Thứ Năm, 1 tháng 7, 2010

Ý NGHĨA NGÀY GIÁNG SINH

Nguyễn Hoài Vân

CÂU CHUYỆN “BA VUA” :

Trong các “hang đá” được con trẻ chiêm ngưỡng suốt mùa Giáng Sinh thường có hình tượng “ba vua”, một ông da đen, một ông da trắng, và một ông da vàng. Câu chuyện này bị các Sử Gia phủ nhận. Nếu nó có thật, thì cũng đặt ra lắm vấn đề : thí dụ như lúc “ba vua” đến lạy chào Đức Ky Tô tại Bethléem, thi Ngài đã lớn, chứ không phải là trẻ sơ sinh nữa, nguyên tác chữ Hy Lạp của Phúc Âm đoạn này cho biết như vậy. Nếu thế, phải tự hỏi tại sao Đức Mẹ và Thánh Giu-Se lại lưu lại Bethléem đến cả năm trời, hay hơn nữa, mà không chịu quay về nơi sinh sống của mình ở Nazareth (nếu tin theo Phúc Âm Lu-Ca) ? Cũng cần nói “ba vua” thật ra là những chiêm tinh gia, loại người vốn bị Thánh Kinh lên án rất nặng nề (Isaie:47,13, và Lévitique:19,31).


Câu chuyện Vua Hérode, được “ba vua” ghé thăm cho biết có Vua của dân Do Thái hạ sanh trong vùng Bethléem, đã lo sợ cho ngôi vị của mình và ra lệnh tàn sát tất cả trẻ nhỏ dưới hai tuổi, cũng bị coi là không có tính cách lịch sử. Sự kiện tày trời này không hề được ghi trong các tài liệu khá chi tiết của thời đó, đặc biệt là sử liệu đến từ những người thù ghét Hérode thậm tệ (như Flavius Joseph), không thể bỏ lỡ cơ hội nào để kể lại những tội ác của ông vua này.


TƯƠNG ĐỒNG VỚI HUYỀN THOẠI GIÁNG SINH CỦA THẦN KRISHNA

Krishna là hóa thân của Vishnu, ngôi hai trong ba ngôi Thiên Chúa của huyền thoại Ấn Giáo, cùng với Brahma và Shiva. Vishnu có trách nhiệm nhập thế cứu giúp nhân sinh (và cả chư thần) mỗi khi có một hiểm họa đe dọa sự sống còn của vũ trụ, hay một nhân vật tai ác làm tổn hại đời sống của mọi sinh linh. Trong truyền thống Ấn Giáo, đức Phật và (theo một số học giả) cả Đức Ky Tô, cũng đều là những hóa thân của Vishnu !

Krishna mang một đặc điểm là có một người cha không phải là cha thật của ngài. Ngài được Vishnu trực tiếp « nhập » vào tử cung của mẹ ngài trước khi được chuyển sang một tử cung khác (một vấn đề thời sự !), hay được tráo với một hài nhi khác, để khỏi bị giết bởi một ông vua hung dữ. Số là vị vua này cũng là một ác quỷ ăn thịt người, có tên là Kamsa. Ông ta được một tiên tri cho biết con của em gái ông, là Devaki, một ngày kia sẽ hạ sát ông. Vì thế, ông quyết định giết các con của nàng này khi chúng vừa chào đời. Một thuyết cho là các hài nhi ấy cũng là con của chính Kamsa, vì ông yêu em gái mình một cách say đắm. Thuyết này giải thích việc tại sao Kamsa không giết em gái mình ngay lập tức cho tiện đường dư luận mà lại cù cưa đợi thủ tiêu mỗi đứa bé sơ sinh ? Dù sao, có 6 em bé bị quỷ vương mần thịt, trước khi hài nhi thứ 7 được cứu sống nhờ hoán chuyển bào thai sang một tử cung khác. Phải coi đây là một hình thức « tập sự », một « thử nghiệm » để sửa soạn cho việc chính Vishnu nhập vào bụng nàng Devaki, cho ra đứa con thứ 8, được tráo với một hài nhi khác (hóa thân của « thần ngủ » tức nữ thần Nidra, vị chủ trì pháp môn... « thiền ngủ » : Nidra Yoga !). Hài nhi hóa thân của Nidra bị mần thịt. Nidra thoát khỏi nhục thân của đứa bé, và vừa bay lên thượng giới, vừa cho quỷ vương Kamsa biết đứa bé sẽ hạ sát ông đã chào đời bình yên. Kamsa hốt hoảng, liền ra lệnh tìm giết tất cả các hài nhi trong vương quốc... Y hệt như Herode trong truyện giáng sinh của đức Ky Tô. Nhân vật được trao phó trách nhiệm giết các em bé sơ sinh là một nữ quỷ tên là Putana, nguồn gốc của chữ « putain » (đĩ điếm) trong tiếng Pháp.

Một tương đồng khác với truyện đức Ky Tô là khi vừa sinh ra, người cha hờ của Krishna (tương ứng với thánh Joseph), chồng của Devaki, đã phải đang đêm mang ngài đi trốn ở một nơi xa. Ở đây ngài được giao cho người mẹ nuôi tên là Yasoda chăm sóc đến lúc lớn khôn. Yasoda là một người chăn bò, và cũng là người đã tráo hài nhi, hóa thân của nữ thần Nidra, với Devaki.

Sự kiện Krishna sinh ra trong ngục tù tối lạnh cũng không xa lạ với việc Đức Ky Tô sanh trong hang đá giữa đêm đông... Ngoài ra, truyện Kamsa cũng rất giống với truyện thần Cronos trong huyền thoại Hy Lạp.


MẦU NHIỆM NHẬP THỂ :

Thật ra, điều quan trọng không phải là những sự kiện lịch sử, mà là những ý nghĩa được truyền lại qua câu chuyện cuộc đời Đức Ky Tô. Trong câu chuyện ấy, Ngài ra đời trong “Nhà Bánh” (Bethléem), được đặt nằm trong cái máng ăn uống của súc vật, để sau này tự hiến thân mình làm thức ăn cho nhân loại. Ngài sanh ra trong lúc tối tăm, để mở đầu một kỷ nguyên ánh sáng, lúc ban ngày bắt đầu dài ra, đẩy lùi đêm tối. Khi sanh ra, Ngài được đón mừng bởi những kẻ nghèo khó, sống màn trời chiếu đất như các người chăn cừu. Người chăn cừu theo tâm lý thời ấy, thường bị rẻ khinh, bị coi như bất lương, có thói quen trộm cắp. Sau các mục đồng, là những nhà chiêm tinh, cũng bị coi là tội lỗi đối với Thánh Kinh Cựu Ước. Họ đem đến biếu Ngài ba bảo vật : vàng, biểu tượng cho nhà Vua, cho uy quyền thế gian, trầm hương, biểu tượng cho sự thờ kính Thần Linh, và mộc dược, dùng để ướp xác chết cho khỏi hư thối, biểu tượng cho sự sống vĩnh cửu. Cần ghi nhận là các nhà bác học chiêm tinh này, đã đến với Đức Ky Tô nhờ sự tự lực tìm tòi học hỏi của họ, trong khi những kẻ mục đồng dốt nát lại dược Thiên Thần trực tiếp hiện ra mời đến thờ phụng Ngài, tức đã được hưởng nhờ “tha lực”. Mặt khác, các nhà chiêm tinh bác học thuộc về những sắc dân khác nhau, cho thấy Đức Ky Tô đến với toàn thể loài người chứ không riêng gì với dân tộc nào. Các vị ấy cũng biểu tượng cho những người ở trong những nền văn hóa khác với truyền thống Do Thái, thường bị người Do Thái lúc ấy coi là “ngoại Đạo ô uế”. Họ đã không được hưởng nhờ sự mặc khải trực tiếp của Thiên Chúa như dân Do Thái, nhưng do công sức tự lực học hỏi tu luyện, họ cũng đã tìm được đến Chúa. Còn câu chuyện Hérode giết các trẻ em dưới hai tuổi cho thấy khi vừa mới sanh ra tính mạng Đức Ky Tô đã bị đe dọa, và hé lộ cho biết những hiểm nguy của cuộc đời Ngài sau đó.

Cần dặc biệt chú ý đến sự kiện Thánh Thần Thiên Chúa nhập vào lòng Mẹ Ngài, để bà thụ thai và sinh ra Ngài mà vẫn giữ đồng trinh. Đó là một tín điều quan trọng của Ky Tô Giáo. Ý nghĩa của mầu nhiệm ấy là Thiên Chúa hoàn toàn có khả năng can thiệp một cách trực tiếp vào đời sống con người, không cần phải tuân theo những quy luật tự nhiên, như lời Thiên Thần nói với Đức Mẹ: “đối với Thiên Chúa, không có gì là không thể”. Như thế, với câu chuyện này, con người có thể tin tưởng được rằng : trong đời sống của mình, luôn luôn có sự che chở can thiệp của “Cha Trên Trời”, vượt trên những gì thường được gọi là “tự nhiên”, “khoa học”.

Trong toàn bộ Thánh Kinh Tân và Cựu Ước, chỉ có hai con người đã được tạo dựng ra do sự can thiệp trực tiếp của Thiên Chúa, là con người Adam và Con Người Ky Tô. Adam tiếng Do Thái nghĩa là “người”, có thể được coi như biểu tượng của mọi con người, cũng được tạo nên, trong huyền thoại, do sự can thiệp trực tiếp của Thiên Chúa, bằng nắm đất và hơi thở của Ngài. Sự can thiệp trực tiếp của Thiên Chúa vào sự “tạo thành” con người Giê Su cũng là chỉ dấu cho thấy Đức Giê Su cũng là một Con Người đại diện cho mọi con người, đến để thay thế cho một đại diện khác, là Adam. Con người Adam vì “chấp ngã”, chấp “nhị nguyên” (cãi lời Chúa lén ăn trái cây “phân biệt thiện ác"), nên đã rời xa Thiên Chúa, bản thể của mình. Con người Ky Tô, ngược lại, đem nhân loại, hậu duệ của Adam, trở về với bản thể Thiên Chúa.


VỪA LÀ CON NGƯỜI, VỪA LÀ THIÊN CHÚA

Câu chuyện Đức Ky Tô vẫn chưa rõ nghĩa nếu bỏ quên một yếu tố quan trọng khác. Đó là sở dĩ Đức Ky Tô đem được con người nói chung về với bản thể Thiên Chúa nơi mỗi người là vì Con Người Ky Tô cũng chính là Thiên Chúa. Con người Ky Tô lại không sanh ra trong lớp vỏ vua chúa, quyền uy, mà chỉ là con anh thợ mộc, lang thang ăn xin nơi này qua nơi khác, từng bị coi là là điên (bởi chính gia đình Ngài), là tội lỗi, là vi phạm “Luật Chúa”, là ô uế, phải bị trừng trị, và rốt cuộc bị treo thây trần truồng trên thập giá. Nếu Con Người như thế, với cuộc sống bi đát như thế, nghèo hèn như thế và với những thất bại thảm thê như thế, mà lại chính là Thiên Chúa, thì mọi con người, dù tội lỗi bao nhiêu, dù dốt nát đến đâu, dù thấp kém thế nào, cũng có thể kỳ vọng được rằng : qua Ngài, họ sẽ làm một với Thiên Chúa. Đó là điều mà sau này, các môn đệ của Ngài gọi là Tin Mừng, đem đi khắp muôn phương truyền rao cho thiên hạ. Tất cả đều đã phải chết trong cực hình để làm chứng cho Tin Mừng ấy...


PHẬT LÀ CHÚNG SANH, CHÚNG SANH LÀ PHẬT

Phải chăng con người Giê-Su đã giác ngộ chính mình, cũng như toàn thể mọi con người, đều mang bản tính Thiên Chúa, như Đức Phật Thích Ca đã giác ngộ “Phật là chúng sanh, chúng sanh là Phật” ? Thật ra, tư tưởng này rất khó chấp nhận, kể cả bởi những người Ky Tô Hữu (và cả Phật Tử ?). Hố sâu chia cách “thần linh”, hay “thánh nhân”, với con người bình thường rất khó mà lấp đầy được trong đầu óc của mỗi người chúng ta, nhất là khi đã được nhào nặn bởi truyền thống.

Một mặt, khó mà tưởng tượng được bản tính Thiên Chúa, hay Phật Tính ở trong tôi, “là” tôi (đây là một biện minh cho sự diệt ngã), khi biết những kém cỏi xấu xa của con người tôi. Càng khó mà tưởng tượng nổi Hitler hay Staline hay tên bạo dâm hãm hiếp sát hại trẻ con trong bản chất chính “là” Phật, mang bản thể Thiên Chúa (ở đây ta tìm thấy một biện minh cho thuyết “không thiện không ác”, “vô phân biệt trí”, và nhớ lại rằng mọi “vấn đề” của Adam, con người, đều đến từ việc ăn trái cây “phân biệt Thiện Ác").

Mặt khác, con người đã tạo ra thần linh để thần linh không thể là con người, không phải chịu những khổ đau, kém cỏi của con người. Thần linh có thế giới của thần linh, một thế giới nhiệm mầu mà hàng thế hệ con người truyền lại cho nhau những mô tả vô cùng chính xác, kể cả hình ảnh ! Con người, trong thế giới khốn nạn của mình, không thể nào “đồng hóa” với thần linh được. Nếu không, thì tất cả tín ngưỡng của cha ông chúng ta về thần linh coi như sụp đổ ! Nếu chúng ta cũng là thần linh, thì ai sẽ cứu chúng ta khỏi cuộc sống khổ đau này ? Ai sẽ cho chúng ta niềm hy vọng, cảm giác lâng lâng như được bay trên tấm thảm thần mầu nhiệm ? Anh nghiện sẽ không còn thuốc phiện...

Phải chăng người ta đã giết Đức Giê-Su vì lý do ấy ? Và phải chăng nếu Đức Phật mà sanh vào cái xã hội của Đức Giê-Su thì chắc Ngài cũng đã phải cùng chịu chung một số phận ? Cả hai đều đã vượt trên truyền thống, minh chứng sự nhỏ hẹp của truyền thống, để đạp lên truyền thống mà tiến bước. Cả hai đều là kiểu mẫu của CON NGƯỜI CÁCH MẠNG, của CON NGƯỜI TRONG TIẾN TRÌNH TRỞ THÀNH, của CON NGƯỜI ĐÚNG NGHĨA...

Ngày Giáng Sinh là ngày kỷ niệm sự sinh thành của CON NGƯỜI ĐÚNG NGHĨA, sanh ra trong tăm tối để đẩy lùi tăm tối.

Nguyễn Hoài Vân
cập nhật : 24 tháng 12 năm 2010


PHẦN  1  2

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét