhập một chủ thuyết ngoại lai càng ngày càng phô bày những khuyết điểm trầm trọng mà ngay cả nước chủ xướng và đem áp dụng chủ thuyết ấy trong 70 năm là nước Nga, nay cũng đã dẹp bỏ, đó là Chủ Nghĩa Cộng Sản. Đồng thời ông đã quên bài học lịch sử trong quan hệ giữa ta và kẻ thù truyền kiếp phương bắc, cho nên đã quá trông cậy và lệ thuộc Trung Quốc. Ai cũng biết trong suốt mấy ngàn năm lịch sử bang giao giữa hai nước, hễ Trung Quốc yếu, hoặc bị xâm lăng, hoặc có xáo trộn nội bộ, ta được yên thân; hễ ta có biến loạn trong khi Trung Quốc ổn định, hùng cường, ta bị “chiếu cố” ngay. Thế mà tên của ông, kể cả tên tục, tên húy, tên hiệu, bút hiệu v.v... được đặt cho các đường phố, trường học, học viện, tràn ngập từ bắc chí nam. Chưa hết, địa danh Sài Gòn đã nằm sâu trong lòng người, trong lịch sử, được cả thế giới biết đến, là tên của thủ đô miền Nam bại trận, lại bị phe chiến thắng xóa bỏ để đổi lấy tên lãnh tụ của phe họ!

Còn một điều lạ lùng khác là chế độ hiện tại ở Việt Nam đã bảo hoàng hơn vua, vẫn khăng khăng tôn thờ chủ nghĩa lỗi thời ấy. Nhưng có thật vậy không, hay đúng ra đó chỉ là chiêu bài dùng để che giấu ý đồ giành giật hết tất cả quyền lực vào trong tay của phe nhóm. Với xu thế dân chủ, tự do, nhân quyền đang bừng bừng nở rộ trên khắp thế giới, liệu một chế độ toàn trị xây dựng bằng bạo lực có thể tồn tại được lâu dài? Một câu nói chí lý của ông Ronald Reagan, vị tổng thống Hoa Kỳ mà dân chúng rất quý mến: Những chế độ xây dựng bằng lưỡi lê không bắt rễ được (Regimes planted by bayonets do not take root).

T. lái xe chậm lại, quay người nói, cho gió đỡ tạt:
“Mình vừa qua khỏi các làng Bồ Bản, Chợ Cạn. Sắp tới Phương Lang, Cổ Lũy, tức là chạy theo đường ven biển để về Huế. Để anh được ghé những nơi anh muốn. Hồi còn nhỏ theo mẹ từ Quảng Trị vô Huế, em có đi đò dọc. Lúc ấy em nhỏ quá, bây giờ không còn nhớ gì. Chỉ nhớ mỗi khi chọc tay xuống nước vọc chơi, bị mẹ la, ‘Đừng, ma rà nó kéo xuống sông chừ’.”

Tôi thì nhớ đò dọc lắm, và nhớ luôn câu ca dao Huế mà lúc còn nhỏ tôi chẳng hiểu gì:
Mẹ già cuốc đất trồng tiêu
Con đi đò dọc mẹ liều con hư


Tại sao mẹ trồng tiêu lại sợ con hư trên những chuyến đò dọc? Ý nghĩa trong hai câu hình như không ăn nhập đâu vào đâu, chỉ thấy nó mênh mang một thứ tình cảm mông lung, lai láng. Sau này câu ca dao ấy gợi lên trong tôi nhiều liên tưởng. Mẹ nghèo không có đất làm trưa làm ruộng như người khác, đành phải cuốc đất trồng tiêu trong mảnh vườn nhỏ làm kế sinh nhai qua ngày. Việc cuốc đất trồng trọt lẽ ra là việc của đàn ông, còn mẹ già chỉ có việc giúp đứa con dâu lo nấu ăn, giặt giũ, giữ cháu. Có lẽ mẹ không có con trai, lại sinh muộn một đứa con gái, còn bố phải đi làm thuê làm mướn, hay đi làm ăn xa, hay đã qua đời. Mẹ mới vừa cuốc lật đất lên mà đã lo lắng trăm bề, lo chăm bón, săn sóc từng chút một vì tiêu không dễ trồng, vừa cần nước cần phân lại vừa sợi úng nước. Đến khi cây tiêu đơm bông kết trái, hái vô sàn sẩy, phơi phóng cho khô, cho giòn, lúc ấy mới bắt đầu có mối lo khác lớn lao hơn nhiều. Thế là phải sai đứa con gái còn ngây thơ mang tiêu đi bán ở những làng xa. Con đâu có thể đi bộ được, phải đi đò dọc, một mình trên sông nước lạ lùng, xôn xao, rối rắm, khó mà tránh được những lời ong bướm của bọn trai lơ sàm sỡ. Lỡ con mình cầm lòng không đậu. Lòng người như cánh chim, không chịu đậu thì sẽ bay đi không biết tới nơi đâu. Nhưng mẹ già đành phải cắn răng mà chịu, phó mặc may rủi.

Tôi thì khác, chú bé khỏi sợ ai lo lắng cho mình cả, như con ngỗng chưa lớn ngu ngơ, tha hồ đi trên những chuyến đò dọc. Tiếc thay mới đi được vài chuyến thôi. Mà cứ nhớ hoài.

(Còn tiếp)

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét