Thứ Năm, 1 tháng 7, 2010

Nói Chuyện Với Nguyễn Đức Quang (3)

Nói về những người du ca ”nhẩy núi”, thì không thể không nhắc tới Tôn Thất Lập, một người viết khá nhiều ca khúc cho phong trào du ca. Trước tiên phải nói tới Tôn Thất Lập đến với du ca khá muộn màng, năm 1968 sau Tết Mậu Thân anh mới tham gia, và đóng góp một loạt ca khúc có chất lượng. Anh có tìm tôi vài lần, và một lần sau cùng trước khi anh bỏ hẳn ra ngoài bưng, anh có đến nằm tại nhà tôi ba ngày liền. Trong câu chuyện khi nói tới mục đích chung, cũng như con đường của mỗi người, đã nhiều lần Tôn Thất Lập mấp mé đến cái chuyện ra bưng, nhưng tôi không bao giờ tỏ một chút hưởng ứng nào, hễ cứ gần tới đó thì tôi gạt đi và nói chuyện khác, chẳng phải tôi không đủ lý lẽ tranh cãi, nhưng tranh cãi nghĩ cho cùng cũng vô ích mà thôi. Tôi không bao giờ coi thường những người dám chọn lựa cho mình một lý tưởng và quan trọng hơn nữa là dám thực hiện lý tưởng của mình cho dù nguy hiểm. Phần tôi tôi có ý thức chính trị, song tôi không hoạt động chính trị, và lý tưởng của riêng tôi là ca hát cho đời, thiết tha nói lên những suy nghĩ của tuổi trẻ chúng tôi, kêu gọi mọi người hãy yêu thương nhau, hãy xắn tay áo và làm việc, không phải là lúc ngồi đặt vấn đề, mà là lúc bắt tay vào việc. Làm những việc nhỏ thôi, trong tầm tay của mình, làm tốt cho một số người ngay bên cạnh mình mà thôi.

Cuối cùng Tôn Thất Lập không thể không nói: Anh đề cập thẳng với tôi về việc đóng góp cho dân tộc. Tôi trả lời cho anh: Mỗi người trong chúng ta phải chọn cho mình một cách chọn lựa. Tôi yêu chuộng và kêu gào Tự Do cho mọi con người, trong thân phận của một nhạc sĩ sáng tác, tôi chọn sự độc lập”. Bây giờ nghĩ lại cuộc tiếp xúc của anh Tôn Thất Lập với tôi, chẳng giúp gì được cho cả hai người, riêng phần tôi thì vô hình chung tôi sẽ nhận tác hại từ cả hai phe. Năm 1968, phía bên kia dành cho tôi một cái án miệng.

Dường như năm 1972, cái án miệng này tăng giá.

Những người anh em du ca chúng tôi hãnh diện làm được khá nhiều việc. Thổi được một luồng gió mới sinh động qua các trường học, đặc biệt là tạo được một ảnh hưởng đối với học sinh sửa soạn bước vào Đại Học, tạo một cơ hội cho tuổi trẻ nhìn lại chính thân phận của mình, và hoàn cảnh của đất nước, của dân chúng, của xã hội. Đó là một cái nền của một bức họa, và rồi anh em chúng tôi, mỗi người tùy khả năng mà dệt gấm thêu hoa.

Phía Cộng Sản, họ chuyên trị hoạt động đoàn thể, nên hình như họ nhìn vấn đề sinh hoạt cộng đồng, họ nhìn Phong Trào Du Ca nghiêm trọng hơn chính quyền miền Nam. Cũng trong năm 1968, khi đó tôi đã nhập ngũ, một hôm có một anh xích lô máy ngừng xe trước cửa nhà tôi. Anh mang đến cho tôi ba tờ giấy ghi tên xin tham gia các hội đoàn văn nghệ... ở ngoài bưng.

6- Tôi có bốn đợt sáng tác, mỗi đợt có thể coi như là một tập ca khúc: Trầm Ca, Nỗi Buồn Nhược Tiểu, Tiếng Hát Tự Do, Ruồi và Kên Kên”. Tuy là bốn đợt sáng tác trong bốn thời điểm khác nhau, song tinh thần của những ca khúc không có gì thay đổi nhiều. Có nhiều người kết tội tôi là làm những ca khúc phản chiến. Tôi xác nhận trong những ca khúc của tôi quả có một số bài phản chiến. Nhưng tôi nghĩ bất cứ một người dân thường nào cũng yêu hòa bình, và chán ghét chiến tranh. Hòa bình có phải chăng là niềm khát khao của toàn thể dân tộc, bởi vì trên thế giới này, không có một dân tộc nào chịu nhiều khổ đau vì chiến tranh cho bằng dân tộc Việt Nam.

Từ đời cha sang tới đời con, từ đời ông xuống tới đời cháu. Chiến tranh là một gia tài truyền tử lưu tôn, và kéo dài suốt ba thế kỷ liền. Kể từ khi La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp chỉ nẻo cho Chúa Nguyễn Hoàng: ”Hoành Sơn nhất đái, vạn đại dung thân”, lấy sông Gianh làm biên giới Bắc Nam cho tới nay, thì hình như dân tộc Việt ít có cơ hội ngơi nghỉ chiến tranh. Những thế kỷ trước quân Trịnh vượt sông Gianh bẩy lần, rồi quân Nguyễn đáp lễ hai lần, mỗi lần để sửa soạn chinh chiến thì bao nhiêu sinh lực dân tộc lại ném vào chiến trận trong một hai chục năm ròng rã. Ấy là chưa kể đến những trận đánh ở phía Nam, Chúa Nguyễn đã xóa đi hình thể quốc gia Champa trên bản đồ thế giới. Còn phía Bắc thì giặc giã nổi lên tứ phương, tám hướng. Thế rồi nhà Tây Sơn nổi lên, diệt Trịnh phương Bắc, diệt Nguyễn phương Nam. Thế rồi quân Thanh xâm lược, và kế đó là Gia Long thống nhất sơn hà, để rồi mở đường cho người Pháp thôn tính Việt Nam.

Sau đó nào là Cần Vương, nào là Văn Thân, và rồi toàn thể dân tộc đắm mình trong chiến tranh dành độc lập. Độc lập thì có nhưng đất nước lại một lần chia hai, lần này với con sông Bến Hải làm ranh giới giữa hai mạch sống. Và rồi sau cùng là trận chiến có tôi tham dự. Tôi nghĩ rằng sau ba thế kỷ chiến tranh ròng rã, khát khao hòa bình là một khát khao chính đáng của toàn dân. Tôi cũng hiểu cái giá của hòa bình, nên vì vậy mà tôi thi hành bổn phận của một công dân như hàng triệu thanh niên khác trong lứa tuổi của tôi. Là một người lính, tôi nghĩ rằng tôi cũng như mọi người được quyền ao ước hòa bình.

Những ca khúc của tôi đâu phải chỉ có toàn những lời ca rên xiết vì hòa bình. Con số những ca khúc mà người ta coi là phản chiến thật ra rất ít. Tôi chống lại mọi áp đặt, mọi bất công, mọi tệ trạng, mọi điều xấu làm con người tha hóa, thành thử có một dạo chính quyền miền Nam cũng nhìn tôi bằng một con mắt nghiêm khắc. Bởi vì tôi là một trong những người đã viết những ca khúc nói lên tệ trạng tham nhũng của miền Nam. ”Ruồi và Kên Kên” là một tập gồm những ca khúc khiến tôi trở thành một cái gai cho cả hai phe tham chiến. Phe nào cũng là ruồi, và phe nào cũng có hình ảnh của kên kên.

Những năm cuối cùng của trận chiến, là những năm thê thảm nhất. Tôi đã đưa hàng trăm bạn bè, đồng đội đi về nơi yên nghỉ cuối cùng. Tôi vẫn khát khao hòa bình, nhưng trong tâm khảm tôi, tôi tin rằng nếu miền Nam hoàn tất được nhiệm vụ đối với dân tộc, thì lịch sử sẽ trôi êm đềm hơn. Trong trường hợp ngược lại thì nhiều khi tôi sợ, không dám nghĩ tới. Thế rồi cái gì tôi sợ nhất, chính cái đó đến với tôi, đến với mọi người trong năm 1975.

Cũng như mọi người, tôi đi tù cải tạo. Nhờ cấp bậc không cao nên tôi được thả về khá sớm. Tôi đã trả giá cho những năm quân đội, những năm du ca bằng ba năm tù. Tôi không hiểu những người khác được về sớm như tôi nghĩ gì? Riêng tôi đã có lúc tôi chỉ mong vào tù trở lại, vì cái xã hội của miền Nam vào khoảng 1975-1980 là một xã hội kỳ lạ, ngộp thở. Những người được thả về sớm, bị chỉ định cư trú, gặp phải những người công an ít học, còn khổ hơn trong những trại tù. Trong tù người ta còn những thứ người Cộng Sản không bao giờ tiêu diệt nổi: Đó là tình bằng hữu, tình đồng đội.

Tôi cũng nghe nói tới những người làm ”ăng ten” cho quản giáo, con số này không nhiều và có lẽ những người yếu lòng, cam tâm làm ăng ten với mục đích sẽ được tha về sớm, sau hai ba năm thấy mình cũng như ai, thì hà cớ gì mà gánh chịu những áp lực từ hai phía: Phía quản giáo và phía bạn đồng tù. Trong tù, chúng tôi không cảm thấy cái lưng của chúng tôi trống trải, nhưng khi được thả ra ngoài xã hội, lúc nào chúng tôi cũng phải ngó chừng bốn hướng, tám phương. Lúc nào cũng có cảm giác lưng mình sắp bị một người nào đó chém trộm. Đến độ gia đình tôi bị đẩy đi vùng kinh tế mới tôi cũng không lấy đó làm buồn.

Khi nhìn vào tờ giấy phải đi kinh tế mới, tôi phát giác được người ký tên trục xuất tôi ra khỏi thành phố, nào phải ai xa lạ. Anh ta là một trong những người đã từng sát cánh với tôi trong phong trào Du Ca. Tôi không trách gì anh ta. Chỉ lạ một điều cho dù anh ta có can đảm vì lý tưởng, cho dù anh ta dẵm lên tình bạn thì ít ra anh ta cũng phải có can đảm, nhìn thẳng vào thực tế, nhìn sâu vào mắt tôi trong một lần tiếp xúc nào đó. Anh ta thuộc vào phe thắng trận, và cứ cho là anh đang thực hiện lý tưởng của riêng anh, anh ta có thể thí nghiệm lý tưởng trên số phần của những người bạn cũ. Không sao, có điều anh ta không được sòng phẳng khi không dám nhìn lại, không dám đối thoại với bạn cũ một lần.

Sau năm 1975, phong trào du ca tất nhiên cũng như mọi đoàn thể và đảng phài của miền Nam tự động ”đóng cửa tiệm”. Các phong trào như Hướng Đạo, Phật Tử, Thanh Sinh Công còn không dám nhúc nhích thì làm sao những người Du Ca dám sinh hoạt. Hơn thế nữa đối với người Cộng Sản, những ca khúc của du ca thật là phản động, thành thử có muốn ca hát đến đâu chăng nữa những người du ca chỉ dám ca thầm cho chính mình nghe, vả lại những năm đầu ai nấy đều cúi gầm xuống để tiết kiệm từng hơi thở, thì không nên phí sức cho một hành động chỉ mang lại những nguy hiểm, mà rút cục cũng không thay đổi được một chút tình thế nào. Do đó mọi thành viên của du ca còn sống trong nước, rút vào trong bóng tối.

Một số nhỏ thoát đi được sang nơi xứ người, việc trước tiên là làm lại cuộc đời. Đất nước người mông mênh, xa lạ quá. Mỗi người thui thủi một nơi, muốn hàn huyên đã có điện thoại, muốn thăm hỏi nhau thì một năm may ra được một đôi lần. Thành thử có muốn sinh hoạt lại cũng không thể nào thực hiện được. Theo tôi biết có đến một nửa số đoàn viên du ca đã ra khỏi nước. Một nửa có nghĩa là hàng ngàn người đang sinh sống trong những quốc gia xa lạ. Con số thì to, nhưng việc quy tụ không phải là một điều dễ dàng gì. Thành thử đã nhiều năm nay, anh em chúng tôi lòng muốn tập họp lại nhưng hoàn cảnh thực tế không cho phép.

Về điều kiện xã hội tại những nơi mà anh em du ca đang tạm sống tạm, nói chung các cộng đồng Việt Nam ở Mỹ đa dạng quá. Tuy lòng quyến cố quá mạnh, lôi cuốn phần đông thanh niên đi vào các sinh hoạt chính trị nhiều hơn là sinh hoạt thanh niên thuần túy. Và quan trọng hơn nữa, tuổi trẻ trưởng thành bên ngoài Việt Nam, do môi trường giáo dục của Hoa Kỳ thường thích những sinh hoạt của xã hội Hoa Kỳ, nhiều hơn là một sinh hoạt đặc thù Việt Nam. Thành thử nếu có lập lại được phong trào du ca thì cũng sẽ không có được những đợt người kế tiếp, ngoại trừ một số rất nhỏ con cháu trực hệ của anh em chúng tôi.

Về những sáng tác mới. Tôi nhớ có lần tôi và anh nói chuyện này. Anh đã từng có lần tiếc cho tôi trong hơn mười năm không viết một ca khúc nào. Tôi chỉ muốn nói một điều: Ngày xưa tôi sống thật trên quê hương tôi. Tôi đau từng nỗi đau của những người lính, những bà mẹ, những người vợ, những người nông dân, những người lao công, những em bé, những người già... Ngày nay tôi không có cơ hội tích lũy những chất liệu vừa kể. Tôi cũng có thể nặn được những điều đó, nhưng những sáng tác thuần kỹ thuật, và trí tuệ cho dù có hay nó vẫn có một cái gì đó không thật, thành thử nó cứ gượng và vì vậy mà không đi được vào lòng người. Không cứ gì trường hợp của tôi, tôi biết nhiều nhạc sĩ sang đây khổ công sáng tác, nhưng trong hai chục năm nay, con số những ca khúc đi được vào lòng người quả là hiếm hoi.

Bởi không sáng tác thêm những ca khúc mới, trong những dịp nhàn hạ, tôi thường vấn lại lòng mình, hồi tưởng lại con đường ngày xưa anh em chúng tôi đi, mặt ngước lên, mắt nhìn thẳng và lời ca vang đi từ trong buồng phổi, vọt thẳng tới cuộc đời. Giờ đây mỗi người một xó nơi quê người, lòng muốn làm nhiều điều nhưng tuổi đã bắt đầu cao, sức đã bắt đầu yếu, chỉ sợ rằng định vẽ một con voi, khi hoàn tất nó hóa ra con mèo, tuy có lớn hơn con chuột một chút, nhưng vẫn không phải là con voi. Sinh hoạt thanh niên phải luôn luôn được bồi đắp bởi những lớp người mới, và những sáng tác mới cho phù hợp với nhu cầu xã hội. Thiếu sự liên tục của các lớp người trẻ thì thật giống như một cái cây mỗi ngày mỗi cằn cỗi. Đó là một lý do khác khiến anh em chúng tôi tuy đã có mặt nơi đây khá đông, nhưng còn ngần ngại trước khi chính thức bắt tay vào việc gây dựng một phong trào sinh hoạt thanh niên khác.

Lớp người khai phá phong trào du ca bây giờ đã bước vào tuổi già. Vài người ở ngưỡng cửa 60, số đông anh em trên 50. Tinh thần của chúng tôi tuy vẫn còn, nhưng thể chất có lẽ sẽ không còn được dẻo dai, bền bỉ như 30 năm trước. Vả lại nếu bây giờ hình thành một sinh hoạt thanh niên thì đó có thể không phải là Phong Trào Du Ca” của 30 năm trước, và tại quê nhà. Chỉ có thể tựa vào đó như một chất keo, hàn gắn lại anh em sau ba chục năm rời rã, kế đó phải có một tinh thần sinh hoạt mới, phù hợp với hoàn cảnh mới, và những con người mới. Tinh thần của du ca phải là một tinh thần sinh động, không đóng chấu với bất cứ một hoàn cảnh chính trị hay xã hội nào, ngoại trừ sự hữu hiệu.

Dù muốn hay không cuộc chiến cũ đã mang tới cho chúng ta quá nhiều mất mát và đổ vỡ. Khi chiến tranh tàn thì tiếng than oán vang lên khắp nơi, kế tới những âm thanh hoảng loạn, liền sau đó là một khoảng thời gian dài im lặng. Và bây giờ lẫn với tiếng gió, hòa với tiếng sóng dường như chúng tôi nghe được những tiếng động của lịch sử, báo hiệu sự đổi thay. Chúng tôi vẫn tin vào trực giác của chúng tôi, trực giác nhậy cảm của những người làm văn nghệ, và chúng tôi tin rằng sẽ có một lúc nào đó chúng tôi sẽ trở về, dựng lại nhà trên một cái nền đổ nát, hệt như lời của một bài thơ, của một ca khúc nào đó của anh em chúng tôi.

Ngày đó bắt buộc sẽ phải đến. Nó có thể là sáng mai, nó có thể là năm tới, nó có thể là năm năm, mười năm. Nếu tới ngày đó, và anh em chúng tôi còn sống, cho dù chỉ còn thoi thóp thở chúng tôi cũng sẽ trở về. Trở về để nhắm mắt trên mảnh đất chúng tôi đã sinh ra, đã lớn lên, đã bảo vệ và đã phải bỏ đi chỉ để trở về.





Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét