Thứ Sáu, 23 tháng 7, 2010

Việt Nam - Từ Xuất Khẩu Lao động Đến Nạn Buôn Người

Song Chi phỏng vấn ông Vũ Quốc Dụng
(Tiếp theo)
Phần 2

+ Nhưng ở VN vấn đề xuất khẩu lao động lại đụng đến lợi nhuận hàng năm rất lớn của nhà nước thì anh có tin rằng VN sẽ thay đổi được không?

- Đứng về phương diện nhân quyền thì ở đâu mà chúng tôi thấy có sự vi phạm thì chúng tôi sẽ phải can thiệp và can thiệp cho đến khi nào có sự cải thiện hoặc tình trạng vi phạm nhân quyền đó không xảy ra nữa. Dĩ nhiên khi sự vi phạm phát xuất từ một chủ trương của nhà nước thì sẽ khó giải quyết hơn, thế nhưng chúng ta thấy khi hội nhập với thế giới, nhà nước cũng phải có bổn phận bảo vệ công dân của mình theo một số tiêu chuẩn quốc tế. Chúng tôi nhớ là vào tháng 5 năm ngoái khi chúng tôi sang tham dự phiên họp kiểm điểm về tình trạng nhân quyền của VN trước Hội đồng nhân quyền của Liên Hiệp Quốc tại Geneva (Thụy Sĩ) thì chúng tôi có nghe đại diện VN hứa là sẽ ký kết vào Hiệp định thư chống buôn người Palermo của Liên hiệp quốc. Chúng tôi nghĩ rằng nếu VN thực hiện được việc đó thì VN đã làm được bước đầu. Nhưng điều này mới cần mà không đủ. VN sẽ còn phải thay đổi cả khung luật hình sự nghĩa là phải nội luật hóa bộ luật quốc tế về chống buôn người. Sau đó VN lại còn phải theo dõi xem bộ luật đó có được áp dụng một cách nghiêm chỉnh hay không, trên thực tế các nạn nhân có được cứu giúp cũng như các thủ phạm có bị trừng trị hay không. Như thế VN mới thực sự chứng tỏ thiện chí tham gia vào vấn đề chống buôn người.

Công nhân Việt Nam bị bắt ở Mã Lai

+ Trong thực tế hiện nay VN chưa có bộ luật chống buôn người lao động thì các tổ chức như CAMSA ngoài việc hỗ trợ cho các nạn nhân, tạo sự chú ý của thế giới đến tình trạng buôn người ở VN thì các nạn nhân có thể khiếu kiện hay khiếu nại lên các tổ chức quốc tế như Liên hiệp quốc không?

- Thực tế chúng tôi đã thường xuyên làm việc này. Chúng tôi quan niệm trong những vụ buôn người để bóc lột sức lao động, thì công ty sử dụng lao động là mắt xích cuối cùng trong đường dây buôn người từ VN sang. Trong những vụ này thì thứ nhất là chúng tôi kiện về dân sự tức là đòi bồi thường vật chất cho nạn nhân và đồng thời chúng tôi truy tố những công ty đó về mặt hình sự, tức là nếu những người giám đốc của các công ty đó có dính dáng đến vấn đề buôn người thì tòa án có thể quyết định bắt họ để phạt tiền hoặc là phạt tù.

Ví dụ như hiện nay ở Malaysia chúng tôi đang truy tố công ty SPEKTRA ALUCAST chuyên sản xuất đồ nhôm về tội buôn người. Công ty này tuyển dụng công nhân sang làm việc cho họ từ năm 2007, có nghĩa là đến nay đã gần 3 năm trời, nhưng chỉ trả lương cho nhân viên có 6 tháng đầu sau đó quỵt luôn. Sự việc này nổ bùng vào đầu tháng 2 năm nay khi cảnh sát Malaysia bắt 8 người công nhân của công ty này vì tội cư trú bất hợp pháp tại Malaysia. Lý do họ không có giấy tờ tùy thân, không có hộ chiếu là bởi vì ngay khi họ vừa đặt chân đến Malaysia thì hộ chiếu của họ đã bị công ty SPEKTRA ALUCAST tịch thu. Cảnh sát bắt nhốt họ vào tù. Luật sư của chúng tôi biện hộ rằng những người này vô tội vì họ là nạn nhân của một vụ buôn người và thuyết phục tòa án bãi nại vụ này. Tại sao nói đây là buôn người? Vì những người này đã được tuyển mộ từ VN sang và bị công ty SPEKTRA ALUCAST thu giữ hộ chiếu khiến cho họ không thể đi tìm việc ở những hãng khác mà cũng không thể về VN được, từ đó họ hoàn toàn nằm trong tay của công ty SPEKTRA ALUCAST. Công ty này đã mặc tình bóc lột họ, muốn trả lương thì trả, không muốn trả lương thì thôi.

Trong vụ này chúng tôi muốn trình bày thêm về vai trò của chính quyền VN. Trong khi phía CAMSA chúng tôi muốn tranh đấu cho họ được bãi nại và giúp họ kiện công ty SPEKTRA ALUCAST để đòi được bồi thường về việc bị bóc lột cũng như muốn truy tố công ty này về tội buôn người, còn phía bên sứ quán VN thì lại cử người đến tìm cách thuyết phục họ nên nhận tội và nhận một số tiền bồi thường bằng hai tháng lương, nghĩa là rất nhỏ, để mà đi về nước. Luật sư của chúng tôi đã nói rõ cho nhân viên của sứ quán biết rằng làm như thế rất bất công, bởi vì 8 người công nhân này không có tội thì không thể bắt họ nhận tội được. Thứ hai là nếu họ nhận tội và bị trục xuất về VN thì họ không có điều kiện quay trở lại Malaysia để kiện công ty SPEKTRA ALUCAST. Thứ ba là những người công nhân này đang đòi bồi thường ít nhất là 10 ngàn Ringgit-tiền Malaysia, chưa kể công ty còn phải bồi thường những tổn thất về vật chất và tâm lý trong thời gian họ phải bị tù từ tháng 2 cho tới tháng 6 vừa rồi vì đó là do lỗi của công ty. Vậy thì không có lý gì họ lại nhận một số tiền 2 tháng lương là 800 Ringgit và đi về VN. Nhưng phía bên VN nhất định không hiểu và tìm đủ mọi cách để ảnh hưởng, hăm dọa những người công nhân để họ nhận tội và không nhận luật sư của chúng tôi đứng ra bảo vệ cho họ. Nhưng may là những người công nhân này đã hiểu ra ai là người thực sự muốn bảo vệ quyền lợi cho họ nên khi đứng trước tòa thì họ đã chỉ định luật sư của CAMSA là luật sư cho họ, từ đó buộc luật sư do chủ sử dụng lao động mà cũng là của sứ quán và của công ty môi giới phải ra khỏi phòng xử. Qua vụ này chúng ta thấy cách giải quyết của chính phủ VN là không quan tâm đến quyền lợi của người lao động. Tôi không rõ vì sao chính quyền VN lại đứng về phía các công ty như thế, chúng tôi chỉ có thể đoán là phía VN không muốn gây những trở ngại cho dịch vụ đưa người đi xuất khẩu lao động. Qua vụ này chúng ta thấy các công nhân và nạn nhân rất cần đến các tổ chức phi chính phủ, tổ chức xã hội dân chủ là những tổ chức làm việc vô vụ lợi để đứng ra bảo vệ quyền lợi của họ.

+ Anh có thể nói rõ hơn về tình trạng vi phạm nhân quyền trong vấn đề xuất khẩu lao động?

- Trước hết chúng tôi nhận thấy là việc xuất khẩu lao động có rất nhiều vi phạm liên quan đến các quyền của người lao động ở nước ngoài như quyền được làm việc, được nhận đủ lương, quyền không bị kỳ thị, quyền được bình đẳng trước pháp luật, quyền được trả lương giống nhau cho những công việc giống nhau… Về mặt hình thức, khi những người công nhân VN muốn đi lao động ở nước ngoài thì họ phải ký một hợp đồng tạm gọi là hợp đồng nội. Trong các bản hợp đồng đó chúng tôi thấy có rất nhiều vi phạm nhân quyền, thí dụ như cấm người lao động không được quan hệ tình cảm, không được đình công, không được hoạt động chính trị, không được tham gia vào công đoàn của nước sở tại… Thành ra ở đây chúng ta thấy người công nhân VN bị tước hết tất cả các quyền mà qua đó họ có thể tự bảo vệ họ. Và những bản hợp đồng nội đó được soạn dựa trên một bản hợp đồng mẫu do đại sứ quán VN đưa ra. Chúng tôi có bằng chứng về những bản hợp đồng mẫu đó.

Khi mà chính phủ tước cái quyền đó thì nhiều người công nhân hy vọng rằng chính phủ và các công ty môi giới sẽ lo cho họ đầy đủ trong trường hợp họ bị nạn, nhưng thực tế rất nhiều trường hợp đã không được như vậy. Khi người công nhân cần đến công ty môi giới, gọi điện thoại cho công ty môi giới thì công ty môi giới lẩn tránh, họ đến sứ quán thì sứ quán không tiếp, nhiều khi sứ quán cử người đến gặp họ thì lại đe dọa họ, họ muốn đòi tiền lương thì sứ quán bảo bớt đi, họ muốn kiện chủ sử dụng lao động thì sứ quán lại bảo thôi đừng kiện, hoặc có nhiều khi sứ quán lại đứng về phía người chủ sử dụng lao động để đe dọa chính những người công nhân.

+ Và bước thứ hai là khi qua đến nước ngoài thì người lao động lại phải ký một cái hợp đồng khác phải không ạ?

- Vâng, khi họ vừa qua đến nơi, đầu óc còn không còn tỉnh táo sau chuyến bay dài thì họ phải ký ngay vào một cái hợp đồng được viết bằng một thứ ngôn ngữ họ thường không hiểu được mà chúng tôi gọi là hợp đồng ngoại. Sau này, khi người lao động tìm đến chúng tôi thì chúng tôi phân tích cho họ biết là cái bản hợp đồng tiếng Anh hay tiếng ngoại ngữ đó có những điểm khác biệt so với bản hợp đồng nội. Nếu có chuyện gì xảy ra, các công ty sử dụng lao động sẽ bảo là chúng tôi không biết trong nước các anh ký cái gì, còn anh ký vào bản hợp đồng của chúng tôi thì chúng tôi chỉ dựa vào bản hợp đồng này mà thôi. Thành ra khi ký vào hợp đồng tiếng nước ngoài mà không có người giải thích cũng như không có thì giờ để suy nghĩ một cách cặn kẽ thì công nhân rất dễ bị thiệt thòi. Chưa kể, họ đã vay nợ để trả chi phí môi giới rất lớn và đã qua đến nước ngoài rồi thì họ không còn cách nào khác là phải chấp nhận ký. Đây cũng là một hình thức ép buộc người công nhân vào trong điều kiện lao động hay điều kiện bị bóc lột sức lao động.

+ Đa phần các công ty họ đều giữ hộ chiếu của người lao động hay sao anh?

- Tôi nghĩ là tuyệt đại đa số. Ví dụ chúng tôi đã nói chuyện với rất nhiều viên chức Malaysia thì mới biết rằng người Malaysia không ý thức được cái việc giữ hộ chiếu như giữ một cái vật thế chấp ban đầu như vậy sẽ có hậu quả như thế nào đối với người lao động VN. Nhưng khi chúng tôi giải thích cho họ rằng cái việc này tạo điều kiện cho những kẻ buôn người bóc lột người lao động và người không có hộ chiếu không thể thoát khỏi môi trường bóc lột thì họ mới hiểu.

+ So với các quốc gia cũng có người lao động đi xuất khẩu thì số tiền mà người lao động VN phải đóng cho các công ty môi giới để đi Malaysia có nhiều hơn, cao hơn không?

- Tôi nghĩ rằng thị trường lao động ở Malaysia là thị trường dành cho người lao động nghèo ở VN. Họ đóng một số tiền khoảng 20 triệu tiền VN (hơn 2000USD) để được đi lao động tại Malaysia. Việc này cũng cho thấy những người chấp nhận sang làm việc tại Malaysia là những người đang ở trong một cái thế rất yếu tức là họ nghèo, họ cần phải đi. Mà đã nghèo, cần đi lao động như vậy thì làm gì có sẵn tiền để đóng cho các công ty môi giới nên toàn phải vay nợ, thế chấp nhà cửa, ruộng vườn… Tuy nhiên, nếu người VN đi lao động ở Malaysia mà được trả lương đúng với mức lương mà bản hợp đồng nội hứa với họ, thì họ có thể để dành một phần lương hàng tháng để trả nợ. Tôi nghĩ có lẽ tất cả những người lao động đều tính được bài toán đó thành ra họ mới quyết định ra đi. Nhưng họ không ngờ là nhiều người đi sang nước ngoài tiền mất tật mang, không kiếm đủ số tiền để trả nợ, về VN họ phải trốn nợ luôn và khi trốn nợ thì họ bị mất nhà, hoặc họ phải ra đi xuất khẩu lao động một lần nữa để trả cái nợ cũ.

+ Nhưng khi tôi có dịp tiếp xúc với một số công nhân ở các nước Đức, Tiệp, Ba Lan thì số tiền cao hơn nhiều, lên đến 8000 USD, 10000USD, 12000USD?

- Vâng, số tiền này tùy vào từng nước tiếp nhận lao động, tùy vào mức lương mà người lao động được hứa hẹn khi đi sang nước đó. Đi Malaysia thì giá rẻ, đi Đài Loan thì chắc chắn giá cao hơn, Nam Hàn cao hơn nữa và đi sang Nhật thì còn cao hơn nữa.

+ Từ lúc tổ chức CAMSA được thành lập cho đến nay, anh thấy công việc của các anh làm tiến triển như thế nào, trở ngại lớn nhất nằm ở đâu?

- Công việc của CAMSA ở tại Malaysia thì đã có tiến triển rất tốt, tức là chúng tôi có cảm nhận rằng chính phủ Malaysia bây giờ đã quan tâm nhiều hơn đến vấn đề buôn người để bóc lột sức lao động. Họ dần dần áp dụng bộ luật chống buôn người. Chúng tôi cũng theo dõi xem cảnh sát Malaysia có lập biên bản đàng hoàng hay không, họ đối xử với các nạn nhân như thế nào, áp dụng các thủ tục ra sao… Thứ hai là chúng tôi thấy xã hội dân sự bên Malaysia trước đây hơi yếu, thì bây giờ dần dần chúng tôi đã thành lập được những mạng lưới liên kết các tổ chức dân sự ở Malaysia để giúp đỡ cho các nạn nhân của nạn buôn người.

+ Còn phía chính quyền VN?

- Một đôi khi chúng tôi thấy phía VN có quan tâm đến vấn đề buôn người để bóc lột sức lao động. Tuy nhiên chúng tôi có cảm tưởng là những sự việc được giải quyết đó không theo một chỉ thị thống nhất từ trên xuống dưới mà hình như rất tùy tiện, tùy theo lòng tốt riêng của từng người nhân viên. Nhiều khi chúng tôi đến sứ quán để yêu cầu cùng hợp tác giúp đỡ cho các nạn nhân thì sứ quán VN đã không tiếp đại diện của CAMSA, chúng tôi không biết lý do là vì sao!

+ Cuối cùng anh có định nói thêm điều gì về vấn đề buôn người để bóc lột sức lao động không?

- Chúng tôi muốn đưa ra mục tiêu ngắn hạn của Liên minh CAMSA trong mười hai tháng tới. Thứ nhất là chúng tôi muốn chính phủ VN phải ký vào Hiệp định thư của Liên Hiệp Quốc về vấn đề chống buôn người. Thứ hai là chính phủ VN phải đưa ra một bộ luật để áp dụng Hiệp định thư này. Chúng tôi muốn chính phủ VN, Malaysia và Đài Loan sẽ hợp tác để truy tố một số hồ sơ buôn lao động và hợp tác với một số tổ chức phi chính phủ địa phương và quốc tế trong việc bảo vệ, giải cứu và giúp đỡ cho các nạn nhân cũng như trừng trị các thủ phạm.

Như chúng ta biết, nạn buôn người là một vấn đề rất khó giải quyết, bởi vì nó là một kỹ nghệ có thu nhập đứng thứ hai trong lĩnh vực tội phạm xuyên quốc gia, chỉ sau vấn đề buôn ma túy mà thôi. Muốn giải quyết vấn đề này cần phải có một sự hợp tác từ nhiều phía, giữa các nước có người lao động xuất phát đi và nước có người lao động đến, cần phải có sự hợp tác của nhiều nước với các tổ chức phi chính phủ trên thế giới. Thêm vào đó, hiện nay chúng tôi mong chính phủ VN sẽ phải thừa nhận đang có tình trạng buôn người để bóc lột sức lao động xảy ra ở VN. Sau khi đã công nhận thì bất cứ hành vi nào từ việc tuyển mộ, chuyên chở người, chứa chấp người cũng như tiếp nhận người mà có liên quan đến việc bóc lột sức lao động thì đều phải bị truy tố trước tòa án. Chẳng hạn, nếu như sau này có những người bị rơi vào trong mạng lưới buôn người thì các công ty môi giới cũng phải chịu một phần trách nhiệm, tức là giải quyết tận gốc chứ không phải như hiện nay chúng ta chỉ mới giải quyết với các công ty sử dụng lao động ở nước ngoài.

+ Cảm ơn anh về cuộc trao đổi này.

SONG CHI thực hiện.


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét