Thứ Năm, 15 tháng 7, 2010

Thực Phẩm Việt Nam

Mai Thanh Truyết

Kỳ 3 (Tiếp theo và hết)

(Loạt bài này trích từ cuốn sách “Những vấn đề môi trường và phát triển Việt Nam” của Tiến sĩ Mai Thanh Truyết, sẽ phát hành vào cuối băn 2010)


Hormone trong thực phẩm ở Việt Nam

Trở qua Việt Nam, như đã nói ở phần trên, sự kiện xảy ra ở Phan Thiết là một cảnh báo chung cho người tiêu thụ cần quan tâm đến cung cách “làm ăn” của những con buôn thiếu lương tâm hiện diện đầy rẫy trong hầu hết mọi lãnh vực ở Việt Nam dưới nhiều hình thức khác nhau.

Vào năm 2006, sự việc xảy ra trên đây được phát giác nhờ vào sự quan tâm của phụ huynh có con em gửi học tại trường Mầm Non Thanh Nguyên II từ hai tháng qua. Các cháu học ở đây đều có dấu hiệu tăng cân nhanh một cách bất thường. Do đó phụ huynh đã báo cáo lên Sở Y tế Phan Thiết. Sau đó, Trung tâm Y tế dự phòng tỉnh mới đến kiểm tra trường và lấy mẫu thức ăn trưa của các cháu để xét nghiệm. Kết quả cho thấy trong 5 mẫu thức ăn, có đến 4 mẫu chứa hàm lượng đáng kể hoá chất Dexamethasone. Đây là một dạng kích thích thuộc loại corticoid. Số lượng được tìm thấy là 0,12 mg/Kg trong canh, 0,19 trong thịt sốt cà, 0,15 trong tôm sốt me, và 0,27 trong canh hầm xương.

Dexamethasone là một loại hormone (diếu tố) kích thích có chứa nguyên tố Fluor. Chúng có thể được dùng trong dược phẩm vì có tính chống viêm. Tuy nhiên chất nầy rất hiếm được bác sĩ kê toa vì những tác dụng phụ rất đa dạng có thể làm xáo trộn nhiệm vụ của một số bộ phận trong cơ thể. Về phương diện hoá học, chỉ cần 1 mg/kg của hóa chất nầy cũng có thể gây tử vong cho chuột. Khi bị tiếp nhiễm dài hạn, con người có thể bị loét dạ dày, xuất huyết đường ruột, mục xương, tăng áp huyết v.v…

Tuy nhiên có một tác dụng khác của Dexamethasone là làm tăng cân nhanh giả tạo vì chúng có tính giữ nước trong các tế bào của cơ thể. Chính vì lý do nầy mà Ban quản lý của trường Mầm Non trộn lẫn Dexamethasone vào thức ăn với mục đích làm tăng uy tín của trường để thu hút và thuyết phục phụ huynh học sinh gửi con đến học. Học phí nơi đây tương đối cao khoảng 500 ngàn đồng/tháng/em. Và chủ cơ sở nầy đang dự định mở thêm một trường khác nữa lớn hơn trường hiện tại nhiều lần.

Như vậy việc trộn lẫn hoá chất kích thích vào thức ăn chỉ là một phương cách tranh thương của “con buôn” mà không nghĩ đến tác động về lâu và về dài. Và việc xử phạt hành chánh của các nhà quản lý ở Phan Thiết chỉ là một hình thức phạt vạ. Và chính hình thức nầy khiến cho phụ huynh học sinh bất bình vì đây là một cơ sở giáo dục có mục đích đào tạo mầm non cho đất nước, và người chủ trường cũng là một cán bộ đáng kính làm trong ngành giáo dục lâu năm. Đây là một việc không những gây tác hại cho trẻ em mà còn gây ra những tác động dây chuyền tiêu cực đến xã hội trong hầu hết các lãnh vực phát triển khác của quốc gia nầy.

Nơi đây cũng cho chúng ta thấy thêm một não trạng mới của những người cầm quyền ở Việt Nam là bỏ qua, thậm chí còn bao che những việc làm sai trái của gian thương, nhất là các gian thương đó là thành phần cốt cán hay là đảng viên phục vụ đắc lực cho chế độ như trường hợp điển hình trên. Nhà cầm quyền Phan Thiết đã cho qua cầu vụ án nầy vì bà Đào Thị Dung, Giám đốc trường mà cũng là tỉnh uỷ viên của tỉnh Phan Thiết với lý do… việc lấy mẫu thức ăn không đúng quy cách!?

Được biết, trước đây, một bác sĩ ở Sài Gòn đã cho trẻ em sử dụng hóa chất nầy với mục đích làm tăng cân nhanh để lôi kéo bịnh nhân đến khám. Sau khi bị khám phá, vị bác sĩ nầy đã bị rút giấy phép hành nghề mở phòng mạch.

Tóm lại, qua hai sự kiện vừa kể trên xảy ra ở Trung Cộng và Việt Nam, một bài học lớn cho chúng ta thấy là, não trạng của những người cầm quyền trong một nhà nước độc tài, độc đoán thường có một điểm chung duy nhất. Đó là chạy theo lợi nhuận trước hết và không cần biết đến những hệ luỵ kéo theo từ những việc làm sai trái.

Hệ quả tiêu cực có thể xảy ra tức thời hay hàng chục năm sau, hay hơn nữa qua những kế hoạch phát triển không đồng bộ với công cuộc bảo vệ môi trường của Việt Nam và TC.
Thực ra trong vấn đề môi trường Việt Nam, đặc biệt là việc tiếp nhiễm hóa chất độc hại trong môi trường và thức ăn đã được Hội Khoa học & Kỹ thuật Việt Nam (VAST) nêu lên suốt hơn 10 năm qua. Nhưng nay, tình trạng ngày càng trầm trọng hơn điển hình qua sự việc xảy ra ở trường Mầm Non và đây chỉ là một trường hợp được khám phá ra mà thôi. Trên tòan quốc có thể còn nhiều trường hợp vi phạm như trên chưa được khám phá!?

Mức tác hại của vấn đề quá lớn và cần phải được theo dõi trong một thời gian dài. Hậu quả trước mắt của việc dùng kích thích tố nầy là làm giảm thiểu mức tăng trưởng chiều cao của trẻ em. Tuỳ theo liều lượng và thời gian xử dụng, Dexamethasone sẽ làm mất chất vôi trong xương, làm loãng xương, ngoài ra còn có nhiều phản ứng phụ như trẻ em bị tăng áp huyết, rối loạn tinh thần, bị giảm sức đề kháng, do đó khả năng bị nhiễm trùng rất cao. Đây là một trường hợp pha trộn trực tiếp hóa chất vào thức ăn. Ngoài xã hội, vẫn còn có vô số trường hợp ảnh hưởng gián tiếp qua thực phẩm chứa hóa chất độc hại trong chăn nuôi và trồng tỉa không bị khám phá nữa.

Chúng tôi muốn nói đến sự nhiễm độc qua đường thực phẩm, nghĩa là các loại hoá chất kích thích tăng trưởng hay tăng trọng trong rau quả và gia súc đã được các nhà trồng tỉa, chăn nuôi trộn lẫn vào thức ăn cho gia súc hay nước tưới cho cây trồng. Do đó con người bị tiếp nhiễm gián tiếp qua thực phẩm chứa các hoá chất độc hại trên. Đối với rau quả, hóa chất độc hại thường được sử dụng là 2,4-D và 2,4,5-T là hai thuốc diệt cỏ trong chất Da cam, và các hóa chất dioxin-tương đương khác như DDT, và các loại thuốc diệt trùng, trừ sâu rầy, trừ nấm mốc v.v.. . Đối với gia súc như heo, gà, vịt, hóa chất kích thích tăng trưởng ngoài Dexamethasone, người chăn nuôi thường sử dụng là Clenbuterol. Chất sau nầy ảnh hưởng lên sức khỏe người tiêu dùng rất nặng vì đây là thêm mầm mống của bịnh ung thư cho con người rất cao. Trong một đợt kiểm tra vào tháng 6/2006 do Chi cục Thú y Sài Gòn cho biết, trong 500 mẫu thịt heo ở các lò mổ và thịt bày bán ở các chợ, có gần 30% mẫu có dương tính với Clenbuterol.

Hiện tại, chất sau nầy được ưa dùng hơn Dexamethasone vì heo trước khi xuất chuồng ba tuần lễ, được ăn thức ăn có chứa Clenbuterol theo tỷ lệ 1 kg/tấn thức ăn. Sau đó heo sẽ tăng trọng lượng rất nhanh, heo 3 tháng tuổi có thể cân nặng 1 tạ thay vì cần phải 5 tháng nếu nuôi theo phương pháp thông thường. Đặc biệt hơn nữa, khi dùng hóa chất nầy, thịt heo sẽ ít mỡ rất bắt mắt khách hàng. Tại Việt Nam, từ năm 2002 Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn đã ra quyết định cấm xử dụng Clenbuterol trong gia súc, nhưng phương pháp nầy vẫn còn được một số nhà chăn nuôi áp dụng nhứt là trong thời điểm giáp Tết 2010. Nên nhớ, trước kia heo còn được cho ăn phân urea hai tuần trước khi xuất chuồng, vì làm như thế heo sẽ tăng thêm khoảng 15 – 20% trọng lượng.

Trước những tin tức dồn dập về nhiễm độc thực phẩm, đặc biệt ở những quán ăn tập thể cho công nhân viên chức qua sự chăn nuôi và trồng tỉa không “tử tế” của gian thương, và hơn nữa trước những sự hành xử thiếu đạo đức của những nhà làm giáo dục như trường hợp đã xảy ra ở trường Mầm Non Thanh Nguyên II, vấn đề được đặt ra là cần phải giải quyết tận gốc. Việc kiểm dịch ở các lò mổ hay ở các chợ chỉ có thể phát hiện và xử lý kịp thời đối với các sản phẩm động vật bị dịch. Còn đối với các loại kích thích tăng trọng cần phải lấy mẫu xét nghiệm. Và khi có kết quả dương tính thì số lượng thực phẩm đó đã được tiêu thụ hết rồi, và dĩ nhiên số người đã bị nhiễm cũng không nhỏ.

Vì vậy việc giải quyết tận gốc là cốt lõi của vấn đề. Vì Việt Nam không có khả năng chế tạo ra các hoá chất kích thích trên, cho nên phải nhập cảng. Kiểm soát hay chấm dứt việc nhập cảng các hóa chất trên từ Trung Cộng là một hình thức ngăn chận được một phần nào mức lạm dụng của gian thương.

Dĩ nhiên là công việc không dễ dàng. Nhưng nếu có quyết tâm, Việt Nam có thể làm được việc trên qua con đường giao thương chính thức với nước ngoài.

Nhưng một tệ trạng khác nữa là nạn buôn lậu qua đường biên giới, đặc biệt là biên giới phiá Bắc. Cho đến hôm nay, người Việt ở trong nước đều biết rành rọt là ai cũng có thể mua được đủ loại kích thích tố tăng trưởng cho động vật và thực vật với giá rẻ dưới các nhãn hiệu có tên rất dễ thương như: Bạch Nhật Đại, Khai vị, Tăng gia Phúc đại, v.v... Các hoá chất trên theo quảng cáo có công dụng thúc đẩy sự tăng trưởng, tăng cường và nâng cao phẩm chất của thịt, tăng cường khả năng sinh sản của động vật. Tuy nhiên, không có loại nào có ghi thành phần hóa chất trong sản phẩm trên bao bì, một quy định bắt buộc áp dụng cho tất cả hóa chất bày bán trên thị trường. Và với những tên đẹp đẽ trên, chúng ta cũng thừa rõ là những hoá chất kích thích tăng trưởng đó đã được sản xuất tại TC.

Theo một chuyên gia Việt Nam trong lãnh vực thức ăn gia súc ở Việt Nam: “Có đến 90% các cơ sở chế biến thức ăn vừa và nhỏ đều nhập cảng tiểu ngạch các thuốc tăng trọng ‘lậu’, hoặc nhập qua đường chính ngạch dưới dạng nguyên liệu sản xuất thức ăn chăn nuôi với thuế xuất rất thấp. Đồng thời họ cũng đặt hàng bao bì tại Trung Cộng, sau đó ‘xào xáo’ lại thành sản phẩm nội địa”. Thêm nữa, thậm chí có rất nhiều văn phòng đại diện Trung Cộng cũng kinh doanh các mặt hàng trên ở Việt Nam. Và đây cũng là con đường chính thức để hợp thức hóa các sản phẩm tăng trưởng lậu từ TC.

Thẩm định lại tất cả những nguyên nhân đưa đến sự hiện diện của hóa chất kích thích trong thực phẩm cho người và gia súc ở Việt Nam, câu hỏi rốt ráo của mỗi người trong chúng ta là làm thế nào kiểm soát và chấm dứt tình trạng trên sẽ được và chỉ được lãnh đạo Việt Nam hiện tại trả lời mà thôi.

Chúng ta phải có thái độ như thế nào?

Mỗi năm, cứ mỗi lần Tết đến, hiện tượng thức ăn gian dối, pha trộn hóa chất độc hại, biến chế không theo tiêu chuẩn an toàn thực phẩm lại xảy ra với cường độ ngày càng trầm trọng hơn, tinh vi hơn. Bánh mứt không theo phương thức “lương thiện”, quy trình sản xuất “chính quy”, mà chỉ mong đạt số lượng thành phẩm cao hơn nguyên liệu, do đó phải pha thêm phụ gia, hóa chất… để làm giảm giá thành và tăng thêm lợi nhuận.

Nơi đây thể hiện một não trạng băng hoại trầm trọng trong xã hội. Một quốc gia được quản lý bởi một lớp người hoàn toàn vô cảm với truyền thống văn hóa lương thiện của dân tộc từ ngàn xưa, kết quả đương nhiên sẽ là tình trạng “làm ăn” gian dối, nhứt là vào thời điểm cận Tết.

Như vậy chúng ta phải làm gì trước tình thế nầy?

Đối với bà con ở quốc nội, bà con đã cảnh giác và đã biết chọn những mặt hàng có nhãn hiệu (?) và được bày bán trong các siêu thị (?). Ngoài ra trái cây, bánh mứt, đồ tiêu dùng sản xuất từ TC, bà con đã biết e dè và lánh xa dù biết rằng giá cả rẻ hơn nhiều so với mặt hàng bán trong siêu thị. Nhưng thưa bà con, cần phải cảnh giác việc thay đổi, tráo nhãn hiệu, cũng như bày hàng thiệt (như trái cây nhập cảng từ Hoa Kỳ, Pháp), nhưng khi bán ra thì tráo hàng “dởm” TC. Do đó, một vài trái cây nội địa, một vài bánh bông lan nướng tại nhà để cúng kiến Ông Bà cũng đủ nói lên tấm lòng thành của con cháu rồi, không cần phải “rước” chất độc vào nhà nữa.

Đối với bà con ở hải ngoại, một khẩn báo trên internet đã cho biết ngay cả bánh chưng, bánh tét đã được làm ở Việt Nam và đã được thay nhãn hiệu của từng nhà sản xuất địa phương khi đến Hoa Kỳ. Tại sao bánh tét bánh chưng có nhiễm chì ở Việt Nam? Vì, khi nấu bánh, gian thương đã để cục pin trong bồn nấu, mục đích là làm cho lá chuối vẫn còn xanh tươi (?). Vậy ăn một cái Tết đơn giản nơi hải ngoại sẽ là một giải pháp an toàn nhứt nếu chúng ta không muốn “tự đầu độc dài hạn” cho chính mình.

Nên nhớ, việc TC cho nhập cảng ồ ạt với giá rẻ mạt từ thức ăn chế biến, trái cây tươi hoặc khô, rau cải, các mặt hàng tiêu dùng trong nhà… ngoài lý do kinh tế, hạn chế và làm suy kiệt sự phát triển của Việt Nam, mà có thể còn là một lý do sâu xa hơn nữa là nhằm đầu độc các thế hệ tương lai Việt ngõ hầu sẽ không còn đủ trí thông minh và sức đề kháng trước đại nạn Hán hóa của TC đang diễn ra trên khắp mọi miền đất nước.

Kinh nghiệm ngàn năm nô lệ của ông cha là một bài học quý giá của chúng ta đó!

Kết luận
Theo tin tức mới nhứt trên tạp chí Food Safety News ngày 2/2/2010 nêu tin FDA vừa thu hồi 1,23 triệu cân xúc xích (salami) của Cty Daniel phân phối trên 42 tiểu bang Hoa Kỳ vì bị phát hiện vi khuẩn Samonella gây bịnh cho 203 người tiêu thụ, nhưng không có người chết. Nguyên do là Cty đã dùng tiêu nhập cảng từ Việt Nam.

Qua tin trên, chúng ta nhận thấy rằng, hiện tại khắp nơi trên thế giới, những nơi nào có nhập cảng thực phẩm từ TC hay Việt Nam như Nhựt Bổn, Mã Lai, Tân Gia Ba, Liên Hiệp Âu Châu, Hoa Kỳ… đều hoài nghi những loại thực phẩm bày bán ở thị trường. Nhưng đối với bà con trong nước dù hoài nghi hay cẩn thận đến đâu đi nữa thì cũng phải tiêu thụ thực phẩm nầy. Đó là niềm đau chung, vì đa số người dân không có đủ điều kiện tài chính để có thể mua thực phẩm hợp vệ sinh, ngoại trừ một thiểu số có nhiều tiền để có thể mua thực phẩm “an toàn” nhập cảng từ bên ngoài, thậm chí uống nước lọc nhập cảng luôn. Còn tuyệt đại đa số bà con vẫn phải chấp nhận và tiêu thụ nguồn thực phẩm làm từ trong nước cũng như phải dùng nước cung cấp từ Tổng công ty Cấp nước.

Cá basa đã bị trả về vì dung lượng hóa chất fluoro-quinolones tồn tại trong cá cũng như bị phạt vì gian dối trong việc giả mạo tên cá qua một vụ xử ở tòa án New York vừa kết thúc. Xì dầu bị trả về vì sự hiện diện của 3-MCPD. Còn tôm và một số thủy sản khác bị trả về vì chất kháng sinh chloramphenicaol trước kia, nay lại bị trả vì sư hiện diện của nitrofuran, vì 3-amino-2-oxazole, vì semicarbazide. Riêng trong trường hợp tôm, Việt Nam đã bị Ngân hàng Thế giới cảnh báo vì đã dùng rhotenone, một độc chất có trong cây thuốc cá để thay thế chloramphenicol vì hóa chất nầy không nằm trong danh mục kiểm soát của Cơ quan FDA HK.

Các hành động trên chứng tỏ rằng, nếu Việt Nam tiếp tục đi theo con đường nầy sẽ khó hội nhập vào cuộc chơi toàn cầu vì nơi đây đòi hỏi một sự xuyên suốt về các thông tin an tòan thực phẩm trong trao đổi quốc tế.

Để kết luận, lời của một trí thức giấu tên ở Việt Nam đã từng thốt lên: “Việt Nam đang là một đống rác khổng lồ. Đó không phải là ý nghĩ riêng của tôi, mà là nhận xét của nhân vật cao cấp nhất của đảng Cộng sản Việt Nam. Đây không phải là ý nghĩa kinh tế. Nó bao trùm tất cả mọi khía cạnh đời sống: văn hoá, chính trị, và cả tôn giáo”.

Việc hóa chất độc hại hiện đang có trong thực phẩm từ rau cỏ cho tới thực phẩm nấu chín hay trong hộp, Việt Nam đã biết từ hơn 10 năm qua, nhưng chỉ thấy loan báo trên báo chí, cảnh giác người tiêu dùng, đưa ra kế hoạc rau sạch, an toàn thực phẩm v.v…

Nhưng rốt ráo lại, những người quản lý đất nước chỉ làm được chừng đó, và nếu có thêm nữa chỉ là khuyến cáo người dân đi kiện nhà sản xuất, ngoài ra hoàn toàn không có biện pháp gì cả, cũng như không cần tìm hiểu nguyên căn tệ trạng trên đến từ đâu? Chắc chắn là phải đến từ sự phát triển không tôn trọng nguyên tắc bảo vệ môi trường, và đến từ một hệ thống cai trị đất nước vô nhân tính. Chúng ta hãy nghe, một Ông Bí thư tỉnh ủy than vãn trước báo chí là tình trạng thực phẩm ở Việt Nam bị nhiễm độc cho nên không biết “ăn cái gì” nữa (?), cũng như cựu Tổng bí thư CS Lê Khả Phiêu phải xây vườn rau “sạch” tại nhà với chi phí hàng triệu Mỹ kim!

Vậy thì, một câu hỏi cần phải được đặt ra cho những ai còn có chút tự trọng dân tộc: Tại sao một dân tộc luôn luôn tự hào với truyền thống bốn ngàn năm văn hiến, bỗng nhiên để cho đất nước mình trở thành một đống rác, kho chứa tất cả những gì xấu xa nhứt của nhân loại văn minh?”

Đã đến lúc Việt Nam cần phải chấp nhận thực tế nầy. Nếu không cải thiện tình trạng trên, Việt Nam dù đã là thành viên của Tổ chức Thương mãi toàn cầu (WTO) hơn 3 năm qua, nhưng nếu tình trạng xuất cảng thực phẩm kém phẩm chất và chứa quá nhiều dư lượng hoá chất độc hại sẽ lần lần bị mất đi thị trường hải ngoại và sẽ bị cô lập trong một tương lai không xa.


Mai Thanh Truyết

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét