Thứ Năm, 1 tháng 7, 2010

Trần Hoài Thư, một đời quý sách

(3)

          Với một cơ thể không phương phi, nhưng sức làm việc, sáng tác của Trần Hoài Thư thật đáng nể. Chỉ nghĩ đến việc “một mình một ngựa” trong vấn đề đánh máy, in, đóng, cắt, phát hành…là đủ giật mình, sợ anh rồi.  Trần Hoài Thư viết cả một bài dài, kể về cái thú tiêu thời giờ cho sách báo của anh: Cụ thể, anh sắm 5 chiếc máy nướng và đóng sách, sản xuất từ Canada và Mỹ. Mỗi máy một phút in được một tập. Để tiết kiệm điện và đạt được số lượng in cao hơn, anh tự chế một chiếc máy khác với một chảo nhôm và tấm vỉ nướng thịt, chiếc máy thủ công này thực hiện được 8 tập mỗi phút. Trần Hoài Thư vui vẻ so sánh sản phẩm tự chế của anh với chiếc xe vận tải, phá kỷ lục trong ngành sản xuất phương tiện giao thông vận tải tại Việt Nam đầu thế kỷ 21, do một tác giả tên Nhỏ Thanh giới thiệu trên trang điện tử Talawas cùng bài viết Đợi Hết Thời Thổ Tả (ngày 24-3-2006). Trần Hoài Thư  than thở việc khâu và cắt sách là vất vả nhất. Tôi nghĩ rằng, nhờ lòng yêu sách, lạc quan với công việc mình chọn, Trần Hoài Thư đã vượt qua những khó khăn, chán nản mà anh chạm mặt mỗi ngày. Có thể trong lúc chân tay làm việc, Trần Hoài Thư đã nghĩ đến thơ, đã làm thơ để có thêm nghị lực. Điều này rất có thể chính xác vì thời gian sau này Trần Hoài Thư in thơ nhiều hơn. Nhận định về thơ anh, ông Lê Ca Dao viết:
          “ Thơ của Trần Hoài Thư  chính là một phần của đời sống anh. Có thơ của lính, thuở những ngày ở Bồng Sơn, Đèo Cả, Đèo Nhông, An Lão, Phù Ly…nhưng cũng có thơ của ngày hôm nay, của những ngày anh làm anh học trò già tóc bạc , lúc đứa con vào học trường y khoa.
          Thơ Trần Hoài Thư, có lúc làm người đọc nhớ đến thơ Quang Dũng:
           ‘Quán sớm. Cô hàng nhăn nếp lụa / tóc còn vướng vít lòng chiếu chăn/ nước sôi reo ấm gian nhà chật/ bếp lửa hồng gió bạt. Mùa đông
          Gọi cốc cà phê un khói gió/ Mấy thằng râu tóc chụm thanh xuân/. Vách trống, sát vào nhau đỡ lạnh. / Trời ngoài kia, sương phủ mênh mông…’
          Và cũng có lúc cũng làm người yêu thơ nhớ đến Nguyễn Bắc Sơn:
          ‘Mưa lũ, mưa cuồng. Đêm tối bưng/ Nhận lấy ba ngày cơm gạo sấy/ Không buồn chỉ một chút bâng khuâng/ Đời ta là con số không vô tận/ May trên đầu còn chiếc mũ rừng/ Mũ nhẹ nên coi đời cũng nhẹ/ Chiến tranh thì cũng tựa phù vân…’
          Trích đoạn như vậy, để làm nổi bật lên cái đa diện của thơ Trần Hoài Thư. Chứ thực ra, thơ của anh có cái phong thái riêng, qua đó để được thấy cá tính của anh, đời sống của anh….
         …Thơ của Trần Hoài Thư là thi ca của người làm chủ được ngôn ngữ và đã biết cách để nói lên được tâm cảm của mình…”
                                                                                                (Lê Ca Dao, Diễn Đàn Phụ Nữ, trang VHNT)

         Để xem ông Lê Ca Dao có quá lời vì bạn bè hay không, xin đọc ít bài thơ của Trần Hoài Thư:

          Qua Sông Mùa Mận Chín
          “qua sông mùa mận chín/ tháng nắng ngại đường xa/ em ra vườn sau nhà/ hái mời anh chùm mận/ bông mận rơi lấm tấm/ vỏ mận hồng như môi/ Ơi em mắt có đuôi/ má đồng tiền ửng đỏ/ gặp em, người em nhỏ/ nên quên cả đường về/ trái mận nào dậy thì/ anh giữ hoài không cắn”
                                                                                                      (QSMMC – THT- trang  13, 14)

          Đêm Giao Thừa Nằm Giữ Đường Cho Thẩm Thúy Hằng
          “dẫn một đàn con chiều xuống núi/ giao thừa. không ai nhắc mà đau/ giao thừa hai tiếng đâm tâm não/ trừ tịch: poncho gạch gối đầu
         một đêm sao lại buồn như mếu/ muốn nổ tan tành cả cõi đêm/ giao thừa giao thừa ta xuống núi/ làm hiệp sĩ mù giữa u minh/
         giao thừa. ai đó mời ta rượu/ một nhấp, mà hồn tê tái ư/ anh bạn, nghe gì không tiếng nhạc/ người ta đang nhảy đầm, / dụ vũ xuân
         giao thừa mừng tuổi con heo bịnh/ xin của nhà dân làm cỗ xuân/ trung đội lập bàn thờ giữa mả/ ta khấn âm hồn…bảo bọc đàn con”
                                                                                                    (QSMMC- THT- trang 25, 26)

         Người Em Kiên Lương
         “em thị thành chăn vịt/ tôi sĩ quan đào trùn/ gặp em lòng muốn hỏi/ sao miệng đành lặng câm.
          hồ xanh, bèo không thấy/ vịt đói chẳng buồn bơi/ nước hồ như bốc khói/ mây buồn không muốn trôi
          đây phần trùn tôi đào/ hổ,cơm, trâu và đất /đây căn phần người tù/ tôi xin làm tặng vật
          lũ vịt trên hồ xanh/ chen nhau dành mâm cỗ/ em nhìn tôi, ô hay/ cúi đầu đôi má đỏ
          tôi không nghe em nói/ tôi chỉ nghe trái tim/ để đêm nằm biệt giam/ tôi đau vì hạnh phúc”
                                                                                                         (Thơ Trần Hoài Thư trang 6)

         Cuối Năm Trong Quán Cà Phê Mỹ
         “ghé lại  Dunkin gọi cốc cà phê/ cô hàng mắt xanh nhìn ra ngoài cửa/ ngày cuối năm bầu trời
thiếp ngủ/ những nhánh cây gầy gượng chở mùa đông
         cô hàng ơi, đôi mắt quá trong/ sao không thấy lòng tôi quay quắt/ sao không thấy mắt tôi mờ trên chiếc cốc/ nhìn nỗi buồn đặc sệt chưa tan
         vâng người con gái nào cũng mắt tô than/ cũng bí mật như lòng kim tự tháp/ tôi cũng muốn đùa, con chim xứ tuyết/ ngày cuối năm, em lại buồn so/ bắt tôi tội tình lòng dạ để đâu
          ghé lại Dunkin gọi cốc cà phê/ nhớ bạn, ra ngoài đường đốt thuốc/ một chút cay cay xé nồng con mắt/ như khói mù buổi sớm Việt Nam/ cốc xây chừng để lại Qui Nhơn/ chắc sẽ nguội và đọng thành lệ đá/
          trang giấy nợ ta có lần ghi sổ/còn chừa ta một kẻ chạy làng
          thì xin cô hàng một cốc tang thương/ đời cũng đôi lần bỗng thèm chất đắng/ cũng có khi muốn hòa nước mắt/ nhấp theo từng hớp nhỏ héo hon/ của một người thua trận lưu vong”
                                                                                            (Thơ Trần Hoài Thư trang 103, 104)

          Với chỉ bốn bài trích dẫn trên, đã có thể phản ánh được tình yêu, thân phận cuộc đời của một thế hệ thanh niên Việt Nam qua nhiều giai đoạn trong cuộc chiến tranh Việt Nam. Thơ là sự cô đọng tuyệt vời những tâm thức, những hình ảnh. Thơ cũng là nền móng của sự nhớ nhung, hồi tưởng. Giá trị nghệ thuật một phần nằm trong sự chân tình và kỹ thuật. Trần Hoài Thư có đầy đủ cả hai nhu cầu này của thơ. Trong mục giới thiệu Sách Mới của hai tạp chí Văn Học và Hợp Lưu, nhà văn Hoàng Mai Đạt giới thiệu thi phẩm Ô Cửa của Trần Hoài Thư:
          “ Trần Hoài Thư là một nhà thơ, người lính. Tuyển tập thơ Ô Cửa gồm 245 bài thơ về một người lính trong Trần Hoài Thư, cho dù đa số những thi phẩm đã được sáng tác ở hải ngoại sau năm 1975, tức là khi phát đạn cuối cùng đã nổ xong. Người lính trong ông không bao giờ mất. Đọc Ô Cửa người ta sẽ thấy điều này từ đầu cho đến cuối tuyển tập.
         Thơ của Trần Hoài Thư buồn, ngậm ngùi như thân phận của kẻ chiến bại. Trong “Thế Hệ Chúng Tôi” ông viết về những người lính trở về sau một cuộc hành quân: “Khi trở lại trong lòng quán tối / Thuốc vàng tay, và vầng trán đăm chiêu / Thế hệ chúng tôi những đứa đôi mươi / Hồn đã mọc những nụ buồn rất sớm /... Chiếc mũ rừng che nửa mặt âm u / Đôi giày trận bết bê bùn sinh tử.” 
          Người lính nào mà không âm u sau khi chứng kiến cảnh chiến tranh, như trong bài “Trung Đội”: “Con sông chia cắt bờ bi hận / Cột khói còn lưu luyến chiến trường / Có ai chạy loạn bơi xuồng kể / Một thước đi, xác ngập thước đường.”
          Tàn cuộc chiến, người lính già đành chấp nhận một thực tại mới ở xứ người. Bài “Thất Nghiệp” đã có những câu sau, không bi hùng mà chỉ bi hài: “Bây giờ ta thất nghiệp / Nàng vẫn đổ mồ hôi / Ngày xưa thê chờ phu / Bây giờ phu chờ vợ / Ngày xưa thê tựa cửa / Ngày nay phu tựa song / Chờ thê về lập công / Giúp rửa giùm chén bát...” Cho dù tiếng súng đã chấm dứt từ lâu, những ngày quân ngũ vẫn theo sát đời Trần Hoài Thư như “chiếc áo nhà binh cũ mèm” mà ông đã viết trong bài “Người Lính Nhỏ” về con nay đã thành nhân: “Hãy chụp giùm tôi tấm hình với thằng con / Khi tôi mang chiếc áo nhà binh cũ mèm bạc phếch / Cho con tôi hiểu là trong dòng máu lính / Gian khổ nào cũng bất chấp vượt qua.”
                                                                                                                           (Hoàng Mai Đạt)

          Trần Hoài Thư đã in 5 thi phẩm, nhưng trong giới cầm bút cũng như độc giả tôn vinh anh là nhà văn hơn là nhà thơ. Đọc văn anh, nhà văn Lương Thư Trung tìm thấy “chất thơ trong văn phong” anh. Ông viết:
         “…Trần Hoài Thư đã viết cho bạn, viết cho người tình, viết cho vợ, viết cho con, viết cho những thế hệ trẻ, viết cho người nằm xuống cũng như cho cả người còn sống bằng lương tâm của một người lính còn may mắn sống sót sau khi khi chiến tranh tàn lụi . Trần Hoài Thư viết mà như tha thiết kêu gào loài người nói chung và lịch sử Việt Nam cận đại nói riêng, hãy trả lại danh dự cho những người lính trận, những lao công đào binh, những thương binh, những anh linh tử sĩ đã hơn một lần hiến dâng đời mình cho quê hương xứ sở. Những tiếng kêu gào ấy không phải là những tiếng la hét đinh tai, nhức óc mà Trần Hoài Thư thì thầm, nói mãi, nói hoài bằng con tim thương yêu người lính một cách chân thật, bằng cả cái hồn thơ của một tâm hồn nghệ sĩ. Tiếng kêu gào ấy có lúc tưởng chừng như nổi giận nhưng cả cái hồn thơ giàu chất lãng mạn, tác giả đã mang lại cho những tác phẩm của ông trở thành một cái nơi chốn ấm êm của những mảnh hồn đồng điệu, của tâm tình, của thương xót, của cảm thông, của rộng lượng, của tình người ...
          Xin mời bạn thử mở ra bất cứ truyện ngắn nào của Trần Hoài Thư trong số 94 truyên ngắn trong bốn tác phẩm vừa kể, ngoài những mẩu đối thoại, còn lại bạn có thể ngắt những câu và rồi xếp lại bằng cách xuống dòng ở những chỗ đáng xuống dòng, bạn sẽ không khỏi ngạc nhiên những đoạn văn xuôi này lại mang vào thân xác nó cái hồn thơ của Trần Hoài Thư tự lúc nào . Để nhận ra cái chất thơ trong văn phong của Trần Hoài Thư, chúng tôi xin nêu ra vài ví dụ. Chẳng hạn, để mở đầu truyện ngắn Bãi Chiến, Trần Hoài Thư viết về bãi chiến năm xưa qua hình bóng trở về của người goá phụ dẫn con kiếm tìm ngôi mộ của chồng, của cha, mà hồn chữ nghĩa của nhà văn đã làm bãi chiến năm xưa hoang vắng cũng ngậm ngùi như đang cùng với lòng người goá phụ hoà nhập vào cảnh vật để mà tưởng vọng, chiêu hồn anh linh tử sĩ đang phảng phất đâu đây "đời đời, kiếp kiếp" :
          "Người thiếu phụ ấy đã trở về chốn cũ,
          Chốn cũ nào đây ?
          Di tích năm xưa như những ngọn cỏ ngậm ngùi ...
          Rừng vẫn ở cuối tầm nhìn,
          Vẫn mênh mông ngàn năm sương và khói ...
          Và cỏ dại vẫn bạt trùng...
          Và đất vẫn đậm đỏ cùng những vũng nước đọng như đời đời kiếp kiếp..."
                                                                                                               (RBGT trang 15)

          Nhà văn Lương Thư Trung tiếp tục dẫn chứng nhiều ví dụ cụ thể khác để đi đến kết luận:
         Tóm lại, người đọc đến với tác phẩm của Trần Hoài Thư ngoài những truyện ngắn của một nhà văn viết về chiến tranh để biết đến thân phận của những người lính trận giữa đạn bom, chinh chiến với những bi thảm, hãi hùng của lằn ranh sống chết của con người trong khói lửa, người đọc còn thưởng ngoạn một bút pháp đặc biệt của tác giả nữa . Một bút pháp rất giản dị, không nhằm làm dáng chữ nghĩa, không cầu kỳ gọt giũa mà tự nhiên phát tiết từ tâm hồn nghệ sĩ lãng mạn của mình . Đó là chất thơ trong văn phong Trần Hoài Thư . Có thể nói cái chất thơ trong văn phong của Trần Hoài Thư đã góp phần không nhỏ làm cho tác phẩm của tác giả đến với nhiều người đọc khắp nơi trong vòng hơn ba mươi năm qua . Và dĩ nhiên, cái văn phong đặc thù này đã cho phép người đọc nhận ra Trần Hoài Thư đã tạo được cho mình một lối viết mới mẻ, độc đáo trong ý hướng làm mới văn chương vậy !”
                                                                                         (Lương Thư Trung, Ngày 14-8-1999)
       
          Tôi và Trần Hoài Thư gần như không liên lạc với nhau sau khi rời trường Bộ Binh. Nhưng tình bạn văn đúng thật là một thứ tình đặc biệt. Xa mà vẫn gần. Sơ mà vẫn thân. Chỉ cần gặp một đôi lần, thậm chí chỉ liên lạc qua thư từ đã có thể khó quên nhau. Ngày 10 tháng 02 năm 1986, tôi nhận được thư của Trần Hoài Thư gởi từ Philadelphia, Hoa Kỳ. Chữ Thư viết rất giống nét chữ của nhiều vị bác sĩ viết trên đơn thuốc, khá khó đọc. Thư không dài nhưng đủ để cho tôi có thêm một điểm trao đổi tâm sự. Ngoài những thông tin, tình cảm của người bạn cũ, trên mặt giấy còn có đôi dòng thăm hỏi của Mme Trần Hoài Thư, (ghi đúng lại chữ dùng trên thư) thật vô cùng ấm áp. Thời gian tiếp theo sau, chúng tôi liên lạc thư từ khá đều. 

         Lúc bấy giờ gia đình Trần Hoài Thư đang ở miền Bắc New Jersey, nơi anh than “hẻo lánh, cô độc, thiếu báo chí đọc…” Anh vẫn nhớ đến những Lâm Chương, Nguyên Sa, Lưu Trung Khảo, Trần Sơn Hà, Phan Nhự Thức… và không quên nhắc đến cây Pilot mà anh được tướng Lâm Quang Thi trao tặng trong quân trường. Trần Hoài Thư vẫn sống bằng rất nhiều kỷ niệm thời ở KBC 4100. Anh vẫn hình dung ra tôi: … “gầy ốm, đen đúa bên tay Mê Kung, mặt đỏ gay vì rượu”. Có lẽ đây là hình ảnh Trần Hoài Thư bắt gặp khi tôi đi nhậu ở khu gia binh Thiết Giáp. Nhắc lại thời đã qua để nuôi mộng sinh hoạt cho những ngày sắp tới. Chúng tôi nghĩ đến việc dựng lại vóc dáng tờ nguyệt san Bộ Binh nơi xứ người. Dĩ nhiên sự việc chẳng đi đến đâu. Nhưng ít ra chúng tôi đã khích lệ lẫn nhau sáng tác. Năm 1987, gia đình Trần Hoài Thư đến thăm thành phố Montréal. Tôi cùng Lý đưa đón và hướng dẫn anh chị thăm viếng quê hương thứ hai của chúng tôi. Sự eo hẹp tài chánh đã không thể giúp chúng tôi đưa gia đình anh thăm viếng một số nơi thu hút khách du lịch. Cùng với nhà thơ Lưu Nguyễn, chúng tôi và gia đình Trần Hoài Thư vẫn chỉ loanh quanh trong Jardin Botanique, lên đồi Mont Royal, đếm bước lên nhà thờ Saint Joseph, chạy vòng các ngã phố rất ư là Sài Gòn: Saint Denis, Sainte Catherine, Côte Des Neiges…Và ngắm những chú ngựa với yên cương sặc sỡ ở khu Vieux Montréal… Chị Nguyễn Ngọc Yến rất thích khu vực cây nhiệt đới trong vườn hoa thành phố. Chị trầm trồ từng nhánh bông. Chị ca ngợi từng dáng lá lạ mắt. Trần Hoài Thư ít khi bày tỏ những cảm nhận, thưởng ngoạn của anh. Đi đâu, đứng đâu, anh cũng đem chuyện thơ văn ra làm đề tài. Tôi gặp lại sự nhiệt tình kỳ lạ dành cho văn chương, chữ nghĩa trong người Trần Hoài Thư. Sau chuyến thăm viếng này, thư từ giữa chúng tôi càng đều đặn hơn. Điều đặc biệt là chị Yến viết cho Lý chiếm đa số. Chữ viết của chị Yến rất đẹp, thanh, thẳng vững chãi hơn chữ của ông chồng văn sĩ rất nhiều. Tuy gọi vợ tôi bằng chị theo xã giao, nhưng chị dành cho Lý những thăm hỏi, săn sóc như một người chị. Tuổi đời lẫn kinh nghiệm sống của chị vượt trội hơn Lý một chút. Trong thư, chị vẫn thường bắn tiếng mời chúng tôi sang chơi cùng những hứa hẹn: “…sẽ có dịp đưa anh chị, các cháu tới New York, Philadelphia và vùng New Jersey đầy màu xanh của cây cỏ …”
 
          Ngày 19 tháng 5 năm 1992, chị Nguyễn Ngọc Yến lái xe đưa anh Trần Hoài Thư sang Montréal tham dự buổi ra mắt tác phẩm Chân Dung Thơ Luân Hoán, mở đầu cho những lần hiện diện của Trần Hoài Thư trong các sinh hoạt ra mắt sách, diễn thuyết của anh em bạn văn Montréal sau này, và lần nào anh chị cũng ghé thăm người bạn chiến sĩ cụt chân cùng một quân trường cũ.

          Hạ tuần tháng 7 năm 1993, gia đình chúng tôi cũng đua đòi rủ nhau đi tắm biển. Virginia Beach của Đại Tây Dương là bãi tắm chúng tôi chọn. Trên lộ trình đường bộ, chúng tôi có dịp ghé thăm gia đình Trần Hoài Thư. Lúc bấy giờ gia đình Thư Yến đã dọn về nhà mới trên đường Coolidge vùng Plainfield tiểu bang New Jersey.  Chúng tôi đến nơi vào buổi chiều, còn kịp giờ nhận lời mời của chủ nhà đi dùng cơm tối tại một nhà hàng. Trong cái nao nức gặp lại, anh chị Thư đã vội vã đưa chúng tôi chạy lang thang qua nhiều đường phố, giới thiệu vài nơi đặc biệt của nơi mình định cư. Chị Yến vẫn giữ tay lái như chuyến đi qua Montréal trước đây. Chị cưng ông chồng nhà văn, mang độ cận thị khá cao. Trên đường đi câu chuyện linh tinh rôm rả. Tiếng cười tiếng nói giúp chúng tôi hết mệt mỏi sau mấy ngày ê ẩm ngồi xe. Chị Yến không quên giới thiệu xa lộ Ma rốc và giải thích ngay danh xưng này, khi chúng tôi có thắc mắc. Hóa ra tên gọi này do chính anh chị đặt ra theo thuật nói lái của ngôn ngữ Việt Nam. “Ma Rốc” để gợi cái hình ảnh “móc ra” liên tục những đồng tiền kẽm phải bỏ vào nhiều trạm thu trên con đường đang đi qua. Chị Yến còn hứng thú rủ ghé thăm một sòng bài. Nhưng khi nghe khoảng cách và thấy vẻ mệt mỏi của Sách, chúng tôi đề nghị dời lại hôm khác.

          Ngôi nhà của gia đình ba người Thư, Yến, Thoại thuộc dạng nhà riêng, một tầng lầu. Nơi thờ Phật và gia tiên an vị trên này. Đêm chúng tôi có mặt, cả gia đình Trần Hoài Thư đều rút lên ngủ cùng với linh vị ông bà, nhường phần trệt cho gia đình chúng tôi. Sáng hôm sau, theo thói quen, tôi thức dậy sớm, không có gì làm, lười đọc báo, tôi loanh quanh quan sát cái ổ hạnh phúc của bạn mình. Phòng khách lót thảm màu xám tro. Ghế salon mệm nhung dày màu mỡ gà . Bàn nước mặt kính. Sát chỗ tiếp khách, một kệ gỗ khá rộng, vững chắc đỡ chiếc máy tivi màu, 27 inch hiệu Hitachi và cái Vidéo casette recorder Hi Fi Stereo cùng hiệu. Đứng hai bên dàn máy trong cùng bộ kệ bóng màu gỗ này là những tác phẩm của nhiều tác giả khác quốc tịch nhau, được sắp xếp trang trọng. Trên đầu kệ, ngay ngăn chứa sách, một đồng hồ để bàn có một chùm bốn quả lắc đang đong đưa. Kế cận cái đồng hồ đang thở là một lẵng hoa cúc vàng chen hồng đỏ, lá xanh. Hoa giả, không hương nhưng toát ra vẻ tươi mát. Một đĩa sứ hình ovale dựng đứng, phơi rõ bản vẽ hình người mẹ bồng con. Trên mặt kệ này còn có hai lá cờ Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng Hòa, có trụ đàng hoàng, dựng sát nhau, gợi lại tình đồng minh một thuở.  Trần Hoài Thư không treo họa phẩm của các họa sĩ Á đông. Anh treo một bức họa phong cảnh khá lớn. Trên một vách hẹp hơn, chân dung Trần Hoài Thư trong áo mũ tốt nghiệp đại học, đứng ôm cháu Trần Quí Thoại thời chưa quá 13.Văn bằng của Trần Hoài Thư cũng được đóng khung treo kề bên. Vách treo ảnh này tôi có đứng chụp chung với bạn tôi một tấm ảnh. Thời này tôi chưa nuôi râu, 52 tuổi nhưng coi bộ rất thanh niên, xấu trai. Trần Hoài Thư tươi cười, tóc thưa thớt, có chiều cao nhưng vẫn thiếu mỡ và thịt. Tôi bắt gặp một bộ ấm trà màu gan gà xinh xắn. Bạn tôi thích cà phê hơn trà kia mà. Có lẽ đây là thú chơi dặm chăng ? Tôi lần ra hiên sau. Mái hiên hình chữ nhật khá rộng, đã được rào chắn để trở thành một cái phòng. Mặt tiếp giáp với khu vườn được chắn bởi tấm mắt cáo lớn, mang hình ảnh nhà quê Việt Nam. Khu vườn chỉ rộng vừa đủ thực hiện cái thú của các danh nho Nguyễn Khuyến, Dương Lâm ngày trước. Tôi vui mừng gặp lại cái võng của một thời xa xưa, được Trần Hoài Thư mắc trong hiên. Tôi ngả lưng lên đó, chống chân đong đưa, mắt nhìn ra vườn. Tôi bắt gặp những bụi cây xanh đang nở hoa. Tôi không phân biệt được tên những loại hoa, chỉ thấy vui vui vì những màu rực rỡ của chúng. Một cặp sóc tinh nghịch đuổi nhau như muốn làm tình. Một con chim rất lạ ghé xuống bồn nước trang trí trong một góc vườn. Từ cánh chim bay, tôi bàng hoàng phát hiện một bụi trúc mảnh khảnh, nhỏ nhoi nhưng đậm đà thân tình. Tôi rời võng, đến nâng niu từng lá trúc. Vóc dáng quân tử của dân tộc tôi đây, tôi tưởng chừng như mình rưng rưng nước mắt. Lý, vợ tôi cũng vừa thức dậy. Cô ra hiên và cũng lại ngả lưng lên võng. Tôi trở vào hiên, nắm một đầu võng đẩy. Lý vờ lim dim. Chung quanh im vắng mà tôi nghe ra ca khúc Ngậm Ngùi của Phạm Duy phổ từ thơ Huy Cận. Trong suốt cuộc hành trình rong chơi của tôi, phút giây này có lẽ là linh hiển nhất. Cảm ơn anh chị Trần Hoài Thư, cảm ơn ngôi nhà xinh xinh trên xứ Mỹ, phảng phất nét Việt Nam.

         Tại ngôi nhà của vợ chồng Trần Hoài Thư, tôi còn có dịp bâng khuâng, nhớ nhung lại một thời ấu thơ. Điểm gợi nhớ này nằm ở cái mặt tiền. Phía trước ngôi nhà của Thư có một khoảng không gian rộng rãi, thông thoáng. Những tấm ván lắp ghép bao bọc vách tường, những máng xối, cả những mái che cửa sổ khá mỹ thuật, được sơn trắng có viền xanh thanh nhã. Tiếp với cửa vào nhà là mái hiên có gắn đèn soi, lan can sắt. Những hình ảnh chung chung rất Mỹ này đâu có thể đẩy trí nhớ tôi lùi năm mươi năm, nếu không có cái tổ chim nằm nửa kín nửa hở trong mái hiên. Anh chị Trần Hoài Thư có lẽ cũng thích chim bướm. Cảm ơn anh chị đã không phá đi cái ổ tình nhỏ bé này. Những con chim con, không rõ thuộc giống gì, nhưng qua tiếng kêu khe khẽ của chúng, tôi đoán ra, chúng đang thời mọc lông cánh. Thư cũng kể cho tôi nghe về tổ chim này. Theo anh đã có mấy lứa “ra ràng” bay vào cuộc đời. Nhìn tổ chim ở nhà Trần Hoài Thư, tôi không thể không bức rức vì đã một lần phá nát một gia đình bồ câu. Lần đó, chỉ mới qua vài ba năm. 

         Sau khu nhà tôi ở trên đường Barclay, Montréal có nhiều cây cao, bóng mát, ngăn cách giữa khu chung cư  tôi ở với dãy nhà của người Do Thái. Trong đám cây có khá nhiều loại chim và sóc sinh sống. Tôi bắt gặp chào hỏi, nuôi ăn chúng mỗi ngày. Những loại chim tôi nuôi, như yến, manh manh, yến phụng…thỉnh thoàng tôi cũng đưa chúng ra hiên sau cho tắm nắng. Hiên không rộng và có cầu thang xuống sous sol, phòng giặt chung. Trong gần một tuần lễ, tôi bắt gặp một cặp bồ câu thường ghé qua hàng chấn song mái hiên mình, nghiêng đầu, ngó chỗ này, nhìn nơi kia ngẫm nghĩ.  Có chút ít kinh nghiệm nuôi chim, tôi biết ngay đôi chim đang tìm ổ đẻ. Tôi ra nhìn trần hiên, vách tường. Không chọn được điểm nào thích hợp. Cuối cùng tôi quyết định phỉnh Lý đi mua một cái kệ sắt, gồm năm ngăn, không vách, loại kệ thường dùng ở garage để đựng phụ tùng linh tinh. Lý tin tôi dùng nó trong việc để những vật dụng ít khi xài tới mà không sợ hư hỏng, cùng những hộp nhựa đựng kẹp phơi áo quần. Kệ sơn xám, tuy bằng sắt nhưng khá nhẹ nhàng, tôi kê ngay ra hiên và cũng tìm ngay một thùng carton lớn vừa phải để làm tổ chim. Tôi dùng vài chiếc áo vải mỏng của vợ tôi lâu ngày không mặc, cắt ra thành sợi, lót thay những cọng rơm. Tôi cũng tìm thêm một ít lá cỏ khô, và bứt một ít cọng chổi để lót chung. Tôi đặt tổ trên đầu kệ sắt, sát vách tường, cẩn thận cột giây thép và ngụy trang vài cục đá ở ba mặt cho có vẻ tự nhiên. Vẫn mát tay như lót ổ chim nuôi, đôi bồ câu chỉ mấy giờ sau là ghé lên thăm viếng, rồi rủ nhau sửa sang lại chút đỉnh. Tôi đặt máy Handycam vidéo 8 sony để theo dõi. Dĩ nhiên Lý đã biết ý đồ của tôi nhưng rất vui vẻ hưởng ứng. Tổ ấm này sau đó trở thành chỗ cư ngụ của gia đình cặp chim đến mấy năm. Nhiều lứa chim con ra đời. Đôi chim cha mẹ đã khá dạn dĩ. Vào một ngày mùa nắng, tôi bắc ghế quan sát, nhận thấy tổ chim đã bị hư hỏng nhiều vì tuyết, mưa tạt vào. Tôi  dọn vệ sinh. Lúc dọn không vấn đề gì xảy ra, nhưng khi vào nhà rửa tay, tôi phát hiện trên da thịt, mặt mũi mình bám đầy những con mạt bé li ti (một loại bọ nhỏ ở lông vũ hoặc rơm rạ). Ngứa ngáy bắt đầu. Tôi tắm liên tục vẫn không thấy hết. Những ngày tiếp theo, Lý ra hiên phơi áo quần cũng bị những con mạt tấn công vì đã động ổ. Lý cằn nhằn mấy hôm dẫn đến việc tôi ngậm ngùi giỡ đi ổ chim, đưa tạm ổ trứng chưa nở ra một cành cây thấp. Đôi chim câu lui tới cả tuần trên đầu kệ sắt, ngơ ngác, bàng hoàng. Để dẹp hy vọng của chúng, tôi dẹp luôn cái kệ, và kéo màn cửa sau đến mấy ngày, khi tôi xuống bếp.
          Qua một đêm ngủ lấy hơi, chúng tôi được vợ chồng Trần Hoài Thư lái xe theo đến thủ đô thế giới, thành phố New York. Đây là lần đầu tiên chúng tôi đến thành phố lớn nhất trên mặt đất này. Thăm và chụp ảnh nhiều nơi tại khu phố Manhattan, trung tâm mậu dịch quốc tế World Trade Center New York…và khu phố Tàu. Anh chị Trần Hoài Thư hướng dẫn và giải thích cho cho tôi nhiều điều hiện diện tại Nữu Ước. Điểm đến tiếp theo của chúng tôi là thành phố Baltimore để thăm nhạc sĩ Vĩnh Điện. Sau một đêm tâm sự, tác giả ca khúc Vết Thương Sỏi Đá đưa chúng tôi qua thăm thủ đô Hoa Kỳ, Rồi từ Washington chúng tôi đến thành phố Burke của Virginia để thăm gia đình họa sĩ Đinh Cường. Tại đây chúng tôi tình cờ được tháp tùng nhà văn Nguyễn Thị Hoàng Bắc, ký giả Bùi Bảo Trúc tham dự chớp nhoáng  một buổi ra mắt sách, trước khi đi đêm xuống vùng biển Virginia Beach. Trên đường về chúng tôi ghé sòng bạc Atlantic, rồi lang thang qua một số thị trấn khác dọc theo xa lộ trước khi về nơi có tổ chim bồ câu đã bi tháo bỏ.
        
          Liên tiếp hai mùa hè kế chúng tôi thăm các sở thú, mùa hè năm 1995, chúng tôi đến bãi biển Wildwood Beach và trên đường về, chúng tôi ghé qua đêm tại nhà anh chị Trần Hoài Thư lần thứ hai. Giao tình tốt đẹp giữa chúng tôi suýt bị phá hỏng bởi chuyện ra mắt sách. 

         Năm 1996 Trần Hoài Thư phát hành cuốn truyện Ra Biển Gọi Thầm. Tuy không đề nghị, nhưng nếu có người tổ chức sách ra mắt tại Montréal Trần Hoài Thư sẽ rất vui. Điều đáng tiếc là các bạn văn Montréal gần như đuối sức sau buổi ra mắt tập thơ của anh Tô Thùy Yên, nên đành phải lặng lẽ trước tác phẩm mới của một người bạn đầy chân tình với Montréal. Cá nhân tôi, ngoài cái tên đứng ké với anh em trong những lần tổ chức, không làm nên trò trống gì. Tôi tự thẹn với Trần Hoài Thư vì những buổi ra mắt sách cho Thụy Khanh, Nguyễn Văn Ba, Nguyễn Tấn Hưng, Du Tử Lê, Dương Kiền, Mai Kim Ngọc…Rất may, Trần Hoài Thư được một người bạn khác đề nghị, dùng phòng khách của anh ta để ra mắt sách. Buổi Trần Hoài Thư ký sách tặng bạn bè, bạn đọc đó nhằm  vào đêm 29 tháng 6 năm 1996. Buồn và có quan hệ không mấy tốt với người bạn tổ chức cho Thư, tôi đã không có mặt trong buổi sinh hoạt ấy. Nhưng với sự bao dung, anh chị Trần Hoài Thư vẫn vượt hàng trăm cây số để đến với gia đình chúng tôi trong cuộc vui nhân ngày vu qui của cô con gái Lê Ngọc Thạch Bích, hôm 15-7-1996.

          Chúng tôi vẫn thường xuyên thăm hỏi nhau qua điện thoại, rồi điện thư. Trần Hoài Thư trở nên bận rộn suốt ngày vì vừa sáng tác vừa làm báo, in sách. Tôi có cảm tưởng như anh ăn ngủ cùng sách báo, mực in, máy nướng, máy cắt trong từng giây phút. Trong thời gian này, tôi cũng ham chơi internet nên chẳng đóng góp được gì cùng công việc đầy ý nghĩa của anh. Gần đây nhất, qua nhà thơ Uyên Hà, họa sĩ Nguyễn Nho Châu, em trai nhà thơ Nguyễn Nho Sa Mạc có cho phép tôi in thi phẩm Vàng Lạnh, gia tài của Nguyễn Nho Sa Mạc để lại. Đây là cơ hội ngàn vàng để tạ tình một người bạn thân mệnh yểu, nhưng vì nhiều điều kiện trở ngại, tôi đành bán cái cho anh Trần Hoài Thư cùng cơ sở Thư Ấn Quán của anh lo. Không ngờ, chỉ trong một thời gian rất ngắn, Trần Hoài Thư đã hoàn thành dự định thật tốt đẹp, kịp thời điểm phát hành trong ngày giỗ lần 43 của Bửu, bạn tôi. Sự thành công trong chủ trương làm giàu Tủ Sách Di Sản Văn Chương Miền Nam của Trần Hoài Thư  quả thật phụ thuộc vào tấm lòng yêu chữ nghĩa, yêu văn học nghệ thuật của anh.

          Ngồi ghi lại những dòng kỷ niệm này, tôi như thấy ngay trên phím chữ trước mặt, hình dáng một người bạn biết nói, biết nghe, vừa phải chững chạc. Có nhiệt tình, có trầm tư chín chắn trong mỗi một sinh hoạt. Trần Hoài Thư không bốc đồng, ba phải như tôi. Có thể ảnh hưởng môn toán anh từng theo học, nên anh có những tính toán rất hợp lý. Là một sĩ quan chỉ huy đám khinh binh, nên anh khéo sắp xếp những vị trí công tác, và điều hành trôi chảy. Tôi suy ra điều này khi nhìn vào sự thành công nhịp nhàng của tờ báo Thư Quán Bản Thảo và cơ sở xuất bản Thư Ấn Quấn mỗi ngày một phát triển, nhận được sự tin cậy từ các bạn văn trong và ngoài Việt Nam. Thư Quán Bản Thảo, Thư Ấn Ấn Quán, tên gọi nào cũng ấm cái hình ảnh của Sách, của Trần Hoài Thư. Một người như vậy dễ gì suốt đời không biết quí sách ?

          Tôi đã vài lần viết tặng Trần Hoài Thư đôi câu thơ. Dù vẫn không như ý, cũng xin chép lại ở đây, như một tài liệu:         
         “Kéo quân qua quất bạn hiền/ xa lộ “ma rốc” đêm nghiêng ngả cười/ đời vui nhờ cảm biết vui/ cảm ơn trời đất nuôi người thành tâm”
          “Thân khô ngay từ thuở/ Thủ Đức Gọi Ta Về/ tha thiết tình sông núi/ nuôi thơm lời nguyện thề/ trên từng vuông trang chữ/ mặt trận vẫn cận kề/ chẳng phải vì hiếu chiến/ phải chăng hận xa quê ?”
          “ nắng sót một chùm trên tóc khô/ mà thơm nguyên cả thuở giang hồ/ dang tay ôm lại tình huynh đệ/ quí sách, nằm quên nghĩ đến thơ…”
          “ông thầy mỏng mảnh như lau sậy/ khói lửa oằn thêm sức bật thôi/ đôi vết sẹo cuồng thêm thắm mặn/ gánh văn đi dạo dọc theo đời/ sau lưng thấp thoáng nàng Thị Lộ/ thương chàng Quý Sách ghé vai thơm”
        
22-01-2007

1   2    3


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét