Thứ Năm, 1 tháng 7, 2010

Văn bản Nguyễn Ái Quốc (2)

Bài 1:
Ai là tác giả những bài ký tên Nguyễn Ái Quốc tại Pháp từ 1919 đến 1927?

3- Nghi vấn thứ ba: Nguyễn Tất Thành đến Paris năm nào?

a- Trong thời gian ở Luân Đôn, Nguyễn Tất Thành trao đổi thư từ thường xuyên với Phan Châu Trinh, gọi cụ Phan là Hy Mã nghi bá đại nhơn (Hy Mã là tên hiệu của Phan Châu Trinh, nghi bá là bác kính) và tự xưng là cuồng điệt Nguyễn Tất Thành (cuồng điệt là người cháu hăng say). Vì Phan Châu Trinh bị theo dõi rất kỹ, loạt thư này không qua mắt được mật thám, đó cũng là một trong những lý do xác định khoảng thời gian 1914-1918, Nguyễn Tất Thành sống ở Luân Đôn.

b- Mật báo tìm thấy thẻ thư viện mang tên Nguyễn Ái Quốc, ghi năm 1919. (Thu Trang, Rapport ký tên Jean, in trong phần Phụ lục cuốn Những hoạt động của Phan Châu Trinh tại Pháp 1911-1925, Đông Nam Á, Paris, 1983). Chứng này không đáng tin lắm, vì thẻ thư viện, cũng như thẻ sinh viên, nếu có, thì phải, hoặc đề đầy đủ họ và tên thật Nguyễn Tất Thành, hoặc chỉ đề họ Nguyễn, chứ không thể đề tên hiệu Nguyễn Ái Quốc. Vậy chứng này có thể do mật thám bịa ra để lấy điểm.

c- Hồ Chí Minh tuyên bố khác hẳn, dưới ngòi bút Trần Dân Tiên, ông viết:
Thế giới đại chiến bùng nổ. (....) Anh Ba đến nói với tôi: "Xin từ biệt anh Nam"
- Anh đi đâu?

Tôi đi Pháp (...)

Sau khi rời Luân Đôn, anh Ba viết thư cho tôi. Đại ý thế này:
"Tôi đã gặp nhà ái quốc Phan Châu Trinh. (...) Tôi cũng gặp luật sư Phan Văn Trường và những người khác. Tôi nói với họ: Trong khi vua Duy Tân nổi dậy ở Huế, nhân dân Thái Nguyên và nhiều nơi khác khởi nghiã, thì chúng ta phải làm gì chứ?"
(TDT, trang 30-31)

Mâu thuẫn: Đại chiến thứ nhất bùng nổ năm 1914. Vua Duy Tân nổi dậy, 1916 và khởi nghiã Thái Nguyên, 1917. Vậy nếu Tất Thành sang Paris khi đại chiến bùng nổ (1914) thì làm sao đã biết được những biến cố xẩy ra năm 1916 và 1917?

Xin nói rõ hơn: Khi Nguyễn Tất Thành đến Pháp (sẽ được xác định vào tháng 6/1919), Hội Nghị Hoà Bình thế giới đã khai mạc từ ngày 18/1/1919 ở Versailles. Nguyễn Tất Thành được hội Người An Nam yêu nước chỉ định đem bản Thỉnh Nguyện Thư Của Người An Nam đến hội nghị này.

Vậy việc Trần Dân Tiên/Hồ Chí Minh viết ông đến Pháp năm 1914, chỉ với hậu ý muốn chứng minh rằng: chính mình đã dựng nên hội Người An Nam yêu nước, chính mình là tác giả những bài báo ký tên Nguyễn Ái Quấc/Quốc, chính mình chủ động đưa ra ý kiến về bản Thỉnh Nguyện thư ở Hội nghị Hoà Bình Versailles, năm 1919, và việc mình viết được những bài báo ký tên Nguyễn Ái Quốc là do đã ở Pháp từ 1914 và đã hết sức cố gắng học tiếng Pháp.

Và sau đây là những đoạn văn rất quan trọng của Trần Dân Tiên:
"Họ đến để yêu cầu độc lập và tự do. Trong số đó, người ta thấy có ông Nguyễn Ái Quốc (tức là anh Ba). (...) Ông Nguyễn tổ chức nhóm người Việt Nam Yêu Nước ở Pa-ri và ở các tỉnh Pháp. Với danh nghiã của tổ chức này, ông đã đưa những yêu cầu ra trước hội nghị Véc-Xây (...) Cũng nên nhắc lại ý kiến đưa yêu cầu do ông Nguyễn đề ra nhưng lại do luật sư Phan Văn Trường viết, vì lúc bấy giờ ông Nguyễn chưa viết được tiếng Pháp. Cũng nên nhắc lại là ông Phan Châu Trinh và ông Phan Văn Trường không tán thành hoạt động của nhóm Việt nam Yêu nước, vì các ông ấy cho nhóm thanh niên là trẻ con" (Trần Dân Tiên, trang 32).

Trong đoạn này, Hồ Chí Minh nhận vơ hai sự kiện: Ông Nguyễn tổ chức nhóm người Việt Nam Yêu Nước ở Pa-ri và ở các tỉnh Pháp. Với danh nghiã của tổ chức này, ông đã đưa những yêu cầu ra trước hội nghị Véc-Xây Thực ra, hội Người An Nam Yêu Nước, mà tiền thân là Hội Đồng Bào Thân Ái do Phan Văn Trường thành lập từ năm 1912, và với danh nghiã chủ tịch hội này, Phan Văn Trường viết bản Thỉnh Nguyện Thư, ký tên Nguyễn Ái Quấc, thay mặt nhóm Người An Nam yêu nước (văn bản in kèm ở dưới). Nhưng có một câu Hồ Chí Minh nói thật về bản Thỉnh Nguyện thư: luật sư Phan Văn Trường viết, vì lúc bấy giờ ông Nguyễn chưa viết được tiếng Pháp.

Tiếp đến, những đoạn sau này, cũng rất đáng lưu ý:
"Lúc ấy, ông Nguyễn là một người yêu nước quyết tâm hy sinh tất cả vì Tổ quốc; nhưng ông Nguyễn lúc đó rất ít hiểu về chính trị, không biết thế nào là Công hội, thế nào là bãi công và thế nào là chính đảng" (TDT, trang 34).

"Ông Nguyễn không đủ tiếng Pháp để viết và phải khẩn khoản yêu cầu ông Phan Văn Trường viết thay. Ông Trường viết giỏi, nhưng không muốn ký tên. Mà chính ông Nguyễn đã phải ký tên những bài báo.

Những đoạn này xác định thêm một lần nữa: Nguyễn Tất Thành không biết tiếng Pháp và cũng không hiểu gì về chính trị, nhưng ở những bản tiểu sử chính thức sau này sẽ bị xoá hẳn.

Trần Dân Tiên viết tiếp:
"Nhược điểm về tri thức làm ông Nguyễn rất khó chịu. Nhất là ông Trường không viết tất cả những điều ông Nguyễn muốn nói. Vì vậy, ông Nguyễn bắt tay vào việc học làm báo.

Thường lui tới toà báo "Dân Chúng", ông làm quen với những người Pháp khác trong đó có chủ bút tờ "Đời sống thợ thuyền". Cũng như ông Lông-ghê, người chủ bút này cũng rất đáng mến. Ông bảo ông Nguyễn viết tin tức cho tờ báo của ông. Biết rằng không thể nhờ ông Trường viết mãi, ông Nguyễn nói thật là mình cón kém tiếng Pháp. Người chủ bút nói: Điều đó không ngại, có thế nào anh viết thế ấy. Tôi sẽ chữa bài của anh trước khi đưa in. Anh không cần viết dài, năm, sáu dòng cũng được". Ông Nguyễn bắt đầu viết rất khó khăn. Tin tức về Việt nam, ông Nguyễn không thiếu. Ông thiếu nhất là văn Pháp (...) Khi thấy viết đã bớt sai lầm, ông chủ bút bảo ông Nguyễn: "Bây giờ anh viết dài hơn một tý, viết độ bảy tám dòng". Ông Nguyễn viết bảy, tám dòng.

Dần dần, ông Nguyễn có thể viết cả một cột báo và có khi dài hơn. Lúc bấy giờ người chủ bút bạn thân của ông Nguyễn khẽ bảo:"Bây giờ anh viết ngắn lại. Viết từng này hoặc từng này dòng. Không viết dài hơn."
(Trần Dân Tiên, trang 35- 36).

Những người dạy tiếng Pháp cho Nguyễn Tất Thành, ngoài Phan Văn Trường, còn có Nguyễn Thế Truyền và Nguyễn An Ninh nữa. Nhiều mật báo nói đến việc ngày nào Thành cũng gặp Truyền, có khi mấy tiếng đồng hồ. Nhưng Hồ Chí Minh chỉ nhắc đến Phan Văn Trường mà không nói đến hai người kia vì Nguyễn Thế Truyền sau này chống Cộng và Nguyễn An Ninh, vô chính phủ và thân với nhóm Đệ Tứ. Việc học tiếng Pháp để viết báo như thế trong vài năm chỉ có thể đưa đến kết quả: Nguyễn Tất Thành có thể viết được những hàng tin tức. Còn tác giả những bài báo ký tên Nguyễn Ái Quốc là một chuyện khác hẳn.

Tóm lại: Phần thành thật trong nhật ký Trần Dân Tiên/Hồ Chí Minh là ông công nhận lúc ở Pháp, ông chưa biết gì về chính trị, tiếng Pháp kém và muốn học để viết báo. Nhưng lại cũng lại có chỗ không thành thật: vì ông đã nâng thời điểm ông đến Pháp từ 1919 lên 1914, để chứng tỏ những việc làm của Phan Văn Trường là do ông làm.

Nguyễn Tất Thành lộ diện với cái tên Nguyễn Ái Quốc từ Hội nghị Tours (bắt đầu ngày 27/12/1920). Hémery viết "Nguyễn xoay sở để được mời đi dự Đại Hội đảng Xã hội ở Tours, nhân danh đại biểu khu 13 của nhóm Xã hội Đông dương ma (fantomatique). Ngày 27/12 anh phát biểu ủng hộ kiến nghị Cachin-Frossard, ủng hộ việc đảng Xã hội gia nhập Quốc Tế cộng sản" (Hémery, trang 46).

Về hội nghị Tours, Trần Dân Tiên viết: "ông Nguyễn lắng nghe nhưng không hiểu rõ lắm, vì người ta thường nhắc đi nhắc lại những tiếng, những câu: chủ nghiã tư bản, giai cấp vô sản, bóc lột, chủ nghiã xã hội, cách mạng (...) Ông Nguyễn nhức đầu vì khó hiểu" (TDT, trang 46-47). Tuy không hiểu rõ những bàn cãi chính trị trong hội nghị Tours, nhưng Nguyễn vẫn bỏ phiếu cho Đệ Tam quốc tế vì "Đệ Tam quốc tế nói sẽ giúp đỡ các dân tộc bị áp bức giành lại tự do và độc lập của họ" (TDT, trang 49). Đoạn này ông cũng viết thành thực, nhưng trong cuốn Hồng Hà và các tài liệu chính thức về sau, những đoạn thành thực như thế này sẽ bị bỏ hẳn, để thêm vào những trang dài nói là ông đã nghiên cứu kỹ lý thuyết Mác-Lê trước khi đi dự Hội nghị Tours.

4- Xác định ngày tháng Nguyễn Tất Thành đến Pháp

a- Về ngày đến Pháp của Nguyễn Tất Thành, Sophie Quinn-Judge trong cuốn The Missing years (Hồ Chí Minh, Những năm tháng chưa được biết đến, bản dịch của Diên Vỹ và Hoài An) viết như sau:
"Về vấn đề ngày tháng tới Paris của Quốc, có lẽ bằng chứng đáng tin cậy nhất chính là hồ sơ của cảnh sát Pháp ở đó ghi nhận anh đến Paris tháng 6 năm 1919 từ London. Thông tin trong hồ sơ cho biết Hồ đến Paris ngày 7/6/1919 từ London, ban đầu anh ở số 10 rue de Stockholm sau đó là số 56 rue M. Le Price [chắc là rue Monsieur Le Prince] và tiếp theo là số 6 Villa des Gobelins" (trích theo tài liệu trên Internet).

Chứng cớ này phù hợp với thực tế. Nhưng những địa chỉ 10 rue de Stockholm và 56 rue M. Le Prince không thấy Trần Dân Tiên ghi lại trong hồi ký, có lẽ vì ông chỉ ở đấy vài ngày.

b- Việc Trần Dân Tiên ghi Tất Thành sang Pháp năm 1914, quá khó tin; cho nên khi viết cuốn Thời thanh niên của bác Hồ (nxb Thanh Niên, 1976), Hồng Hà được lệnh sửa lại như sau:
"Anh bỏ nghề phụ bếp ở Luân Đôn, sang Pháp, đấy là vào cuối năm 1917" (Hồng Hà, trang 38)

"Vừa tới Pa-ri, anh Nguyễn Ái Quốc đến ở nhà số 6 phố Vi-la đề Gô-bơ-lanh [6 villa des Gobelins], một phố yên tĩnh của quận 13. Đây là nhà của luật sư Phan Văn Trường. Cùng ở có cụ Phan Châu Trinh mà anh Nguyễn Ái Quốc có thư từ thăm hỏi luôn khi anh còn ở Luân Đôn. Ông Trường nhường cho anh một buồng con trên gác ba, vừa đủ kê một cái bàn, một cái giường và một cái tủ con. Dạo ấy, nhà số 6 phố Vi-la đề Gô-bơ-lanh là một trung tâm gặp gỡ của nhiều Việt kiều ở Pa-ri. Có khi bà con đến chơi ăn ở liền mấy ngày (...) Cụ [Phan Châu Trinh] làm nghề ảnh tư ngay tại nhà số 6. Để sống, anh Nguyễn- cả người Việt lẫn người Pháp quen gọi anh Nguyễn Ái Quốc như thế - cùng với một kiều bào khác là Tuyết giúp việc cho cụ Phan đồng thời học nghề rửa ảnh và phóng đại ảnh.

Cụ Phan là một nhà yêu nước chân thành, nổi tiếng ở Việt Nam và nước ngoài. Cụ hơn anh Nguyễn 19 tuổi, Còn ông Trường vốn là thông ngôn, học đến tiến sĩ luật học, làm nghề luật sư ở Pa-ri. Ông giỏi tiếng Pháp, vào quốc tịch Pháp, có nghiên cứu chủ nghiã Mác, quen biết nhiều trí thức và nhà chính trị Pháp. Điều mà anh Nguyễn băn khoăn hỏi hai người lúc đó làm gì cho đất nước trong khi đồng bào khao khát cách mạng thì không được trả lời thoả đáng, rõ ràng.

Anh Nguyễn vừa làm nghề rửa ảnh vừa chăm chỉ học thêm tiếng Pháp với ông Trường"
(Hồng Hà, trang 19).

Trích đoạn này cho một số thông tin đáng lưu ý. Đặc biệt câu: "Vừa tới Pa-ri, anh Nguyễn Ái Quốc đến ở nhà số 6 phố Vi-la đề Gô-bơ-lanh [6 villa des Gobelins].

Chính câu này đã xác định, một lần nữa, ngày tháng Nguyễn Tất Thành đến Paris:

Bởi vì căn nhà số 6 villa des Gobelins chỉ có sau khi Phan Văn Trường giải ngũ, tức là từ tháng 4/1919, ông về sống tại Paris, như ông đã ghi trong cuốn hồi ký Une histoire de conspirateurs annamites à Paris ou la vérité sur L'Indochine [Chuyện những người An Nam âm mưu ở Paris hay Sự thật về Đông Dương), L'Insomniaque, 2003]. Khoảng 1913-1914, Phan Văn Trường ở Rue Bertholet. 1914-1915 ông đi tù. Và sau khi ra tù, ông làm việc trong Công Binh Xưởng ở Toulouse. Tóm lại, nếu Nguyễn Tất Thành đến Paris ở ngay nhà Phan Văn Trường, thì chỉ có thể là sau tháng 4/1919, thời điểm Phan Văn Trường giải ngũ, lên Paris và trước khi Nguyễn Tất Thành đem bản Thỉnh nguyện đến Versailles, giữa tháng 6/1919.

Vậy có thể xác định chắc chắn rằng: Nguyễn Tất Thành đến Pháp trong tháng 5 hoặc tháng 6 năm 1919. Kết hợp với khám phá của Sophie Quinn-Judge tìm thấy trong hồ sơ cảnh sát Pháp Hồ đến Paris ngày 7/6/1919 từ London. Tất cả đều ăn khớp.

Nguyễn Tất Thành ở nhà số 6 villa des Gobelins của Phan Văn Trường hai năm, từ tháng 6/1919 đến ngày 14/7/1921, Tất Thành dọn tới số 9, Impasse Compoint, khu 17 (Hémery, trang 48). Đây là khu phố nghèo dành cho thợ thuyền, Tất Thành tiếp tục nghề ảnh ở một cửa hiệu gần nhà. Ngày 14/3/1923, Tất Thành dọn về trụ sở báo Le Paria (Người cùng khổ), số 3 phố Marché des Patriaches (Hồng Hà, trang 187).

Khi đã xác định được đúng thời gian Nguyễn Tất Thành ở Pháp. Chúng ta có thể đi sâu hơn nữa vào tổ chức Việt kiều, vào sự phát sinh cái tên Nguyễn Ái Quấc/Quốc và những công trình Hồ Chí Minh nhận là của ông nhưng lúc đó ông chưa có mặt tại Paris.


1   2   3   4   5

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét