Thứ Năm, 1 tháng 7, 2010

NÓI CHUYỆN VỚI NGUYỄN ĐỨC QUANG (2)

4- Đó là bối cảnh riêng của phong trào du ca, nằm trong bối cảnh chung của một xã hội. Người ta có thể coi Du Ca là một phong trào thanh thanh niên, hay một phong trào sinh viên, học sinh, hay là một nhóm người hoạt động xã hội, hay là một ban văn nghệ, hay là cái gì đó, nhưng có một điều dứt khoát trong tôn chỉ (nếu có) của chúng tôi, thì Du Ca không làm chính trị. Tôi không phủ nhận trong anh em chúng tôi sau này cũng có người hoạt động chính trị, nhưng đó là một mặt khác của mỗi người trong anh em chúng tôi. Tôi sẽ trở lại vấn đề này sau. Giờ đây hãy nói về Du Ca trong lúc từ KHÔNG trở thành CÓ.

Trước tiên về tổ chức, không thể tiện đâu làm đó. Nơi nào ới một tiếng là lại hăm hở khăn gói lên đường. Giờ đây phải có đường lối, kế hoạch, phải có tôn chỉ rõ ràng. Chúng tôi không quan niệm đoàn thể trong một bộ đồng phục. Cái gì có đồng phục là bắt đầu có khác biệt với quần chúng, có ngăn cách với những người của đời thường. Mà nghiệm lại chúng tôi chỉ là những người trẻ, trẻ cả tâm hồn lẫn thể xác, muốn tìm một con đường để phụng sự xã hội, khác với mọi con đường đã có sẵn. Chúng tôi tự nhìn lại chúng tôi, chúng tôi cũng là những con người thường như hàng triệu những con người của xã hội, thì hà cớ chi phải mặc đồng phục cho khác với người đời. Chúng tôi muốn phục vụ xã hội nhiều hơn là mưu đồ một việc gì đó cho mỗi anh em chúng tôi. Do đó chúng tôi thu hẹp mục đích vào trong tầm tay, trong khả năng của chúng tôi. Chúng tôi chọn thanh niên làm đối tượng chính cho mọi sinh hoạt của chúng tôi, kế đó là những hoạt động trong phạm vi xã hội, đặc biệt là cứu trợ, bởi vì đất nước đang trong thời chiến, nạn nhân của chiến tranh đã lắm, mà thiên tai, hỏa hoạn, lụt lội, bão tố còn đóng góp thêm không ít khổ ải cho dân tộc Việt Nam.

Để có thể đáp ứng những mục tiêu này, những người anh em của chúng tôi cũng phải được huấn luyện. Nói rõ ra là phải được tập để sống trong một môi trường hết sức động. Phải tập để bớt nghĩ cho riêng mình, phải tập để sinh hoạt với một số người, trong một số công tác, thường xuyên kham khổ và đôi khi nguy hiểm. Ca hát không phải là điều cần thiết nhất trong huấn luyện của chúng tôi. Mở lòng đến với mọi người mới là cái mà chúng tôi nhắm tới. Chỉ như thế, người du ca mới có thể quên bớt những thú vui thành thị, để đi về những thôn xóm xa xôi, hát cho đồng bào nghe. Phải biết quên mình đi, mới có thể phục vụ cho người, nhất là phục vụ không nhận thù lao, hoặc giả thù lao là những bữa ăn đạm bạc, những chỗ nằm vạ vật.

Nói khôi hài một chút thì ngay từ khi mới ra đời, phong trào du ca nổi lên như một bầy ong vỡ tổ, nhao nhao khắp mọi nơi. Chỉ trong một khoảng thời gian không đầy một năm, trên toàn quốc có cả trăm toán du ca, chỉ riêng Vùng Một Chiến Thuật, Đà Nẵng và Huế không mà thôi đã có hơn ba chục toán. Một toán du ca địa phương thường do một nhóm bạn trẻ địa phương tự phát động, khi đủ nhân số tới một mức độ nào đó, thì Văn Phòng Trung Ương của Phong Trào Du Ca, cử người tới huấn luyện. Các khóa toán trưởng là mối quan tâm lớn nhất của Phong Trào, và sẽ phải tới sinh hoạt với toán mới thành lập một thời gian, dài ngắn tùy theo nhu cầu tại chỗ.

Khi nào nhắm thấy đoàn đã có thể tự sinh hoạt thì việc huấn luyện chấm dứt, và một đoàn du ca nữa lại lên đường, hòa nhập vào xã hội. Thỉnh thoảng Phong Trào Du Ca tổ chức những trại huấn luyện đặc biệt, các đoàn địa phương gửi người về tham dự. Mỗi hai năm lại có một đại hội để các nơi về dự.

Con số đoàn viên của Phong Trào Du Ca trên toàn quốc vào khoảng từ 4,000 cho tới 5,000 người. Đến bây giờ nghĩ lại tôi thấy chắc chắn chúng tôi đã tìm được một chất keo nào đó, để buộc được mấy ngàn con người, cùng một nhịp đập của trái tim, một nhịp thở của buồng phổi, một hướng sinh hoạt chung. Tôi rất khiêm tốn nêu một câu hỏi: Trước và sau chúng tôi, đã có một phong trào thanh niên, sinh viên, học sinh nào như thế chưa? Người du ca chỉ không còn chính thức xuất hiện trong xã hội Việt Nam sau năm 1975, nhưng tôi tin rằng con người du ca bên trong của những anh em chúng tôi, con người thứ hai sẽ sống mãi trong lòng anh em chúng tôi, cho dù anh em chúng tôi sinh sống ở bất cứ một nơi nào, một xó xỉnh nào trên thế giới mỗi ngày mỗi chật này

Đã đến lúc tôi phải trả lời câu hỏi của nhiều người, một câu hỏi mà đôi khi người du ca khá lúng túng do hoàn cảnh chính trị, xã hội lúc phong trào đang cực thịnh: Chúng tôi tuyệt đối không nhận bất cứ một tài trợ tiền bạc nào, của bất cứ ai, kể cả chính quyền và kể cả người Mỹ.

Câu hỏi này đã được nêu lên ngay từ thời còn ở trong nước. Tôi hiểu vì sao những câu hỏi này được nêu lên. Bởi vì khi chúng tôi còn là một nhóm nhỏ, thì bất quá chúng tôi cũng chỉ là một vài cá nhân đôi khi có vẻ hơi lập dị. Có không ít người đã dè bỉu những ca khúc sinh hoạt của chúng tôi. Làm sao được, khi viết nhạc, anh em chúng tôi ngoài việc nghĩ ngợi là của riêng mỗi người, nhưng hình ảnh mà chúng tôi phục vụ ít khi nào là hai người, mà là đám đông. Nhạc như thế thì làm sao mà đi vào các vũ trường của các vương tôn công tử? Làm sao mon men được tới những chỗ cửa quyền? Làm gì có nhà xuất bản nào nghĩ đến chuyện ấn hành một tập nhạc không giống ai, để mà bán cho ai?

Nhưng một khi phong trào đã dấy lên, tại tỉnh nào cũng có một đoàn du ca, không lớn thì nhỏ. Với hàng ngàn đoàn viên trên toàn quốc thì không một ai có thể phủ nhận anh em chúng tôi là một sức mạnh. Đó là một lực lượng nhân sự lớn lao mà ngay cả các đoàn thể do chính quyền thành lập cũng không hơn được. Hơn thế nữa, lực lượng đó còn đang độc lập, không bị chi phối bởi bất cứ một phe nhóm chính trị nào. Nếu giả dụ như một nhân vật chính trị nào đó, có thể ảnh hưởng đến cái nhân của phong trào du ca này, thì ảnh hưởng của số đông tất nhiên là đáng kể. Vả lại một sinh hoạt nặng tính văn nghệ, đi kèm cho những hoạt động chính trị thì kết quả sẽ lớn lao vô cùng. Chính vì vậy mà rất nhiều phe nhóm muốn thâm nhập vào phong trào du ca, chính vì vậy mà cả hai phe tham chiến, và có thể cả người Mỹ đứng sau lưng một vài nhân vật nào đó, nhìn anh em chúng tôi như một miếng mồi.

Tôi nghĩ là đã có một dạo, tất cả các phe nhóm đều cài người vào làm đoàn viên du ca. Nhất là tại các địa phương, vì du ca là một phong trào tự phát, phần lớn là sinh viên học sinh, thành thử làm sao chúng tôi có thể phòng gian như các lực lượng an ninh của quốc gia, còn bảo mật thì du ca làm gì có cái gì cần phải bảo mật. Chúng tôi ca hát giữa trời, trong thanh thiên bạch nhật, hay giữa những ánh lửa bập bùng của các sinh hoạt lửa trại. Chúng tôi có giao tranh với ai đâu mà phải phòng gian bảo mật. Chúng tôi cần tiền để sinh hoạt, nhưng đâu có cần bạc triệu, và các anh em chúng tôi nghĩ bên cạnh những điều mà tuổi trẻ muốn nói thẳng, nói thật trong các ca khúc của anh em chúng tôi viết ra, thì việc sinh hoạt cũng là một thú vui lành mạnh và bổ ích. Đi coi xi nê thì cũng tốn tiền như đi hát một buổi du ca. Nào có gì quá tốn cho túi tiền của anh em chúng tôi. Phương tiện trong khi đi xa, thì đã có các cơ quan hành chánh, hay các đơn vị quân đội giúp đỡ. Còn trong phạm vi của các thị xã, anh em chúng tôi lội bộ đến nhà nhau, đèo nhau trên xe đạp, sang cả hơn thì có xe Honda. Chính bởi vậy mà một số anh em chúng tôi trong Văn Phòng Trung Ương quả là có được một số phe nhóm tiếp xúc, nhưng chúng tôi hãnh diện nhìn thẳng vào mắt người hỏi, và dõng dạc trả lời cho rõ: ”Chúng tôi không hề nhận bất cứ một yểm trợ tài chánh của bất kỳ ai, và cũng không bao giờ lệ thuộc vào
bất cứ một phe nhóm nào”. Chính vì tính độc lập này cũng đã gây không ít phiền lụy cho chúng tôi sau này.
5- Năm 1967, sau một năm hoạt động, anh em chúng tôi quyết định tổ chức Đại Hội Du Ca Kỳ I. Địa điểm tổ chức đại hội được CPS cho mượn và thời gian sinh hoạt kéo dài trong ba ngày, với sự tham dự của rất nhiều anh em đại diện các đoàn du ca từ khắp nơi về tham dự. Có tới hàng trăm con người từ tứ phương đổ về, thế mà moi lại túi của tất cả các anh em trong Văn Phòng Trung Ương có được một số tiền khiêm tốn. Với số tiền này cho dù có dè xẻn lắm cũng chỉ có thể chu cấp cho mươi, mười lăm người... ăn cơm xã hội.
Tôi không lo khoản ngủ, bởi vì đã là anh em du ca thì ngủ đâu là nhà, ngã đâu là giường. Nhưng cái khoản tiền ăn của anh em thì dứt khoát chúng tôi phải lo. Không cơm gà, cá gỏi, bíp tết, súp vi cá... thì cũng phải cơm tấm bì sườn. Với hàng trăm anh em thì tiền ăn không mà thôi, một ngày cũng tốn cỡ 2000$. Ba ngày vị chi là 6000$, tiền linh tinh các khoản cho là eo hẹp thì cũng phải có 10,000$ trong tay mới có thể ăn nói không... lúng búng.

Tôi đi mượn được 50 chục cái ghế bố nhà binh, kê la liệt trong các phòng của CPS, tất nhiên là không đủ, nhưng với anh em trong nhà, có bao nhiêu xài bấy nhiêu. Ban ngày sinh hoạt, tối chia nhau đi ngủ nhờ các anh em du ca của các đoàn trong Sài Gòn. Tôi mất ăn, mất ngủ về ngân khoản trong vài ngày cho tới khi gặp Đỗ Ngọc Yến.

Sau khi thở hắt ra, tả oán, ông Yến nói để đó tôi lo khoản ”tài chánh” này cho ông. Ba ngày sau ông Yến mang cho tôi một gói tiền, khoảng hơn 10,000$. Mãi về sau này tôi mới biết đó là đồ tế nhuyễn của bà Yến, khi đó ông Yến mới lập gia đình, sau khi đi dạm hỏi vài nơi không có. Chàng chơi bạo, mang đồ tế nhuyễn của vợ đi cầm đồ, để chơi xả láng với anh em. Để anh em không ”mất vui”, trong kỳ đại hội đầu tiên của anh em. Tôi biết chắc chắn ông Yến sẽ chuộc lại những đồ này, nhưng bao lâu sau thì tôi không biết.

Tôi có một kỷ niệm rất vui trong kỳ Đại Hội này. Buổi chiều trước ngày đại hội khai diễn, tôi đang nằm dài trong ghế bố kê sát với bàn ghi danh. Một vài anh em trẻ cỡ khoảng 16, 17 tuổi, quần áo còn vương bụi đường xa, tóc tai còn lấm tấm đỏ rụt rè bước vô. Mấy người anh em này cho tôi biết họ thuộc Toán Du Ca Lòng Mẹ, từ Ban Mê Thuột về tham gia đại hội. Trong toán này có Nguyễn Quyết Thắng. Họ vừa từ bến xe đò về đây. Tôi nói với họ làm thủ tục ghi danh, tôi chỉ cho họ mấy cái ghế bố còn trống, nói với họ đi nằm dưỡng sức, ngày mai mới là ngày đại hội. Tôi còn nhớ Nguyễn Quyết Thắng có vẻ bồn chồn, nóng nẩy. Anh đi ra vào, nhìn trước nhìn sau. Thấy tôi có vẻ sẵn sàng trả lời Thắng hỏi:
- ”Thưa anh, cụ Nguyễn Đức Quang có đây không ạ?”

Tôi muốn phá ra cười, nhưng cái máu du ca trong người dằn tôi lại. Tôi trả lời Thắng:
- ”Có nhưng ngày mai mới tới trong đại hội”.

Thế rồi ba ngày sinh hoạt trôi qua, hôm chia tay để lên đường về lại bản quán, Nguyễn Quyết Thắng lại một lần bồn chồn, đi ra đi vào. Sau cùng anh đến trước mặt tôi nói:
- ”Tụi em ở xa, đọc báo thấy anh là bạn của Nhạc sĩ Phạm Duy, tụi em nghĩ anh cũng phải 50, 60 tuổi”.

Nói xong Thắng mở ba lô, lấy ra một bức tranh vẽ một ông già râu tóc bạc phơ, Thắng đưa cho tôi và nói:
- ”Em cứ tin là anh già khú đế, cho nên vẽ theo trí tưởng tượng. Vẽ thì cũng đã vẽ rồi, mong anh nhận”.

Cho tới bây giờ toán Du Ca Lòng Mẹ của tỉnh Ban Mê Thuột là toán tôi nhớ nhất, trong hơn một trăm toán du ca trên toàn quốc. Không phải chỉ vì bức tranh ”ông già”, mà vì một chuyện đau lòng, với hai nhân mạng con người, mà một trong hai người này là Nguyễn Tri Bình, con cháu của dòng họ Nguyễn Tri Phương.

Năm đó là năm 1970, Nguyễn Quyết Thắng đã không còn ở Ban Mê Thuột, nhưng những anh em du ca của đoàn Lòng Mẹ thì vẫn còn đầy đủ. Chỉ có một điều hơi bất thường là trong các anh em nòng cốt của đoàn này, có vài người ”nhẩy núi”, theo phe bên kia. Có hai điều có thể xẩy ra với những người này. Một là họ bỏ theo bên kia, vì cảm thấy chính quyền của miền Nam càng ngày càng bết. Thời điểm này chiến tranh đã kinh khiếp vô cùng, và ít nhất họ cũng là người can đảm, dám đi theo lý tưởng của họ (Tôi nhấn mạnh đây là lý tưởng của một số nhỏ đoàn viên du ca, chứ không phải của đại đa số các anh em du ca). Thứ hai họ có thể là người của bên kia, cài vào sinh hoạt trong phong trào, để rồi từ đó hoạt động trí vận.

Bây giờ nghĩ lại chuyện đau lòng này, tôi tin là có phép lạ. Bởi vì nếu không có phép lạ thì con số người chết phải cao hơn. Một trái B40, bắn trực xạ trong tầm gần có thể sát hại cả một tiểu đội lính là thường, thế mà chiếc xe chở anh em Đoàn Du Ca Lòng Mẹ chất đầy như cá hộp. Trái B40 trúng đích, thế mà chỉ có hai người chết, một người bị cụt tay và vài người bị thương nhẹ. Khi bị nạn Nguyễn Tri Bình chưa chết ngay, anh được chở về nhà thương lớn trong Sài Gòn, để nơi đây có nhiều phương tiện chạy chữa cho anh. Hai ngày sau Nguyễn Tri Bình chết. Mang xác anh về trả cho gia đình là một trọng trách của chúng tôi, và tất nhiên đây không phải là một công tác dễ dàng gì. Tôi nhớ người tình nguyện lãnh nhiệm vụ này lại vẫn là anh Đỗ Ngọc Yến.

Hôm tiễn đưa anh về lại Ban Mê Thuột, mấy người chúng tôi đi cùng anh Yến ra bến xe, chúng tôi không một ai nói lời nào, bởi vì có nói gì bây giờ cũng vô ích. Chúng tôi nhìn Đỗ Ngọc Yến một mình thui thủi chui vào lòng xe, với cỗ quan tài. Chúng tôi thuê một chiếc xe lô nhỏ, một mình Đỗ Ngọc yến ngồi bên tài xế, một mình Nguyễn Tri Bình nằm trong quan tài choán trọn đằng sau xe. Anh Yến cho biết vì chiến tranh đã không cho phép xe đi thẳng từ Sài Gòn lên Ban Mê Thuột, do đó hành trình phải vòng qua Nha Trang, khi tới Nha Trang đã xế chiều. Anh Yến quyết định đi luôn, và ông tài xế cũng không cản. Mãi cho tới 1 giờ khuya mới tới được Ban Mê Thuột.

Anh Yến tin rằng Nguyễn Tri Bình đã phù hộ cho anh trên con đường thăm thẳm này đã không gặp bất cứ một tai họa nào, và cũng không một ai lại liều lĩnh băng rừng, vượt núi trong lúc chiến tranh đã ngự trị trên khắp nẻo đường đất nước. Hôm đi chôn Nguyễn Tri Bình, Đỗ Ngọc Yến cho biết tất cả các anh em trong đoàn du ca Lòng Mẹ đều tề tựu đủ, kể cả mấy người nhẩy núi cũng mò về. Họ mặc quần áo đen, đi lặng lẽ sau quan tài.

Họ là những người du ca nhẩy núi, đã đứng trong một trận tuyến khác, và chúng tôi những người du ca không nhẩy núi đã từng biết nhau. Chúng tôi nhìn rõ mặt nhau, nhưng cả hai bên đều cố tình lạ mặt, bởi vì không có một ngôn ngữ nào có thể làm cho chúng tôi xích lại gần nhau. Chúng tôi biết sau này giữa họ và chúng tôi, có thể gặp nhau nơi trận tuyến, chỉ cầu mong cho những người du ca sẽ đứng trong hai lằn ranh, không phải trực diện với nhau ngoài mặt trận.

Vì sự việc xẩy ra ở quá xa chúng tôi, nên tôi không thể biết được cái gì đã xẩy ra nơi đó, nhưng trong lòng tôi là vô vàn ân hận. Vả lại thời gian này tôi đã nhập ngũ, đã ra trường và được phục vụ tại TCCTCT. Cho dù tôi có muốn làm một cái gì đó cho người nằm xuống thì tôi không có hoàn cảnh thực hiện.

Khi phong trào thành lập và hoạt động được hai năm thì tôi tin rằng phong trào sẽ không bao giờ tan vỡ, bởi vì những người du ca chúng tôi đáp ứng cho một nhu cầu xã hội lúc bấy giờ. Chúng tôi không làm chính trị, nhưng không một ai có thể chối cãi sinh hoạt của du ca có một ý thức chính trị cao. Chỉ nội một điều chúng tôi ca tụng tự do, hô hào cho tự do đã đủ làm cho cả hai phe tham chiến không lấy gì hài lòng. Bởi vì tự do là một cái gì hoàn toàn lạ mặt đối với phía Cộng Sản, còn đối với chính phủ miền Nam, chúng ta có một thứ tự do bị hạn chế khá nhiều. Chúng tôi không muốn dính dự vào chính trị, nhưng những người làm chính trị thì lại muốn chúng tôi. Thành thử đã có nhiều lần người ta tìm cách vận dụng chúng tôi.

Một trong những người đã nhìn du ca khá trịnh trọng là Nguyễn Cao Kỳ. Lần đó chúng tôi có một sinh hoạt đặc biệt nơi rạp Thống Nhất, ông Kỳ khi đó là Chủ Tịch Uỷ Ban Hành Pháp Trung Ương, nói gọn ra là Thủ Tướng. Hình thức sinh hoạt của du ca làm cho ông Kỳ bị kích thích. Sau khi buổi sinh hoạt tan, ông Kỳ nói với tôi: “Toa tới gặp Nguyễn Bảo Trị, ông Trị sẽ lo liệu cho du ca”.

Trong bụng tôi nghĩ du ca đâu có phải là một mình tôi, và cũng đâu có phải là một món đồ, tùy thích muốn mang đi đâu thì đi. Nhưng tôi cũng thử đến gặp ông Nguyễn Bảo Trị, từ ông Trị tôi được đẩy xuống gặp Nhạc Sĩ Phạm Đình Chương. Nhờ vậy mà tôi được gặp một nhạc sĩ mà tôi hết sức khâm phục, tác giả của những bài ca tôi đã từng hát hoài hoài trong những năm niên thiếu. Câu chuyện giữa tôi và nhạc sĩ Phạm Đình Chương sau cùng là chuyện văn nghệ, văn gừng. Và rồi không có gì xẩy ra giữa du ca và chính quyền, và rồi một thời gian ngắn sau ông Kỳ không còn làm Thủ Tướng, ông Trị không còn làm Tổng Trưởng Thông Tin, nhưng Du Ca thì còn đó mãi, sống còn với miền Nam và chỉ không thể hoạt động kể từ tháng Tư năm 75.





Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét