Thứ Năm, 1 tháng 7, 2010

Văn bản Nguyễn Ái Quốc (3)

Hội Đồng Bào Thân Ái (La Fraternité des Compatriotes)

Phan Văn Trường viết:
"Một ngày trong năm 1912, sau khi đưa đám một thiếu niên An Nam, học sinh trường Parangon [trường Nguyễn Thế Truyền học], một số đồng bào đưa ra ý kiến lập hội Ái hữu Sinh viên An Nam tại Pháp (Association amicale des étudiants annamites en France). Họ đề nghị tôi nghiên cứu dự trình để thực hiện càng sớm càng tốt. Tôi trả lời ngay: "Làm thì dễ, Pháp có luật 1/7/1901, tự do lập hội. Nhưng luật không chưa đủ, còn phải tính đến chính sách thuộc địa nữa. Các bạn nên biết, nếu ta lập hội mà không có phép, chính quyền thuộc địa sẽ tìm cách dẹp ngay." [Phan Văn Trường, hồi ký Une histoire de conspirateurs annamites à Paris ou la vérité sur L'Indochine (Chuyện những người An Nam âm mưu ở Paris hay Sự thật về Đông Dương), L'Insomniaque, 2003, trang 87]. Tuy nói vậy, nhưng ông cũng làm:
"Tôi bắt tay vào việc. Viết bản nội quy và thảo một chương trình [hành động] dài. Hội được thành lập trong sự hoan hỉ của đồng bào đã giao phó trách nhiệm cho tôi. Tôi yêu mến đặt tên nó là Thân Ái (La Fraternité). Hội có mục đích:
1- Giúp sinh viên Đông Dương xa gia đình có cơ hội gặp gỡ, kết bạn, đến chơi và giúp đỡ nhau trong trường hợp rủi ro, bệnh hoạn.
2- Học chung với nhau để trao đổi kiến thức khoa học và văn chương.
Hội Thân Ái mỗi tháng tổ chức nhiều cuộc hội họp, và diễn thuyết."
(Hồi ký PVT, chương 13, trang 87-88).

Qua sinh hoạt của hội, Phan Văn Trường gặp Phan Châu Trinh năm 1912, ông viết: "Tôi chưa bao giờ gặp ông [Phan Châu Trinh] ở trong nước. Tôi quen biết ông tại Paris năm 1912"(trang 68) và ông xác nhận chính mình là người lập hội và đặt tên là Thân Ái dù ông không ghi rõ ngày tháng sự việc này.

Sau này, người ta thường viết Phan Châu Trinh và Phan Văn Trường lập hội là không đúng. Người lập hội là Phan Văn Trường. Và ông là chủ tịch.

Hội Đồng Bào Thân Ái là tế bào đầu tiên của người Việt yêu nước tại Pháp.

Phan Văn Trường và Phan Châu Trinh, trở thành hai nhà lãnh đạo của phong trào Việt kiều yêu nước tại Pháp. Vì hoạt động của hội, mà Phan Văn Trường và Phan Châu Trinh bị bắt năm 1914. Hội Đồng Bào Thân Ái phải ngưng hoạt động. Phan Văn Trường viết:
"Hội hoạt động công khai không mờ ám. Chúng tôi cũng biết là có mật thám trà trộn trong đám hội viên, nhưng không sao, càng tỏ cho họ thấy là hội của chúng tôi theo đuổi những mục đích hoàn toàn hợp pháp và đáng khuyến khích. (...) Bọn mờ ám vẫn rình rập, với thế lực trong chính quyền thực dân, thế nào họ cũng phá. Hội của chúng tôi bị tẩy chay, họ phao tin hội này là ổ cách mạng, gián tiếp cảnh cáo hội viên nếu cứ cứng đầu không chịu bỏ thì có ngày sẽ phải hối hận".
(Hồi ký PVT, trang 89).

Theo mật báo thì Hội Đồng Bào Thân Ái phải giải tán vào năm 1916 (Thu Trang, Những hoạt động của Phan Châu Trinh tại Pháp, Đông Nam Á, 1983, trang 43). Tuy nhiên thông tin này chưa chắc đã đúng. Có thể hội phải giải tán sớm hơn, từ khi hai vị thủ lĩnh bị bắt tháng 9/1914.

Hội Người An Nam Yêu Nước ra đời.


Hội Người An Nam Yêu Nước (Le Groupe des Patriotes Annamites) ra đời.
Sự xuất hiện bút hiệu Nguyễn Ái Quấc.


Về mặt chính thức, Hội Người An Nam Yêu Nước thành lập sau thế chiến, tức là sau khi Phan Văn Trường giải ngũ trở về Paris vào tháng 4/1919. Căn nhà 6 villa des Gobelins, quận 13, của ông trở thành trụ sở của hội, theo mật báo Pháp.

Nhưng về mặt không chính thức, có thể hội đã hình thành rất sớm, do Phan Văn Trường và Nguyễn Thế Truyền thành lập tại Toulouse. Phan Văn Trường, sớm để ý đến Nguyễn Thế Truyền (năm 1910, lúc 12 tuổi đã được sang Pháp du học) khi còn là học sinh trường Parangon. Hai người sau này lại cùng sống ở Toulouse từ 1916 đến 1919: Phan Văn Trường, tại ngũ, làm thông ngôn cho lính thợ và Nguyễn Thế Truyền, sinh viên, học kỹ sư.

Một mật báo cho biết:
"Hội những người An Nam yêu nước đã được thành lập từ nhiều năm nay do hai nhà cách mạng chống Pháp là Phan Văn Trường và Phan Châu Trinh. Đó là một nhóm hoạt động rất tích cực.
Trong suốt thời kỳ chiến tranh (1914-1918), trụ sở Hội này là nơi hẹn của rất nhiều binh lính An Nam và hạ sĩ quan cùng sĩ quan có cấp bực.Từ hồi hai người trên, Phan Văn Trường và Phan Châu Trinh, bị bắt vì tội chống an ninh quốc gia vào năm 1915, tuy Phan Văn Trường và Phan Châu Trinh vẫn giữ vai trò lãnh đạo Hội một cách không chính thức, nhưng thực tế thì đã chính là do Nguyễn Ái Quốc" (Thu Trang, Những hoạt động của Phan Châu Trinh tại Pháp 1911-1925
, Đông Nam Á, Paris, 1983, trang 44).

Tóm lại, Phan Văn Trường và Phan Châu Trinh vẫn bị theo dõi gắt gao sau khi ra tù. Mật thám chưa để ý đến tên Nguyễn Thế Truyền, lúc đó còn là sinh viên, nhưng đã đưa ra cái tên Nguyễn Ái Quốc. Mật báo này rất quan trọng, vì nó cho biết:

1- Cái tên Nguyễn Ái Quấc/Quốc đã xuất hiện trong khoảng 1914-1918, ,b>ít nhất là từ 1918. Tức là trước khi Nguyễn Tất Thành sang Paris rất lâu (Tất Thành sang Paris tháng 6/1919, như trên đã nói ở trên).

2- Hội Người An Nam Yêu Nước được thành lập trong khoảng 1914-1918. Như vậy, chỉ có thể ở Toulouse, nơi Phan Văn Trường và Nguyễn Thế Truyền sống từ 1916 đến 1919. Trong thời gian này Phan Văn Trường bị buộc tội xúi giục binh lính An Nam làm loạn, viết đơn xin giải ngũ. (Sẽ nói đến sau)

3- Ba người bạn thân của Nguyễn An Ninh, viết về Nguyễn An Ninh đầy đủ nhất, là Lê Văn Thử tác giả Hội kín Nguyễn An Ninh (Nam Việt, 1949), Phương Lan Bùi Thế Mỹ, tác giả Nhà cách mạng Nguyễn An Ninh 1899-1943 (Thúy Phương, Sàigòn, 1970) và Hồ Hữu Tường, tác giả 41 năm làm báo (Đông Nam Á, Paris, 1984), đều ghi nhận Nguyễn An Ninh sang Pháp lần đầu năm 1918.

Vậy cái tên Nguyễn Ái Quấc, Quấc chứ không phải Quốc, có từ năm 1918, phải là dấu ấn của Nguyễn An Ninh. Ninh người Nam, chỉ có người Nam, theo Huỳnh Tịnh Của, mới viết Quấc. Phan Văn Trường và Nguyễn Thế Truyền người Bắc, không viết như thế. Hai tên Quấc và Quốc cùng được sử dụng, sau này Nguyễn Thế Truyền chỉ dùng tên Quốc.

4- Bộ Thuộc địa bắt đầu theo dõi Nguyễn Ái Quốc vào khoảng tháng 10/1919. Báo cáo của Jean (tên của một người Việt làm mật thám cho Tây), tháng 10/1919, có đoạn sau:
"1- Ông Guesde nói phải, có Nguyễn Ái Quốc tên thật là Nguyễn Văn Quốc, người Sàigòn, học ở bên này đã lâu lắm. Song chưa biết tên ấy ở đâu - Phải quen Phan Văn Chường thời mới biết tên ấy được.
2- Xin ông làm ơn hỏi Sureté [An ninh] Paris xem Chường có ở Paris bây giờ không, hay là đi voyage như lời sergent interp [ông đội thông ngôn]. Khương nói và cho tôi chỗ hắn ở (số nhà và phố)"
(Thu Trang, sđd, trang 54)

Theo báo cáo này, người mật thám tên là Jean, đến tháng 10/1919, vẫn chưa xác định được nhân dạng Nguyễn Ái Quốc, lúc thì coi Nguyễn Ái Quốc là Nguyễn An Ninh (người Sàigòn), khi thì coi Nguyễn Ái Quốc là Nguyễn Thế Truyền (học ở bên này đã lâu lắm), và chưa biết địa chỉ của Hội người An Nam yêu nước là nhà Phan Văn Trường, số 6 villa des Gobelins.

5- Về hoạt động của nhóm này, Daniel Hémery viết:
"Từ mùa thu năm 1919, Nhóm Những Người Yêu Nước có cột viết trên các báo Le Popupaire (Người bình dân), L'Humanité (Nhân loại), Le Libertaire (Người tự do tuyệt đối), báo của CGT, La vie ouvrière (Đời sống thợ thuyền) và Le Peuple (Dân chúng). Họ diễn thuyết, tổ chức những buổi họp mặt công cộng, với chủ đích bảo vệ quyền lợi Đông Dương trong nền văn chương chống thực dân theo cách của những nhà văn Indonésia (Nam Dương) hay Ấn độ. Cuối năm 1919, Nguyễn Ái Quốc, theo lời khuyên của Paul Vigné d'Octon là người hết sức chống chế độ thuộc địa, làm việc ráo riết tại thư viện Quốc gia, sửa soạn ra cuốn sách Les Opprimés (Những kẻ bị đàn áp), có thể là sơ thảo văn bản tương lai Procès de la Colonisation (Bản án Chế độ thực dân) và nghiền ngẫm dự định dịch các tác phẩm tây phương, như L'Esprit des lois (Vạn pháp tinh lý) sang Quốc ngữ." (Hémery, trang 45)

Câu này xác định hoạt động của nhóm Ngũ Long trên báo chí và diễn thuyết. Nhưng vì dùng những tài liệu sai của mật thám, cho nên Hémery đã hoàn toàn nhầm lẫn Nguyễn An Ninh với Nguyễn Tất Thành:
Trong các bài viết hoặc diễn thuyết của mình, Nguyễn An Ninh thường nhắc đến kinh nghiệm cần học hỏi của Ấn Độ, Nam Dương. Theo Lê Văn Thử, Phương Lan Bùi Thế Mỹ và Hồ Hữu Tường, Ninh thời ấy để tóc dài, kiểu "hyppy", làm "người mẫu" kiếm tiền học, chơi thân với Paul Vigné d'Octon và nhóm anarchiste (vô chính phủ), cộng tác với báo Le Libertaire (Người tự do tuyệt đối) của nhóm này. Mỗi cuối tuần, Ninh ra ngoại ô Paris, vào rừng tập nói, để diễn thuyết cho hùng hồn. Đó là Nguyễn An Ninh những năm 1918-1920 ở Pháp. Theo Phạm Quỳnh, trong Pháp du hành trình nhật ký, thập niên 1920, ở Pháp, diễn thuyết là một cái mốt, hầu như cuộc hội họp nào cũng có diễn thuyết.

Nguyễn An Ninh còn viết cuốn La France en Indochine (Nước Pháp ở Đông Dương) chống Pháp mãnh liệt, in năm 1924, mang về Việt nam trong chuyến đi với Phan Châu Trinh, cuốn sách này đã bị tịch thu (nhưng có thể đọc bài La France et L'indochine đăng trên Europe số 31, ra ngày 15/7/1925 là thấy rõ nội dung). Ninh dịch Contrat social (Dân ước) của Rousseau và chắc có ý dịch cả L'Esprit des lois (Vạn pháp tinh lý) của Montesquieu nữa.

Vậy hình ảnh một thanh niên tên Nguyễn, chơi thân với nhóm anarchiste, diễn thuyết hùng hồn, viết hết sách này đến sách khác, vào khoảng cuối 1919 đầu 1920, mà mật thám Jean mô tả, và Hémery chép lại trên đây, chỉ có thể là Nguyễn An Ninh; vì Nguyễn Tất Thành, đến tháng 6/1919, mới sang Pháp, đang học tiếng Pháp, làm sao cuối năm 1919, đầu năm 1920, đã có thể "đăng đàn diễn thuyết", viết sách, và dịch sách của Montesquieu được?

6- Một mật báo khác:
"Vào những năm 1920-1921, Hội những người An Nam yêu nước" đặt trụ sở tại số 6 villa des Gobelins. Số người lãnh đạo của Hội này, đã từng làm công việc tuyên truyền chống Pháp một cách rất mạnh nói chung, và đặc biệt chống ông Sarraut (toàn quyền Đông Dương) nói riêng. Những người này cho là ông ta đã gây nên nhiều nỗi đau khổ tại nước họ.
Tháng 10/năm 1921, Phan Văn Trường, Nguyễn Ái Quốc, Khánh Ký, Lê Văn Thuyết và Hai Tân đã quyết định đề nghị ám sát ông Sarraut (...) Nhưng nhờ sự can thiệp của Phan Châu Trinh mà dự án này không đem ra thi hành"
(Thu Trang, trang 45).

Những thông tin trong đoạn đầu mật báo khá đúng. Còn việc Phan Văn Trường định ám sát Sarraut là sai. Phan Văn Trường là người thận trọng, ghét bạo lực, hành động công khai, ông đối lập với Sarraut bằng luật pháp và ngòi bút. Nguyễn Thế Truyền sôi nổi và nóng nẩy hơn trong những bài đả kích Albert Sarraut.


Ai là tác giả những bái báo ký tên Nguyễn Ái Quấc/Quốc?

Trong thư ngày 27/3/23, cụ thân sinh ra ông Nguyễn Thế Truyền khuyên con:"chớ bắt chước Nguyễn Ái Quốc làm báo nói lăng nhăng, chớ chơi với Nguyễn Ái Quốc" (Đặng Hữu Thụ, Thân thế và sự nghiệp nhà cách mạng Nguyễn Thế Truyền (tác giả xuất bản, Paris, 1993) trang19). Như thế, cái tên Nguyễn Ái Quốc, tuy là tên chung, tên ma, nhưng đã thành tên riêng của một người: Nguyễn Tất Thành. Và sự bí mật về việc ai viết những bài ký tên Nguyễn Ái Quốc gần như toàn diện, đến cả cụ thân sinh ra Nguyễn Thế Truyền cũng không biết con mình viết bài ký tên Nguyễn Ái Quốc! Sự bí mật này trở thành chiến lược của nhóm Ngũ Long, chúng tôi sẽ trở lại trong bài phân tích văn bản Nguyễn Ái Quốc. Nhờ cuốn sách của Đặng Hữu Thụ, mà chúng ta biết rõ những hoạt động của Nguyễn Thế Truyền và các bạn đồng hành tại Pháp.

Hồ Chí Minh hiển nhiên nhận mình là Nguyễn Ái Quốc tác giả các bài báo. Nhưng nhiều dữ kiện chứng minh ngược lại.

1- Chính quyền Pháp: Không tin Nguyễn Tất Thành là Nguyễn Ái Quốc
- Trong thư gửi cho Toàn Quyền Đông Dương ngày 12/9/1923 (sau khi Nguyễn Tất Thành sang Nga), Tổng Thanh Tra quân đội Đông Dương và người Đông Dương viết:
"Les articles publiés sous le nom de Nguyễn Ái Quốc ne sont pas de lui ou ont été tout au moins l'objet des plus sérieures retouches. Cet annamite parle et écrit insuffisament le français pour rédiger tout ce qui paraît sous son nom" (Những bài ký tên Nguyễn Ái Quốc không phải do y viết hoặc đã được sửa chữa rất nhiều. Khả năng nói và viết tiếng Pháp của tay An Nam này không đủ để viết những bài y ký tên) [(Contrôleur général des troupes indochinois et des Indochinois à Gouverneur général de L'Indochine le 12/9/1923) (Slotfom Série I, Carton II - Đặng Hữu Thụ, trang124)]

- Về phía mật thám Pháp, cũng có thông tin tương tự: "Về những bài báo, có một vài mật thám đã ghi là do chính Phan Văn Trường viết và ký tên Nguyễn Ái Quốc" (Thu Trang, trang 95)

2- Những ai biết tiếng Pháp và đọc những văn bản này, đều thấy một sự thực hiển nhiên: Một người mới học tiếng Pháp như Nguyễn Tất Thành không thể viết những bài báo ký tên Nguyễn Ái Quốc. Hoàng Xuân Hãn viết: "bí danh này có thể là tên tượng trưng của tất cả người Việt (Nguyễn là họ thông thường của nhiều người Việt, chứ không phải chỉ là họ của Tất Thành). Nguyễn yêu nước, ba chữ ấy ứng vào tiếng Pháp: Groupes des patriotes Annamites thấy ký ở dưới truyền đơn: Bản yêu cầu tám điểm. Có lẽ một mặt vì họ Nguyễn mà mật thám coi đó là tên của Nguyễn Tất Thành. Rồi sau Nguyễn Tất Thành cũng mang tên ấy một thời gian mà thôi" (Thu Trang, trang 114). Những điều này giáo sư Hoàng Xuân Hãn viết khi còn giả thuyết Nguyễn Tất Thành sang Pháp từ năm 1917.

3- Tác giả bản Thỉnh nguyện thư gửi Hội nghị Hoà bình năm 1919:

- Mật thám ghi:"Bản yêu cầu gửi cho Hội Nghị Hoà bình là do Phan Văn Trường viết. Những điểm yêu sách đã do Phan Châu Trinh dịch sang chữ An Nam" (Thu Trang, 104)
- Hoàng Xuân Hãn cho rằng: Phan Châu Trinh viết phần Hán văn, Phan Văn Trường dịch ra Pháp văn, Nguyễn Tất Thành làm bài lục bát Việt nam yêu cầu ca. (Thu Trang, trang 9).

- Nhưng qua văn bản, chúng tôi có thể xác định: Phan Văn Trường viết thẳng phần tiếng Pháp, Phan Châu Trinh dịch sang Hán Văn. Nguyễn Tất Thành làm bài thơ (đúng hơn là vè). Bài này, Thu Trang chụp được bản chép tay, cho thấy Tất Thành làm thơ dở và trình độ quốc ngữ còn kém. (Xin xem toàn thể văn bản ở phần phụ lục). Sở dĩ chúng tôi xác định Phan Văn Trường viết vì những lý do sau:
- Phan Văn Trường đã có buổi diễn thuyết với đề tài Les revendications indigènes (Những thỉnh nguyện của người bản xứ) tháng 3/1914 ở trường Cao Đẳng Xã Hội.

- Lời văn trong bản thỉnh nguyện 1919 phù hợp với lối viết của Phan Văn Trường: Kín đáo, kiêu kỳ, châm biếm. Trong khi văn Phan Châu Trinh là lối trực bút, không châm biếm, không có ẩn nghĩa. Tây Hồ khi viết về Tây phương thường có giọng khiêm tốn trong khi Phan Văn Trường có niềm kiêu hãnh của người Phương đông.

Sự so sánh văn bản này dựa trên đoạn đầu và đoạn cuối của bản thỉnh nguyện, hai đoạn văn ngắn và cô đọng chứng tỏ văn tài của tác giả: vừa khiêm tốn đòi hỏi chủ quyền, lại vừa kẻ cả, tự xưng nước mình là một Đế quốc lâu đời, ngầm ý mắng bọn thực dân là mọi rợ, cướp nước. Tác giả tìm cách thu phục lòng người Pháp dân chủ tiến bộ, kích động niềm tự hào dân tộc của họ, để họ thấy xấu hổ mà bãi bõ chế độ thuộc địa tàn ác, không xứng đáng với truyền thống dân chủ của họ. Cách vận động này, trong bức thư ngỏ gửi Nguyễn Ái Quốc năm 1922, Phan Châu Trinh gọi là "cái dụng lý thuyết thâu nhân tâm của Phan", mà Tây Hồ không đồng ý.


1   2   3   4   5

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét