Thứ Năm, 1 tháng 7, 2010

Những Nghịch Lý Lịch Sử của Thế Kỷ 20 Và Hành Trình Đi Tìm Tính Chính Thống Lịch Sử ở Thế Kỷ 21

Trần Vàng Sao:
Một thế hệ hoang phí
4. Sự thành hình của thế hệ tả phái sau 1954

Bên cạnh một thế hệ thanh niên nhận thức nguy cơ của Cộng sản đối với đất nước, một thành phần thanh niên miền Nam đã nhìn đảng CS bằng con mắt yêu nước của Cách Mạng Tháng Tám, Nam Kỳ Khởi Nghĩa và chiến thắng Điện Biên Phủ. Cái vinh quang của độc lập và chiến thắng ngoại xâm làm lu mờ hình ảnh đấu tố, cải cách ruộng đất, Nhân Văn Giai Phẩm ở miền Bắc.

Đồng thời hình ảnh của những đốc phủ sứ, quan lại triều đình Huế thời Pháp thuộc được hồi sinh trong chính quyền miền Nam giữa một miền Bắc “sôi sục cách mạng” đã tạo ra những phản cảm của một số thanh niên đầy nhiệt huyết đối với chính quyền miến Nam. Sự kém cỏi về lãnh đạo, sự tùy thuộc vào Hoa Kỳ cũng như sự can thiệp sâu đậm của Hoa Kỳ vào việc điều hành miền Nam đã làm cho mối phản cảm đó sâu rộng hơn.

Thêm vào đó, kỹ thuật tuyên truyền của Cộng Sản, sự yểm trợ của quốc tế Cộng Sản, của Liên Xô, Đông Âu, Trung Quốc cho chiến tranh Việt Nam, làm cho lòng yêu nước của thành phần nầy tiếp nối cái hào khí Cách mạng tháng 8 và Điện Biên Phủ, bất kể thảm hoạ mà chủ thuyết Cộng Sản có thể đem đến cho dân tộc.

Những người trí thức thế hệ 1945 như Nguyễn Hữu Thọ, Trương Như Tảng, Trịnh Đình Thảo, Lưu Hữu Phước, Mai Văn Bộ, Nguyễn Hộ v.v. đã chọn con đường dân tộc dưới ngọn cờ của đảng CS Việt Nam. Những người như Trương Như Tảng, Trịnh Đình Thảo, Lê Văn Hảo, cũng như những người thuộc “thành phần thứ ba” vẫn chưa nhận thức về hiểm hoạ cộng sản, và họ đã từ bỏ đời sống tiện nghi của miền Nam để vào bưng theo Việt Cộng. Trịnh Công Sơn ngày 30 tháng 4 năm 1975 lên đài phát thanh kêu gọi mọi người ở lại để xây dựng đất nước và gọi những người ra đi là phản bội tổ quốc. Họ không tin và không ngờ là cộng sản có khả năng từ bỏ nhân tính để thực hiện chủ nghĩa cộng sản tại Việt Nam vào cuối thế kỷ 20. Nhiều người không tin là đảng cộng sản có khả năng lừa dối những người yêu nước một cách hào nhoáng như thế. Nhưng đa số đều tỉnh ngộ khi đất nước thống nhất. Sau nầy Nguyễn Hộ và những ngườì tham gia Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam cũng thấy được chủ nghĩa Cộng Sản không phải là đáp số cho dân tộc.

Khi quân đội Mỹ đổ bộ vào Việt Nam thì một thành phần trí thức trẻ miền Nam đã đứng hẳn vào chiến tuyến của người CS. Những người mà ngày nay báo chí vẫn thường nhắc đến như Hoàng Phủ Ngọc Tường, Hoàng Phủ Ngọc Phan, Nguyễn Đắc Xuân, Trần Vàng Sao, Phan Duy Nhân, Tôn Thất Lập, Tiêu Dao Bảo Cự, Huỳnh Tấn Mẫm v.v.. Không biết có bao nhiêu người ôm giấc mộng làm cách mạng vô sản để đưa đất nước về thời cộng sản nguyên thủy. Nhưng có lẽ phần lớn họ đến với đảng CS vì lòng bồng bột của tuổi trẻ, vì hình ảnh hào hùng của Điện Biên Phủ, CM Tháng 8, vì giấc mơ dân tộc, vì mối phản cảm với tính không chính thống lịch sử của chế độ miền Nam, vì sự thối nát và tham nhũng của chính quyền miền Nam, và vì sự hiện diện của quân đội Mỹ thay thế cho quân đội Pháp.

Thế hệ thanh niên miền Bắc được đẩy vào chiến trường miền Nam với giấc mơ giải phóng Miền Nam để cứu nước. Từ lớp thanh niên nầy đến lớp thanh niên khác lên đường vào Nam được trang bị với những bài tuyên truyền giả dối về một miền Nam đói rách quằn quại dưới gót giày xâm lược của đế quốc Mỹ. Những con người như Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc … mãi mãi tuổi hai mươi ... đem tất cả tuổi xanh dâng cho đảng trong niềm tin tuyệt đối là đảng CS sẽ dẫn đưa đất nước đến thiên đường xã hội chủ nghĩa. Họ không được may mắn sống đến ngày đất nước thống nhất, như Dương Thu Hương phải gục khóc bên đường nhìn thấy một miền Nam thịnh vượng bị san bằng bởi những người Cộng Sản cuồng tín. Họ không được sống để chứng kiến một nền văn học ngắn ngủi nhưng phong phú về giá trị văn học bị những người Cộng Sản đưa lên dàn hoả thiêu ở cuối thế kỷ thứ 20, và đã được các học giả Nguyễn Đăng Mạnh, Nguyễn Hiến Lê kể lại.


Những người như Trần Vàng Sao nhiệt tình tham gia cách mạng và chiến đấu ở chiến trường miền Nam. Chỉ với cái tên "vàng sao" cũng thấy được chất bônsêvích tràn đầy lý tưởng cách mạng trong con người sinh viên miền Nam nầy. Nhưng khi được chuyển ra ngoài Bắc để chữa thương ông đã bật ngửa trước sự dối trá của chế độ cộng sản. Ông chứng kiến được một miền Bắc nghèo nàn thê lương với một chính quyền độc tài tàn bạo phi nhân tính. Những nhận thức của ông về chủ nghĩa cộng sản trở thành hồ sơ của một kẻ đại phản động. Suốt đời còn lại ông bị trù dập vì đã nói lên sự thật.

Những người như Tôn Thất Lập, La Hữu Vang với những dòng nhạc yêu nước… Ôi tổ quốc ta đã nghe lời réo gọi, Hát âm u trong đêm tiếng hát Trưng Vương hồng thơm, Người đời người trong ngày hội trùng tu … trong thời kỳ “chống Mỹ cứu nước” ngày nay ở đâu khi ngư phủ Việt Nam bị hải quân Trung Quốc bắn giết trong vùng lãnh hải Việt Nam, khi Hoàng Sa và Trường Sa bị cưỡng chiếm?

Những người cộng sản hy sinh cuộc đời chiến đấu giành độc lập, thống nhất cho Việt Nam để làm gì? Phục hưng dân tộc chăng? Biến Việt Nam thành một cường quốc kinh tế như Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore chăng? Tại sao bao thế hệ thanh niên phải sinh Bắc tử Nam, thà đốt cả dãy Trường Sơn để đánh Mỹ mà bây giờ không dám lên tiếng để cứu dân tộc trước hiểm hoạ xâm lăng của Trung Quốc? Tại sao theo Nga, theo Tàu là chính nghĩa? Tại sao yêu nước là yêu xã hội chủ nghĩa? Tại sao phải tôn thờ Liên Xô là tổ quốc thứ hai của người cộng sản Việt Nam? Tại sao đấu tranh giai cấp, giết những người tư sản, trí thức yêu nước là chính nghĩa? Tại sao cấm tự do báo chí, cấm tự do ngôn luận là chính nghĩa? Trong khi đó đồng minh với Hoa Kỳ, đòi hỏi nhân quyền, tự do dân chủ là phản bội dân tộc? Có phải sự tiến bộ và phồn vinh mà thế giới tự do đem lại cho miền Nam Việt Nam cùng với những giá trị nhân bản của nền dân chủ bền vững của thế giới đi ngược lại với giá trị và quyền lợi của những người Cộng Sản?

Có một dân tộc nào trên thế giới phải hy sinh hàng bao thế hệ để chiến đấu cho một nền độc tài tước đoạt mọi quyền tự do của con người như dân tộc Việt Nam chăng?

TÌM LẠI CHÍNH THỐNG LỊCH SỬ
Như đã nói trên, không có một logic nào có thể giải thích được những nghịch lý lịch sử Việt Nam của thế kỷ thứ 20. Chỉ có sự nhận thức về những nghịch lý lịch sử mới có thể hiểu được dòng lịch sử kỳ lạ nhất trong chiều dài 5,000 năm lịch sử của dân tộc.
Điều không thể chối cãi là thế kỷ thứ 20 được làm nên bởi những người yêu nước và không yêu nước. Yêu nước cũng làm nên lịch sử, tay sai cũng làm nên lịch sử, và thành phần cơ hội cũng làm nên lịch sử. Làm thế nào để phân định yêu nước, tay sai hay cơ hội? Phải chăng không có một thước đo chuẩn mực nào có thể đo chính xác lòng yêu nước của thế hệ lớn lên ở thế kỷ 20?
Làm thế nào thế hệ Việt Nam lớn lên ở thế kỷ 21 có thể cùng ngồi lại với nhau để xây dựng đất nước khi người nầy có cha ông làm tay sai cho Tây, cho Mỹ, người kia có cha ông làm tay sai cho Nga, Tàu? Người có thân nhân bị giết bị bom đạn Mỹ, Nga, Tàu, người có thân nhân bị đấu tố chôn sống vì là địa chủ, tư sản.
Thế kỷ thứ 20 đánh dấu một giai đoạn độc lập sau gần 80 năm bị thực dân Pháp đô hộ. Tuy nhiên đó là một giai đoạn độc lập bị vong thân trên chính nền độc lập của mình. Không một chính quyền nào được xây dựng trên tiếng gọi của hồn sử để chúng ta có thể cảm nhận được lịch sử 5000 năm đổ dồn về trong ta, như … máu ta từ thành Văn Lang dồn lại.

Thời kỳ độc lập hậu Pháp thuộc cũng có những nét tương tự như thời độc lập hậu Hán thuộc. Khi Ngô Quyền phá quân Nam Hán ở sông Bạch Đằng giành được độc lập cho dân tộc thì sau đó, chính con cháu của ông trở thành những kẻ trở lại đầu hàng quân Nam Hán để giữ vững ngai vàng. Loạn 12 sứ quân tiếp theo thời đại Ngô Quyền chỉ dấu một thời kỳ tự chủ vong thân. Phải có ngọn cờ lau Vạn Thắng của Đinh Bộ Lĩnh mới thống nhất được đất nước. Nhưng đó là giai đoạn chuyển tiếp của lịch sử. Phải đợi đến khi Lý Công Uẩn lên ngôi mới mở ra được thời kỳ phục hưng Lý Trần. Phải có con người như Sư Vạn Hạnh biết phóng tầm nhìn về tương lai mới có thể mở ra thời đại mới cho dân tộc.

Bi kịch của dân tộc ở thế kỷ thứ 20 là những người cách mạng chống Pháp, cầm nắm lấy ngọn cờ dân tộc dành độc lập và thống nhất được đất nước là những người đi theo chủ nghĩa phản dân tộc. “Trí phú địa hào đào tận gốc trốc tận rễ” là một bản tuyên chiến với dân tộc, với thành phần trí thức ưu tú là nguyên khí của quốc gia, và với thành phần tư sản là thành phần có khả năng làm giàu cho đất nước.
Ngày nay chúng ta không thể hiểu được tại sao cả một thế hệ trí thức tiến bộ yêu nước của thế kỷ 20 đồng thuận với chủ nghĩa cộng sản để có những người trí thức như Nguyễn Mạnh Tường tốt nghiệp tiến sĩ văn chương và luật khoa ở Paris lao đầu vào cuộc kháng chiến chống Pháp với tất cả tuổi xanh rồi đành đoạn ngồi vá xe đạp ở lề đường Hà Nội kiếm sống dưới chế độ Cộng Sản. Hay những người như luật sư Trịnh Đình Thảo tốt nghiệp luật ở Paris, làm bộ trưởng Tư pháp đầu tiên trong chính phủ Trần Trọng Kim, được ưu đãi ở Sài Gòn, lại vào bưng theo Việt Cộng sau tết mậu thân 1968.

Trong khi đó, những người một thời đi theo thực dân Pháp, làm tay sai cho Pháp, đã trở về gần gũi với dân tộc. Họ chưa hẳn đứng trên lập trường dân tộc. Nhưng trong môi trường chính trị không bị thống trị bởi tư tưởng ngoại bang tình tự dân tộc dễ dàng phát tiết. Họ trở thành những nhà lãnh đạo quốc gia với một nền độc lập “bất chiến tự nhiên thành”. Trong cuộc chiến tranh lạnh, họ trở thành đồng minh của Hoa Kỳ. Họ đã biến miền Nam thành một đất nước trù phú, thịnh vượng với một nền dân chủ, dù rất mong manh, cũng đủ gieo hạt giống cho các thế hệ về sau. Dù họ chỉ là những người cơ hội, không có cái hào khí của những người tham gia Cách mạng tháng Tám, hay không thừa hưởng tinh thần cách mạng của những đảng phái quốc gia chống Pháp. Dù họ không có dư thừa tinh thần tự do dân chủ, ít ra, họ không dám làm cách mạng để giết oan hàng trăm ngàn người dân vô tội, và đưa dắt đất nước vào cuộc chiến tương tàn lầm than. Và nếu không có chiến tranh, miền Nam đã trở thành một Hàn Quốc ngày nay.


Thế hệ 2000 phải thừa kế một di sản lịch sử đầy nghịch lý của thế kỷ 20. Nếu không giải quyết được cái nghịch lý đó, và không vượt lên những nghịch lý đó, thế hệ đương đại không thể tiếp tục hành trình dân tộc trong một giai đoạn chuyển tiếp của một công cuộc vận động lịch sử mới để đưa đất nước vào thế kỷ thứ 21.

Làm thế nào người Cộng Sản có thể thực hiện được cuộc cách mạng dân tộc mà vẫn phải vác trên vai nghĩa vụ quốc tế của chủ nghĩa Mác Lê với sự can thiệp sâu đậm của Trung Quốc vào độc lập dân tộc và sự toàn vẹn lãnh thổ?

Làm thế nào những người quốc gia có thể thực hiện được cuộc cách mạng dân tộc với di sản của Việt Nam Cộng Hoà với những người lãnh đạo đã từng tham gia chính quyền thuộc địa để quay mặt lại với dân tộc, đã thí bỏ miền Trung và cao nguyên cho Cộng Sản khi còn binh hùng tướng mạnh, hay trở thành một thứ kiều vận cho cộng sản? Không gian chính trị dân tộc bị xoá nhoà bởi cuộc chiến Quốc Cộng và biến mất dưới chế độ toàn trị của đảng Cộng Sản Việt Nam. Không gian dân tộc chỉ có thể được tái lập bằng lòng yêu nước tinh ròng với tầm nhìn vượt qua được những taboo lịch sử, như khi “Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ” của Nguyễn Đức Quang vượt đại dương trở về với thế hệ thanh niên sinh viên lớn lên trong chế độ cộng sản để hát vang trong cuộc biểu tỉnh chống Trung Quốc xâm lăng Biển Đông. Đó là lòng yêu nước không bị vẩn đục bởi ý thức hệ ngoại bang và bởi những di sản của thời kỳ vong thân. Đó là lòng yêu nước vượt qua được lằn ranh phân tranh Nam-Bắc, quốc cộng.

Bài đáp lịch sử cho thế hệ 2000 là sự nhận thức rằng sau một thời kỳ vong thân, những người yêu nước chân chính phải thấy được mục đích tối hậu của cách mạng Việt là sự phục hưng và phục hoạt dân tộc để phục vụ quốc dân và tổng thể cộng đồng dân tộc Việt trên giá trị của nhân loại toàn tính. Không có cái tổ quốc gì gọi là tổ quốc xã hội chủ nghĩa đóng đô ở Matcơva, hay Bắc Kinh, hay Hà Nội. Chỉ có một tổ quốc duy nhất là Việt Nam. "Tôi có một tổ quốc và anh có một tổ quốc là Việt Nam mến yêu" (ĐHY Nguyễn Văn Thuận). Do đó, những dòng vong thân phải được chảy trở về dòng chính của lịch sử.

Sự tái lập tính chính thống lịch sử ngày nay là sự vượt qua giai đoạn vong thân để tiếp nối công cuộc cách mạng trên lập trường dân tộc của Phan Bội Châu và tư tưởng dân chủ của Phan Châu Trinh. Cuộc cách mạng nầy đã được tiếp nối bởi Nguyễn Thái Học, Lý Đông A, Nguyễn

Tường Tam, Huỳnh Phú Sổ, Trương Tử Anh. Và tình trạng vong thân hiện nay chỉ có thể được chấm dứt khi lòng yêu nước của người Việt Nam được tái định hướng bằng con đường dân tộc. Những người yêu nước có thể bất đồng quan điểm nhưng không bao giờ tiêu diệt nhau để hủy hoại sức mạnh của dân tộc.

Sự tái hợp của những người yêu nước trên lập trường dân tộc trong sáng của Phan Sào Nam, và tư tưởng dân chủ của Phan Châu Trinh sẽ là cuộc vận động lịch sử mới. Nó không phải là chiêu bài hoà hợp hoà giải dân tộc làm máy trợ sinh để kéo dài mạng sống cho một chủ nghĩa đang chết não và đã bị loài người đào thải. Nhưng đó là sự tái lập tất yếu không gian dân tộc đã bị bào mòn bởi thời kỳ vong thân, và là sự tiếp nối tất yếu của lịch sử để mở ra một thời đại tự do dân chủ cho Việt Nam. Và tự do dân chủ trên lập trường dân tộc sẽ là bệ phóng để đưa đất nước vào đại vận phục hưng mới của thế kỷ 21 và để dân tộc Việt được hoà nhập vào cộng đồng nhân loại, để được sống bình thường như mọi dân tộc văn minh khác trên thế giới.

NGUYỄN XUÂN PHƯỚC
Dallas, 30-4-2011



1   2   3   4   5

1 nhận xét:

  1. Bài viết hay nhưng có vài sơ hở làm mất tính cách trung thực. Hãy đọc câu: "Tôi có một tổ quốc và anh có một tổ quốc là Việt Nam mến yêu" (ĐHY Nguyễn Văn Thuận). Sự thực là ông Nguyễn văn Thuận có hai tổ quốc, tổ quốc La Mã và tổ quốc Việt Nam.

    Trả lờiXóa