Thứ Năm, 1 tháng 7, 2010

Những Nghịch Lý Lịch Sử của Thế Kỷ 20 Và Hành Trình Đi Tìm Tính Chính Thống Lịch Sử ở Thế Kỷ 21

Năm 1930 các đảng cộng sản tại Đông Dương đã được Hồ chí Minh từ Liên xô trở về Trung Hoa đứng ra chủ trì công cuộc thống nhất và Đảng Cộng Sản Việt Nam ra đời.

Năm 1943 các đảng phái quốc gia gồm Việt Nam Quốc Dân Đảng, Đại Việt, Đại Việt Dân Chính và Đại Việt Duy Dân họp với nhau ở Liễu Châu, và đã thống nhất trở thành Đại Việt Quốc Dân Đảng, lấy tư tưởng duy dân của Lý Đông A làm kim chỉ nam hoạt động.  Tài liệu ký trình do Nguyễn Tường Tam soạn thảo với 5 chữ ký của Vũ Hồng Khanh, Nghiêm Kế Tổ, Nguyễn Tường Tam, S.H. (Trương Tử Anh?) và Lý Đông A, được bác sĩ Nguyễn Tường Bách, em trai út của Nguyễn Tường Tam, công bố  trong Hồi ký Nguyễn Tường Bách. Tài liệu nầy hiện được ông Nguyễn Tường Thiết, con trai của Nguyễn Tường Tam lưu giữ.

Mít ting tổng khởi nghĩa tại quãng trường Nhà Hát Lớn

CÁCH MẠNG THÁNG TÁM VÀ CHÍNH PHỦ LIÊN HIỆP

Tháng 5 năm 1940 Đức Quốc Xã chiếm đóng nước Pháp và dựng lên chính phủ Vichy do thống chế Petain làm tổng thống. Trong thời gian đó, Đông Dương nằm dưới quyền lãnh đạo của chính phủ Vichy.

Năm 1940, Nhật Bản tấn công Đông Dương và nhanh chóng thỏa thuận được với chính quyền Vichy ở Pháp để Nhật toàn quyền cai trị Đông Dương. Tháng 3 năm 1945 Nhật lật đổ Pháp trên toàn bộ Đông Dương và thiết lập một chính quyền Bảo Đại bù nhìn với chính phủ do một nhà nho uy tín là Trần Trọng Kim đứng đầu.

Việt Minh (viết tắt của Việt Nam Độc lập Đồng minh Hội) do Hồ Chí Minh thành lập năm 1941 tại Trung Quốc với vai trò một mặt trận thống nhất dân tộc để giành độc lập. Tổ chức này do Đảng Cộng sản Đông Dương lãnh đạo. Tháng 12 năm 1944, đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân, lực lượng vũ trang của Việt Minh và tiền thân của Quân đội Nhân dân Việt Nam, được thành lập tại Cao Bằng.

Chính Phủ Liên Hiệp

Đầu năm 1945, Việt Nam rơi vào một tình trạng hỗn loạn. Chiến tranh đã làm kiệt quệ nền kinh tế, người Nhật chiếm lấy lúa gạo và các sản phẩm khác, bắt dân phá lúa trồng đay để phục vụ chiến tranh, cộng thêm thiên tai, nạn đói (Nạn đói Ất Dậu) đã xảy ra tại Bắc kỳ và Trung kỳ. Người ta ước tính rằng đã có khoảng hai triệu người chết vì nạn đói này.

Ngay sau khi Nhật Bản đầu hàng quân Đồng Minh, tình trạng chân không chính trị xảy ra tại Việt Nam. Chính phủ Trần Trọng Kim-Bảo Đại không có thực lực lãnh đạo đất nước. Các đảng phái Quốc Gia không tiên liệu đưọc thời cơ. Trong khi đó lực lượng Việt Minh lợi dụng tình hình và đã tổ chức thành công cuộc cuộc biểu tình đòi lật đổ chính phủ Trần Trọng Kim tại Hà Nội. Ngày 19 tháng 8 năm 1945, Hồ Chí Minh tuyên bố Việt Nam thống nhất và độc lập với tên gọi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và thành lập chính phủ lâm thời gồm đa số những đảng viên cộng sản. Ngày 30 tháng 8 năm 1945 Bảo Đại chính thức thoái vị, trao ấn kiếm cho đại diện Việt Minh và Việt Nam chính thức chấm dứt nền quân chủ để thành lập chế độ cộng hoà. Như thế sau vua Duy Tân, nhà Nguyễn như con bệnh đã chết não, tiếp tục sống bằng guồng máy trợ sinh (life support) của chế độ thực dân Pháp. Khi bác sĩ rút ống, con bệnh mới hoàn toàn từ giã cõi đời.

Ngày 2 tháng 9 năm 1945, chính phủ lâm thời Việt Minh ra mắt quốc dân. Chính phủ nầy tồn tại đến ngày 1-1-1946 đưọc thay thế bằng chính phủ liên hiệp lâm thời được thành lập gồm những nhà cách mạng quốc gia và cộng sản. Sau đó một hiến pháp dân chủ đầu tiên ra đời đó là hiến pháp 1946, xác định giá trị pháp lý khai sinh của nhà nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà.

Chính phủ Liên Hiệp Lâm Thời tồn tại rất mong manh giữa những mâu thuẫn nội tại giữa phe Quốc Gia và Cộng Sản, trong bối cảnh thực dân Pháp đang trở lại để tái lập chế độ thuộc địa với những người Việt yêu nước Pháp đang chầu chực để đón tiếp quan thầy cũ.

Chính phủ Liên Hiệp Kháng Chiến tồn tại cho đến khi biến cố Ôn Như Hầu xảy ra vào tháng 7 năm 1946. Trong biến cố nầy ông Võ Nguyên Giáp chỉ huy lực lượng Việt Minh tấn công cơ sở của Việt Nam Quốc Dân Đảng, giết nhiều đảng viên VNQDĐ và bắt được Nghiêm Kế Tổ và Phan Kích Nam. Ngoài ra trong thời gian nầy các cơ sở kháng chiến của các đảng phái Quốc Gia khắp nơi bị tấn công. Lãnh tụ Đại Việt Trương Tử Anh, Đai Việt Duy Dân Lý Đông A bị thủ tiêu. Nguyễn Hải Thần và Nguyễn Tường Tam trốn thoát qua Trung Hoa. Liên hiệp Quốc-Cộng chấm dứt.

Từ đó trở đi, cộng sản hoàn toàn nắm chính phủ, tiếp tục lãnh đạo công cuộc kháng chiến chống Pháp, xây dựng xã hội chủ nghĩa miền Bắc, phát động và chỉ đạo chiến tranh miền Nam sau khi đất nước chia đôi, và sau đó thống nhất đất nước.

GIẢI PHÁP BẢO ĐẠI 1948 VÀ SỰ XUẤT HIỆN LỰC LƯỢNG QUỐC GIA THÂN PHÁP

Sau thế chiến thứ hai, Liên Hiệp Quốc khuyến cáo các nước thực dân phải trao trả độc lập cho các nước thuộc địa. Mô hình Trusteeship do tổng thống Roosevelt đề nghị được Liên Hiệp Quốc chấp thuận và Liên Hiệp Quốc đã thành lập Hội Đồng Giám Hộ (tạm dịch cho chữ Trusteeship Council) để giúp các nước thuộc địa giành lại độc lập không đổ máu. Tuy nhiên sau thế chiến thứ hai, thế giới bước vào giai đoạn chiến tranh lạnh giữa Liên Xô và Hoa Kỳ. Do đó, tổng thống Truman thay đổi chiến lược và chấp nhận để Pháp trở lại Việt Nam nhằm ngăn chặn làn sóng Cộng Sản. Nhờ đó, Pháp đã theo chân quân đội Anh và Trung Hoa đại diện đồng minh trở lại Đông Dương để tiếp thu khí giới và nhận sự đầu hàng của Nhật Bản. Pháp âm mưu tái lập chính quyền thuộc địa để được bám vào bầu sữa Đông Dương nhằm thu hút tài nguyên để giúp cho mẫu quốc hồi sinh sau cơn đại nạn thế chiến.

Để đáp ứng yêu cầu Liên Hiệp Quốc giải thể chế độ thuộc địa đồng thời vẫn tiếp tục hưởng lợi ở Đông Dương, Pháp đưa ra chiến lược Việt Nam hoá chế độ thực dân theo mô hình bảo hộ, đã được áp dụng cho triều đình Huế theo hòa ước Patenôtre. 

Khi thấy Pháp không thành thật trao trả độc lập cho Việt Nam và bắt đầu tái lập chế độ thuộc địa, chính phủ Hồ Chí Minh tuyên bố toàn quốc kháng chiến vào ngày 19 tháng 12 năm 1946.

TT Nguyễn Văn Xuân và Bảo Đại
Trong khi đó, Pháp tập hợp các nhân sĩ Nam Kỳ trước đây trong chính quyền thuộc địa để thành lập nước Nam Kỳ tự trị nhằm tách miền Nam ra khỏi miền Bắc và miền Trung đang nằm dưới sự kiểm soát của chính quyền Việt Minh do Hồ Chí Minh lãnh đạo. Từ năm 1946 đến 1948 chính phủ "Nam Kỳ Quốc" cải tổ nhiều lần, song vẫn không được ổn định và liên tiếp thất bại. Quá trình thành lập chính phủ Nam Kỳ gồm các chính phủ như sau:

· Chính phủ (lâm thời) ở Nam Kỳ (26 tháng 3, 1946 - 30 tháng 5, 1946)
· Chính phủ lâm thời Cộng hòa Nam Kỳ tự trị (1 tháng 6, 1946 - 7 tháng 10, 1947)
· Chính phủ lâm thời Nam phần Việt Nam (8 tháng 10, 1947 - 27 tháng 5, 1948)

Sau một thời gian ngắn tham gia chính phủ lâm thời kháng chiến VNDCCH với tư cách là một cố vấn chính phủ, Bảo Đại đào thoát qua Hồng Kông.  Năm 1948, các nhà cách mạng quốc gia gồmNguyễn Tường Tam, Nguyễn Tường Long, Vũ Hồng Khanh, cố gắng tiếp xúc để đưa ra giải pháp Bảo Đại, nhằm xây dựng một nước Việt Nam độc lập không Cộng Sản. Nhưng nỗ lực nầy không thành công.  Bảo Đại đã từ chối hợp tác với các đảng phái cách mạng quốc gia.


Pháp đầu hàng Việt Minh ở Điện Biên Phủ

Trong chiêu bài Nam Kỳ Quốc thất bại, người Pháp đã nghĩ đến giải pháp Bảo Đại để chống lại phong trào kháng chiến giành độc lập của Việt Minh. Người trung gian của Pháp là Đại tá Nguyễn Văn Xuân. Vào giữa năm 1947, Nguyễn Văn Xuân được nhà nước Pháp phong quân hàm Thiếu tướng và ngày 8 tháng 10 năm 1947, ông được Hội đồng tư vấn Nam kỳ bầu vào chức vụ thủ tướng và thành lập chính phủ Nam Kỳ quốc, với tên mới là chính phủ Nam phần Việt Nam.

Qua trung gian Nguyễn Văn Xuân, Bảo Đại cố gắng thương lượng với Pháp về chủ quyền đất nước. Theo Thỏa ước Vịnh Hạ Long ngày 6 Tháng Chạp giữa Cao ủy Bollaert và Bảo Đại thì Pháp thừa nhận nước Việt Nam "độc lập" nhưng có điều kiện hạn chế về ngoại giao, quốc phòng và quy chế dân tộc thiểu số. Để xúc tiến việc trao trả độc lập hoàn toàn và sửa đổi những khoản trên, ngày 26 Tháng Ba, 1948 ở Hương Cảng Bảo Đại tuyên bố thành lập chính phủ trung ương của Quốc gia Việt Nam. Bốn người được đề cử làm thủ tướng lúc bấy giờ là Ngô Đình Diệm, Lê Văn Hoạch, Trần Văn Hữu và Nguyễn Văn Xuân nhưng Ngô Đình Diệm và Lê Văn Hoạch khước từ vì không tán thành nghị định thư của Thỏa ước Vịnh Hạ Long. Cuối cùng Trần Văn Hữu nhường cho Nguyễn Văn Xuân làm thủ tướng Chính phủ lâm thời Quốc gia Việt Nam.[1]

Đến ngày 5 tháng 6 năm 1948 thì tuyên cáo Hạ Long được chính thức ký kết, theo đó nước Pháp thừa nhận nền độc lập của Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Bảo Đại. Ngày 8 tháng 3 năm 1949, Tổng thống Pháp Vincent Auriol và Cựu hoàng Bảo Đại đã ký Hiệp ước Elysée, thành lập một chính quyền Việt Nam trong khối Liên hiệp Pháp, gọi là Quốc gia Việt Nam.

Thành phần quốc gia mới nầy là tập hợp quan lại triều đình Huế và công chức trong chính quyền thuộc địa, bị rơi vào tình trạng khủng hoảng lãnh đạo sau khi Bảo Đại thoái vị năm 1945.  Đến năm 1948 khi giải pháp Bảo Đại ra đời thì thành phần nầy được phục hồi dưới danh xưng chính trị là “thành phần Quốc gia.” Một số nhà cách mạng chống Pháp trước đây như Vũ Hồng Khanh cũng tham gia vào chính phủ Bảo Đại nhưng họ chỉ đóng vai trò thứ yếu, và tạo sự chia rẽ trong hàng ngũ Việt Nam Quốc Dân Đảng.

Suốt từ năm 1948 đến 1954, các thủ tướng của Quốc Gia Việt Nam là những cựu viên chức hay nhân sĩ chính quyền thuộc địa trước đây, như thiếu tướng Nguyễn Văn Xuân, Nguyễn Phan Long, Nguyễn Văn Tâm, Trần Văn Hữu. Đến năm 1954 tình hình quân sự suy sụp, quân đội Pháp bị bao vây ở Điện Biên Phủ, và thất bại khắp nơi. Bảo Đại phải chọn những người thuộc triều đình Huế để lèo lái đất nước.  Tháng giêng năm 1954, hoàng thân Bửu Lộc được chọn làm thủ tướng, và đến tháng 6, 1954, Ngô Đình Diệm, vốn là cựu thượng thư và là nhà bất đồng chính kiến dưới thời Pháp thuộc, được chọn để thay thế cho Bửu Lộc.

Năm 1954 Pháp đầu hàng Việt Minh ở Điện Biên Phủ. Hiệp Định Genève năm 1954 chia đôi Việt Nam lấy vĩ tuyến 17 làm ranh giới. Miền Bắc thuộc thẩm quyền của Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà dưới sự lãnh đạo của chủ tịch Hồ Chí Minh và đảng Cộng Sản Việt Nam (tên chính thức là đảng Lao Động). Miền Nam thuộc thẩm quyền của Quốc Gia Việt Nam dưới sự lãnh đạo của quốc trưởng Bảo Đại.

Cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất 1946-1954 là cuộc chiến giữa chính phủ Việt Minh và chính phủ Pháp với sự trợ lực của chính phủ Quốc Gia Việt Nam đứng đầu là quốc trưởng Bảo Đại do Pháp nặn lên. Khi Pháp thất trận ở Điện Biên Phủ, họ đã trao trả độc lập cho chính quyền Bảo Đại.

Nói tóm lại, năm 1948, Bảo Đại đã đánh mất cơ hội tái lập lại tính chính thống của triều đình Huế khi ông từ chối hợp tác với các đảng phái Quốc gia chống Pháp.  Quyết định của Bảo Đại bác bỏ đề nghị của Nguyễn Tường Tam, Hoàng Đạo để thành lập chính phủ Quốc gia là một thất bại lịch sử.  Sự hợp tác của Bảo Đại với Nguyễn Văn Xuân là sự tiếp nối tính bất chính thống của Bảo Đại và triểu đình Huế, và tạo ra một nghịch lý lịch sử cho miền Nam sau nầy.



1   2   3   4   5

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét