Thứ Năm, 1 tháng 7, 2010

Xin được thảo luận với học giả Hồ Bạch Thảo về vài chi tiết lịch sử trong bài viết « Ðất Trung Quốc giáp biên giới Việt Nam : huyện Phòng Thành ».

Tức là « từ Bắc Thị-Gia Long, đường biên giới theo trung tuyến sông Gia Long, mà sông này là nhánh phía tây ngạn của sông Bắc Thị (tiếng Hán là Bắc Thị giang) ».

Cũng không hề có việc Ðường biên giới kéo dài 30 dặm (1 dặm = 561 m), chạy thẳng đến nơi cách chợ cũ thôn Ðộng Trung 3 dặm về phía bắc, từ điểm A trên mảnh bản đồ số 1. Mà là « Le cours de cette rivière a une longueur de trente li environs [ Note : chaque li équivaut à 561 mètres ], et au-delà de ces trentes li, la ligne frontière se dirige directement jusqu’à trois li comptés juste au nord de l’ancien marché du village de T’ong-tchong 峝 中 村, c’est-à-dire jusqu’au point A 甲de la carte n° 1.», « đoạn sông này dài khoảng 30 lý  (mỗi lý có độ dài 561 mét), và sau khi đi hết 30 lý này đường biên giới đi trực tiếp đến khoảng 3 lý về phía bắc chợ Động Trung, tức là điểm A trên bản đồ số 1 ».



Bản Đồ biên giới

Bản đồ từ hợp lưu sông Gia Long đến biên giới tỉnh Quảng Tây do Ủy ban Chiniac de Labastide thành lập năm 1890. Để ý điểm A ghi chú trong văn bản. (nguồn : CAOM)

Tôi cho rằng những điểm sai này sẽ quan trọng, vì không mô tả đúng đường biên giới như trong biên bản qui định. Để có kết luận, tôi nghĩ cần phải kiểm chứng lại tài liệu mà học giả Hồ Bạch Thảo trích dẫn, là « Tư liệu lịch sử biên giới Trung Việt, Ủy ban biên giới quốc gia, bộ Ngoại Giao xuất bản : Hà Nội, 2008, tập 3, trang 591 ».

Yêu cầu thứ hai của tôi, nếu có thể, xin học giả Hồ Bạch Thảo cho xem hình chụp các trang nguồn đã trích dẫn.

2/ Nghi án Mạc Đăng Dung :
Giải quyết nghi án này thực ra sẽ rất dễ dàng nếu xác định được vị trí tương đối các địa điểm sau đây :
Trấn Như Tích, núi Phân Mao và vị trí trụ đồng Mã Viện.

Nếu trấn Như Tích ở phía nam núi Phân Mao hay phía nam trụ đồng thì đất này thuộc Việt Nam. Ngược lại, ở phía bắc, đất này thuộc Trung Quốc.

Học giả Hồ Bạch Thảo viết trong phần nhập đề :
« Huyện Phòng Thành tại phía tây nam châu Khâm ; năm Vạn Lịch thứ 34 [1606] Phó tổng binh Dương Ứng Xuân lập trấn Phòng Thành để chế ngự lưu khấu cùng bọn cướp biển. Theo Thanh sử cảo trước kia đất này thuộc châu Khâm, năm Quang Tự thứ 14 [1888] lấy 2 ty Phòng Thành và Như Tích lập ra huyện Phòng Thành, vị trí tại phía tây nam châu Khâm 100 lý [58 km]. Phía tây bắc huyện giáp Thập vạn đại sơn ; phía tây nam từ núi Long Sơn sườn núi hiểm trở ra đến biển, trước đây đất này thuộc về Việt Nam, năm Quang Tự thứ 13 [1887] được nhập vào. Việc nhượng đất này do bởi hòa ước Thiên Tân, ký giữa thực dân Pháp và nhà Thanh, trong đó có điều khoản rằng nước Pháp trả lại những chỗ hải quân đã chiếm giữ tại mặt bể ; rồi để làm vừa lòng Trung Quốc, lúc bấy giờ người Pháp đã đem một vùng đất Việt Nam giáp biển nhượng cho họ. »

Có nhiều điểm cần làm sáng tỏ trong đoạn văn này.

Nói « trước đây đất này thuộc về Việt Nam » thì đất này là đất nào ? « Trước đây » là thời điểm nào ?
Theo nội dung đoạn trích dẫn thì « đất này » là đất Phòng Thành, được thành lập năm 1888, bao gồm hai ty Phòng Thành và Như Tích. « Năm Quang Tự thứ 13 [1887] được nhập vào ». Như thế « trước đây » là trước năm 1887.

Nếu ngừng ở đây thì nghi án đã giải quyết : đất Như Tích trước đây là của VN ; Mạc Đăng Dung nhượng đất này là đất của Việt Nam (chứ không phải đất chiếm của Trung Quốc trước đó rồi trả lại).
Trong khi đó « năm Vạn Lịch thứ 34 [1606] Phó tổng binh Dương Ứng Xuân lập trấn Phòng Thành » và « theo Thanh sử cảo trước kia đất này thuộc châu Khâm ».

Như thế có điều không ổn, đất này không thể vừa « thuộc về Việt Nam » vừa « thuộc châu Khâm ». Điều cần làm rõ là đất này thuộc về châm Khâm từ thời nào và thuộc về VN từ thời nào ? Có phải từ thuở Việt Nam lập quốc cho đến năm 1887 thì đất này (Phòng Thành) liên tục là của Việt Nam ? Nếu đúng vậy thì hư thực của việc « năm Vạn Lịch thứ 34 [1606] Phó tổng binh Dương Ứng Xuân lập trấn Phòng Thành » là như thế nào ? Lúc lấy đất lập huyện thì đất này là đất của Việt Nam hay đất của (châu Khâm) ?

Tất cả đều không có gì chắc chắn. Trong khi Thanh Sử cảo viết năm 1914 thì không đáng tin tưởng. Sẽ giải thích ở đoạn dưới.

Theo tài liệu đã dẫn từ bài của học giả Hồ Bạch Thảo thì vị trí núi Phân Mao, trụ đồng Mã Viện và trấn Như Tích được mô tả như sau :
« Phân Mao Lãnh : Đại Thanh nhất thống chí chép rằng Phân Mao Lãnh tại phía tây châu Khâm, Dư địa kỷ thắng chép chân núi Phân Mao Lãnh tiếp giáp An Nam… Trên đỉnh núi có một loài cỏ ngọn chia làm 2 hướng, đến nay còn như vậy. Thông chí chép vào năm Tuyên Ðức thứ 2 [1427] bị chiếm mất vào châu Tân An, Giao Chỉ ; đến năm Gia Tĩnh thứ 21 [1542] Mạc Ðăng Dung quy hàng trả lại.
Sự tích về Ðồng Trụ : Phủ chí chép rằng tại tây nam châu Khâm có động Cổ Sâm, Tiết độ sứ Mã Thông đời Ðường lập đồng trụ. Về cột đồng Mã viện, sách Dư địa kỷ thắng chép rằng dưới động Cổ Sâm châu Khâm là biên giới với An Nam, có cột đồng Mã Viện… Minh thống chí chép Mã Viện nhà Hán đánh Giao Chỉ lập cột đồng tại dưới núi (Phân Mao) để chia ranh giới. »

Trấn Như Tích : xưa gọi là trấn, Cửu vực chí chép huyện An Viễn có trấn Như Tích, Tống sử mục địa lý chí chép An Viễn có trại Như Tích, Dư địa kỷ thắng chép trại Như Tích nằm tại phía tây châu Khâm 160 lý [92 km], cách châu Vĩnh An Giao Chỉ 20 lý [11,6 km], chiếm một ngọn núi lớn thế rất hiểm, xưa đặt trại để coi 7 động. Thông chí chép phía tây châu Khâm có Như Tích, Liễu Cát, Thiếp Lãng, Tư Lẫm, Cổ Sâm, Thời La 7? động, đời nhà Tống lập Ðộng trưởng để trông coi, đầu đời Hồng Vũ [1368] đặt Tuần kiểm tại Như Tích để thống trị, đất này phía bắc giáp với 2 con sông tại đông và tây, phía nam giáp Giao Chỉ, vào năm Vĩnh Lạc thứ 14 [1416] tăng đặt Phật Ðào Tuần kiểm tại biên cảnh phía tây, vào năm Tuyên Ðức thứ 2 [1427] Lê Lợi tại Giao Chỉ làm loạn các động Tư Lẫm, Thời La, Cổ Sâm, Liễu Cát quy phụ họ Lê ; đến năm Gia Tĩnh thứ 19 [1540] Giao Chỉ thần phục đã nạp 4 động xâm chiếm ; vào năm Gia Tĩnh thứ 21 [1542] Tri châu Lâm Hy Nguyên định lại biên giới còn lại hai động Thiếp Lãng, Thời La mà thôi. Châu chí chép ty Như Tích xưa tại thôn Na Tô, phía tây nam châu 170 lý, nay dời đến thôn Lịch phía bắc sông Tây Giang. THANH SỬ CẢO chép Huyện thừa đóng tại Ðông Hưng, dưới quyền có 2 Tuần ty : Như Tích và Vĩnh Bình.

Ta thấy không có gì là rõ rệt cả. Không tài liệu nào xác định được Như Tích ở phía bắc hay ở phía nam núi Phân Mao (hay đồng trụ). Trong khi Thanh sử cảo thì không chính xác, vì khi chép rằng Huyện thừa đóng tại Ðông Hưng, dưới quyền có 2 Tuần ty : Như Tích và Vĩnh Bình là không phù hợp !

Thanh sử cảo, theo học giả Hồ Bạch Thảo, do Sử quán thời Dân Quốc biên soạn năm 1914.

Trong khi đó Đông Hưng, theo các tài liệu của các nhà truyền giáo Pháp tại Trúc Sơn hay theo bút ký của Dr Néis, vào thời kỳ phân định biên giới 1887, Đông Hưng chưa được thành lập, mà chỉ là một trại đóng quân của Trung Hoa (mà trại này cũng mới thành lập sau khi quân Pháp đánh Bắc Kỳ vào các năm 1880). Trên các bản đồ do Pháp thành lập thời đó, thấy ghi La Phù Động ở kế bên Đông Hưng. Ngày xưa hai bờ sông Bắc Luân, phía Móng Cái gọi là Mang Nhai (nhai tiếng Hán là bờ sông), phía Đông Hưng là Đông Hưng Nhai. Nơi sầm uất chợ búa đông đảo (người Hoa lẫn Việt) là Hòa Lạc, tức là Móng Cái ngày nay. Phía bên kia sông là huyện Giang Bình (hay Cương Bình, phía bắc Đông Hưng ngày nay), là đất của Việt Nam, do quan VN lãnh đạo, có ghi vào sổ bạ của nhà Nguyễn, trong đó có các đảo Vu Đầu, Sơn Tâm và Vạn Vĩ. Đến nay, hàng trăm năm đã qua, dân chúng ở đó vẫn giữ nguyên ngôn ngữ, văn hóa bản sắc Việt.

Đông Hưng chưa thành lập, phía bắc Đông Hưng là Giang Bình, huyện của người Việt. Không có người Hoa nào sinh sống ở vùng này thì sao gọi đó là đất của Tàu ? Vào năm 1887 Đông Hưng chưa thành lập thì việc đặt « huyện thừa » cho Như Tích và Vĩnh Bình chỉ có thể xảy ra sau khi Pháp nhượng Giang Bình (tức mũi Bạch Long – Pak Lung) cho Trung Hoa.

Vì thế, giải nghi án Mạc Đang Dung hay tìm vị trí trấn Như Tích thì không thể dựa vào Thanh sử cảo để suy luận.

Các chi tiết từ Minh sử, dẫn từ bài của học giả Hồ Bạch Thảo, viết bằng chữ nghiêng :

Ngày 20 tháng 12 năm Tuyên Đức thứ 9 [19/1/1435]

Châu Khâm, Quảng Đông tâu :
“ Hai đô Thiếp Lãng, Như Tích tiếp giáp với huyện Vạn Ninh, Giao Chỉ. Trước đây nhân Lê Lợi phản nghịch, bọn người trong đô là Hoàng Khoan bị cưỡng bách, trợ giúp man khấu cướp tài sản của dân. Mới đây được ân mệnh chiêu phủ, bọn Khoan cam tâm nghe lời giặc không tuân theo.”
Ngày 15 tháng 10 năm Chính Thống thứ 5 [9/11/1440]
Dân châu Khâm, Quảng Đông là bọn Hoàng Khoan từ năm đầu Tuyên Đức [1426] dụ dỗ cư dân hơn 290 hộ cùng ruộng đất, hiến cho An Nam. Trước đây đã sắc cho Tuần phủ, Án sát, Ngự sử cùng các quan tại Tam Ty mang sắc phủ dụ, nhưng bọn Khoan không tuân. Khảo xét chí thư về châu này, từ khi Hán Mã Viện bình định xong, lấy Đồng Trụ làm giới hạn phía tây nam, Phân Mao Lãnh giới hạn phía tây bắc; trong vòng giới hạn đó từ thời Hán Vũ đế đến nay đều lệ thuộc châu Khâm. Nay trong vòng Phân Mao Lãnh hơn hơn 300 dặm, trong vòng Đồng Trụ hơn 200 dặm đều do An Nam xâm lấn.
Ngày 17 tháng 4 năm Chính Thống thứ 14 [8/5/1449]
Người dân tên Ðặng Cung thuộc huyện Ðông Hoàn, Quảng Ðông tâu 7 điều :
- Khâm châu giáp giới Giao Chỉ, người dân tại đây ăn mặc và tiếng nói tương tự, khó mà phân biệt được rõ ràng. Xin sai quan đến nơi này thay đổi y phục theo Trung châu, lập trường học tại làng, thay đổi ngôn ngữ theo tiếng Trung Hoa. Như vậy đổi được phong tục, làm khác y phục, phát âm, để dễ biện biệt.

Về các chi tiết từ Minh sử cũng không thuyết phục. Phía Trung Hoa cho rằng các động Như Tích và Chiêm Lãng bị sát nhập vào Việt Nam sau khi Lê Lợi khởi nghĩa thành công, đại khái theo Minh sử là vào năm 1435. Không có chi tiết nào thuộc Minh sử chứng minh rằng các vùng đất này ở phía bắc núi Phân Mao (hay trụ đồng) để khẳng định đất này là của họ. Nhưng cũng từ Minh sử ta thấy lúc đó dân chúng tại hai vùng này hoàn toàn là dân Việt. Lẽ nào, từ lúc năm 1435 đến năm 1449, chỉ có vài năm mà dân vùng này, giả sử là dân Tàu, lại bỏ quên phong tục tập quán thậm chí đến ngôn ngữ để trở thành hoàn toàn là dân Việt ?

Không thể có sự thay đổi nhanh chóng đến như vậy, nhất là về ngôn ngữ. Lịch sử thế giới chưa bao giờ thấy có một giống dân nào thay đổi « căn cước » nhanh đến như vậy. Muốn thay đổi một ngôn ngữ của một sắc dân phải cần đến vài thế hệ. Việc này chỉ có thể thành công nếu có sự hưởng ứng từ những người dân. Ta thấy, các sắc dân trên vùng biên giới Việt Trung, cả trăm, nhiều trăm năm, thậm chí cả ngàn năm qua họ vẫn giữ nguyên ngôn ngữ và phong tục tập quán của tổ tiên họ, mặc dầu họ sống chung đụng hàng ngày với người Việt hay người Hoa.

Một thí dụ khác, dân Việt sống tại huyện Giang Bình, nay thuộc Trung Quốc, ngày xưa có thể là các động hay trấn Như Tích, Thiếp Lãng v.v… đến nay vẫn giữ được tiếng nói và phong tục của mình. Họ đã bảo vệ được căn cước của mình trong thời gian chinh biến 1887 là nhờ trốn sang các đảo nhỏ gần đó, không có đường bộ nối với đất liền, do đó tránh được sự càn quét của quân Trung Hoa.

« Một ngàn năm đô hộ giặc Tàu » nhưng người Việt vẫn là người Việt và đất đó cũng vẫn mãi là đất Việt.

Ngày xưa quan niệm về biên giới của Trung Quốc chưa có, chỉ có quan niệm về vùng biên giới và « thần dân ». Dân nơi nào « thần phục » thiên triều thì nơi đó người Hán cho là « chư hầu » hay « phiên bang ». Nhưng không vì vậy mà người Hán có thể xưng rằng đất đó là đất của mình.

Như thế người Việt ở đâu thì đất Việt ở đó. Đây là bằng chứng hùng hồn nhất cho thấy các vùng đất (các động Như Tích và các vùng đất phía nam núi Phân Mao…) là của người Việt. Phía Trung Quốc nói là của họ, thực ra không có gì chứng minh cụ thể. Trong khi sử sách của người Hán cũng công nhận rằng dân chúng các vùng đất đó là dân Việt.

Như thế theo tôi, Mạc Đăng Dung nhượng đất cho Trung Quốc là việc có thật. Đất đó là đất của Việt Nam, vì người Việt sinh sống ở đó (và vẫn còn ở một số vùng đến ngày hôm nay).

3/ Kết luận : Việc dành đất của Việt Nam này của người Hoa không phải là điều mới mẻ. Phần lớn các vụ này không phải do chủ mưu của « thiên tử » (vì thiên tử đôi khi không phải là người Hán) mà do lòng gian tham của quan lại địa phương. Nhiều lần trong quá khứ người Hoa đã thực hiện các âm mưu để chiếm đất của VN như đất Tụ Long (hai lần lập âm mưu), đất Đèo Luông, Đất Hải Ninh (các tổng Kiến Duyên và Bát Trang), đất Giang Bình (mũi Bạch Long) v.v… và hôm nay là Hoàng Sa và Trường Sa của VN. Vấn đề Hoàng Sa và Trường Sa là một âm mưu lớn của các thế hệ lãnh đạo Trung Quốc từ sau khi nhà Thanh sụp đổ đến hôm nay. Họ đã xây dựng chiến lược hàng trăm năm, tiếp nối chuyển từ thế hệ này sang thế hệ khác lập trường nhất quán không thay đổi. Họ có nhiều cơ may thành công, không phải vì chiến lược hay lòng quyết tâm, mà vì sự thờ ơ và nông cạn của trí thức cũng như quan lại trong « triều đại nhà Hồ » của Việt Nam. Các việc này tôi đã viết bài đăng tại đây : http://vn.360plus.yahoo.com/truongnhantuan/article?mid=1

Tôi trân trọng cám ơn học giả Hồ Bạch Thảo về các bài nghiên cứu đã công bố. Bài viết này, với những chi tiết dẫn từ Minh sử, là những tài liệu quí giá. Mỗi người hiểu và diễn giải mỗi cách, tôi có cách diễn giải của tôi. Theo đó tôi cho rằng nghi án Mạc Đăng Dung từ nay có thể khép lại.

Trương Nhân Tuấn

Phụ lục :
Délimitation de Tchouk-san à Chi-ma.
Procès-verbal du 29 mars 1887.
(version française faite sur la copie chinoise communiquée par le Tsong-li Ya-men à la légation de France à Pékin, en mai 1889).
Les membres de la commission franco-chinoise de délimitation ont reconnu que : à partir de Tchou-chan (Trúc-sơn 竹山), qui appartient au territoire chinois, la frontière suit la rivière, de l’est à l’ouest, jusqu’à Tong-hing (Ðông-Hưng 東興) et Mang-kiai (Móng-Cái). Dans cette section, le milieu de la rivière forme la limite frontière, séparant Lo-feou-t’ong (La-phù-đồng 羅浮峒), Tong-hing et autres lieux ; qui appartiennent à la Chine, de Wou-che (Ngũ-sĩ 伍仕), Monkaï et autres lieux qui appartiennent à l’Annam.
Depuis Tong-hing et Monkaï jusqu’à Pei-che (Bắc-thị, Pacsi 北市) et Kia-long (Gia-long 加隆), la frontière est assez sinueuse et se dirige de l’est au nord-nord-ouest ; suivant le milieu de la rivière depuis Tong-hing et Monkaï jusqu’à Pei-che et Kia-long et séparent ainsi Na-tche (Ná-chi 那芝), kia-long et autres localités, qui appartiennent à la Chine, de T’o-ling (Thác-lãnh 托嶺), Nan-li (Nam-lý 南里), Pei-che et autres localités, qui appartiennent à l’Annam.
Depuis Pei-che et Kia-long, la frontière suit le milieu de la rivière Kia-long, qui est un affluent occidental de la rivière de Pei-che (rivière de Pacsi 北 市 江). Le cours de cette rivière a une longueur de trente li environs [ Note : chaque li équivaut à 561 mètres ], et au-delà de ces trentes li, la ligne frontière se dirige directement jusqu’à trois li comptés juste au nord de l’ancien marché du village de T’ong-tchong 峝 中 村, c’est-à-dire jusqu’au point A 甲de la carte n° 1. Les localités de Ling-Houai (嶺 懷 Lãnh-hoài), de P’i-lao (Phi-lao 披 勞), de Pan-hing (Bản-hưng 板 興), la montagne située au sud-est de Pan-hing, touchant à la frontière et appelée Fen-mao-ling (Phân-mao-lãnh 分 茅 嶺) et autres lieux ; sont attribués à la Chine. Na-yang (Ná-duong 那 陽), Tong-tchong (Ðộng-trung 峝 中) et autres lieux sont attribués à l’Annam.
Depuis le point A, la frontière se dirige vers le défilé de Pei-kang-ngai (Bắc-cang-ải 北 崗 隘), de la montagne P’ai-tsien-chan (Phái-thiên-sơn 派 遷 山). Ce lieu est distant de trente li environ ; en ligne droite du village annamite de P’ing-leao-ts’ouen (Bình-liêu-thôn 平 寮 村). La frontière sépare ainsi Na-kouang-k’a (Ná-quang-ca 那 光 卡), Pan-t’ouen-k’a (Bản-thôn 板 吞) et autres lieux ; qui appartiennent à la Chine, de Na-yang (Ná-duong 那 陽), Tch’eng-siang-che (Trình-tường-xã 呈 祥 社) et autres lieux, qui appartiennent à l’Annam.
Depuis le défilé de Pei-kang-ngai, de la montagne P’ai-ts’ien-chan, jusqu’au défilé de Pan-pang (Bản-bang-ải-khẩu 板 邦 隘 口), la frontière se dirige vers l’ouest-nord-ouest, en passant par les défilésde Touei-nien-ngai (Ðối-niệm-ải 對 念 隘), de Kieon-ko-ngai (Khiêu-ca-ải 邱 歌 隘), de K’ouei-ma-ngai (Qui-ma-ải 癸 麻 隘) et par les sommets des montagnes Yong-pa-chan (Dong-ba-sơn 峒 巴 山), Kiao-Hao Chan (Khiêu Hiệu Sơn) et K’ou-houa-chan (Khô-hoa-sơn 枯 華 山 ). Elle sépare ainsi Kieou-t’o-k’a (Cửu-đặc 九 特 卡 ), Kiao-houang-ngai (Khiêu-hoang-ải 叫 荒 隘 ), Nong-ting k’a et autres lieux appartennant à la Chine, du territoire de T’ong-sin-che (Ðồng-tâm-xã 同 心 社 ), de K’ouen-tchong-tchan (Khôn-Trọng 坤 仲 ), de Kieu-mou-che (Kiên-mộc-xa 堅 木 社), de Pan-kou (Bản-gao板), et autres lieux appartenant à l’Annam.
Depuis le défilé de Pan-pang jusqu’au défilé de Ngai-tien (Ải-điếm-ải-khẩu 隘 店 隘 口), aussi appelé défilé de Tche-ma (Chí-mã-ai), la ligne frontière s’infléchit un peu vers le nord-ouest, passant par les défilés de Na-ma (Ná-mã-ải-khẩu那 馬 隘 口), de Na-ho (Ná-hà 那 河 隘 口), de Sinn-peng (Sầm-Bảng) et de Na-wo (Ná-oa 那 窩 隘 口 ), et séparant Na-ma-k’a (Ná-mã 那 馬 卡 ), Pai-yi-k’a (Phái-y 派 衣 卡 ), T’ien-k’i-k’a, et autres lieux qui appartiennent à la Chine, des territoires de Pan-long (Bản-long板 龍 ) , de Lin-ko (Lâm-ca 林 歌 ), de Kiu-k’i-che (Quich-khe-xa 橋 溪 社 ), de Pan-yang (Bản-dương 板 陽 ), de Pan-yu (Bản-dục 板 派), Pan-p’ai (Bản-phái 板 欲 ), de Pan-tchan (Bản-trạm 板 砧 ) et autres lieux appartenant à l’Annam.
Les commissaires chinois et français ont signé le présent procès-verbal, dressé en double expédition dans chacune des langues chinoises et française ; un exemplaire en chaque langue a été remis à chacune des deux délégations, ainsi qu’une carte ci-annexée, de la frontière reconnue.
Signé à Monkay, le 5e jour de la 3e lune de la XIIIe année Kouang-siu (le 29 mars 1887).
Signatures chinoises de :
Teng, commissaire impérial, chargé de la délimitation, directeur de la cour du cérémonial d’Etat ;
Wang, commissaire impérial, chargé auxiliairement de la délimitation, taotai des grains du Kouang-tong ;
Li, commissaire impérial, chargé auxiliairement de la délimitation taotai en expectative du Tche-li.
Signatures françaises de :
Ch. Dillon,
Dr Paul Néis.
Pour traduction conforme.
Le 1er interprète de la Légation à Pékin.
Signé : A. Vissière.

1   2

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét