Thứ Năm, 1 tháng 7, 2010

Nguyễn Mạnh Tường (1909-1997)

Thụy Khuê

Bài 1: Giai đoạn trước 1954

(2)

Về nước, những sáng tác đầu tiên
Chuyến đi thăm miền Địa Trung Hải đã giúp Nguyễn Mạnh Tường viết 4 tác phẩm:
Sourires et larmes d'une jeunesse, Construction de l'Orient-Pierres de France, Construction de l'Orient-Apprentissage de la Méditéranée và Le voyage et le sentiment.

Ông giải thích ý nghiã hai tác phẩm đầu:
"Tây cho Đông kỹ thuật, quan niệm về nhân quyền, về cái chừng mực và đa dạng của con người, về phương pháp suy tư và về một quan điểm đời sống. Và tôi đã viết hai cuốn: "Pierres de France (Nguyên liệu từ Pháp), "Apprentissage de la Méditérranée" (Học hỏi văn minh Địa Trung Hải) để diễn tả những điểm trên" (Phạm Trần, bđd).

Hai cuốn sách còn lại, viết về sự xung đột giữa hai nền văn minh Đông Tây:
"Sourires et larmes d'une jeunesse" (Nụ cười và nước mắt tuổi thanh xuân) diễn tả cái xung đột giá trị nơi một thanh niên Việt thấm nhiễm văn hóa Tây. Chàng thanh niên được ví như đứa con hoang đàng trong Kinh Thánh, đã quen với nếp sống tự do, nay trở về bị truyền thống gia đình ràng buộc. Và chàng đã phải tự đấu tranh tìm một giải pháp dung hòa cho cuộc sống. Vở kịch "Le voyage et le sentiment" (Du hành và tình cảm) nói lên hai khía cạnh khác nhau giữa Đông (nặng tình cảm, thuỷ chung) và Tây (như một tay du lịch luôn đi tìm của lạ). Các sách đó tôi viết từ năm 1930-1940, chỉ xuất bản vài trăm cuốn mỗi thứ và đã hết hơn nửa thế kỷ nay. Giờ muốn in lại một ít mà đành chịu vì thiếu phương tiện". (Phạm Trần, bđd).

Khác hẳn những người lớp trước như Nguyễn Văn Vĩnh, Phan Văn Trường, Phạm Quỳnh, Nguyễn Thế Truyền, Nguyễn An Ninh... hoặc cùng thời với ông như Phạm Duy Khiêm, Nguyễn Tiến Lãng (cả ba đều sinh năm 1909), Nguyễn Mạnh Tường sùng bái cái học Tây phương, trong khi những người kia, dù phục Tây phương, nhưng vẫn cho Đông phương là nguồn cội của tư tưởng.

Tóm lại, theo người thanh niên Nguyễn Mạnh Tường, để xây dựng một Đông Phương mới, chúng ta nên học hỏi kinh nghiệm Địa Trung Hải, tức là học sự giao lưu văn hoá Ả Rập- Hy La ở vùng Địa Trung Hải. Giả sử hồi đó, ông đi Ấn Độ, thì tư tưởng của ông có thể thay đổi: bởi Ấn Độ mới là nơi loài người thực hiện sự giao lưu văn hoá sớm nhất và thành công nhất. Mặc dù triết học Ấn độ là cha đẻ của triết học nhân loại và các đền đài ở Ấn Độ là những kỳ công kiến trúc, điêu khắc, hội hoạ Á Âu; nhưng Ấn Độ hiện hành, cũng như Ai Cập, Trung Hoa, vẫn còn là những nước "thứ ba". Vậy, văn minh văn hoá và văn minh khoa học; văn minh văn hoá và dân chủ tự do, có những tương quan như thế nào? Đó là những câu hỏi phức tạp khác.

Năm 1936, về nước, ông dạy văn chương Pháp ở trường Bảo hộ (Lycée du Prétectorat, tức là Chu Văn An sau này) và trường Cao đẳng Công Chánh ((Ecole Supérieure des Travaux Publics).

"Sau 5 năm đi du lịch, năm 1936 tôi về nước được vào dạy ở Trường Bảo Hộ (Trường Bưởi). Nhà ở số 1 Mai Xuân Thưởng, trông ra Hồ Tây, chỉ cách trường 200 mét. Đây là một quãng thời gian hạnh phúc của đời tôi. Đồng nghiệp thì có Hoàng Xuân Hãn dạy Toán, Nguyễn Văn Huyên dạy Sử, Kontum dạy Vật lý" (Nguyễn Văn Hoàn, bđd).

Ngoài ra, ông còn học thêm chữ nho và văn chương cổ điển Việt, tham gia phác họa cuốn Việt Nam Văn Phạm với nhóm Bùi Kỷ, Trần Trọng Kim, hợp tác làm Việt Nam tự điển với nhóm Khai Trí Tiến Đức:
"Bỗng nhiên tôi nhớ năm 1936, sau chuyến về nước ở luôn, tôi bắt đầu học chữ nho và góp phần làm cuốn Việt Nam văn phạm của Trần Trọng Kim và Bùi Kỷ, và cộng tác biên soạn tự điển Khai Trí Tiến Đức" (Un Excommunié, trang 286).

Trong thời kỳ này, ông làm phụ tá cho Thị trưởng Hà Nội.

Georges Boudarel, trong bài nghiên cứu tựa đề Le tort de parler trop tôt (Sai lầm vì nói sớm quá) chủ đích giới thiệu bài tham luận Qua những sai lầm trong cải cách ruộng đất xây dựng quan điểm lãnh đạo với độc giả Pháp, đã phân tích khá rõ tâm trạng của Nguyễn Mạnh Tường và thành phần ưu tú của đất nước theo Việt Minh năm 1945, như sau:
"Trở về Bắc kỳ, năm 1936, ông dạy văn chương Pháp tại trường Bảo Hộ và trường Cao đẳng Công chánh (Ecole Supérieure des Travaux Publics). Vì cứ in hoài những tập tiểu luận ngẫu hứng từ những ngày sống ở Pháp, đã để lại trong ông những cảm tưởng không phai mờ (...) cuối cùng, ông trở thành đệ nhị phụ tá cho Thị Trưởng thuộc địa Hà Nội.

Dù hết sức ngưỡng mộ Paris và nước Pháp (khó có thể làm hơn), nhưng tới giờ phút quyết định, Nguyễn Mạnh Tường trong sâu thẳm của tâm hồn, vẫn là người Việt. Dường như ông nghĩ, mình chỉ trung thành với những lý tưởng hun đúc ở Paris: độc lập, tự do, nhân quyền và dân quyền. Năm 1945, cùng toàn bộ thành phần ưu tú của dân tộc (kể cả các vị giám mục thời ấy), ông đi theo chính phủ Hồ Chí Minh". [Trích dịch Le tort de parler trop tôt (Sai lầm vì nói sớm quá), in trong Sudestasie số 52, tháng 5/1988, việc NMT làm phụ tá Thị trưởng, Boudarel dựa theo tài liệu trong cuốn Souverains et notabilités d'Indochine, Éditions du Gouvernement général de l'Indochine, 1943, trang 99)].

Nghỉ dạy học, mở văn phòng luật sư

Tới năm 1940, ông nghỉ dậy học, mở văn phòng luật sư:
"Năm 1940, Pháp thua trận, Nhật đưa quân vào Đông Dương, lập ra một Hội đồng, do Phạm Lê Bổng đứng đầu, vận động nông dân bán lúa, gạo cho Nhật. Họ muốn tôi tham gia nhưng tôi từ chối. Họ lại gây khó khăn, tôi nộp đơn xin từ chức, ra mở văn phòng luật sư ở phố Trần Hưng Đạo [trước là Gambetta], đây là nghề tôi đã tập sự bên Pháp". (Nguyễn Văn Hoàn, bđd).

Theo Nguyễn Đình Nhân, "Từ năm 1942 đến 1945: ông mở phòng luật sư chung với hai đồng nghiệp Trần Văn Chương [cha bà Ngô Đình Nhu] và Vũ Văn Hiền" (Giáo sư Nguyễn Mạnh Tường từ trần tại Việt Nam, Tin Tức, 7-8/1997, Paris).

Tháng 10/1945, Hồ Chí Minh ký sắc lệnh lập thêm Đại học văn khoa, Nguyễn Mạnh Tường được cử dạy văn chương Tây phương.

Hội nghị Đà Lạt (17/4/1946- 12/5/1946)

Hội nghị Đà Lạt họp từ 17/4/1946 đến 12/5/1946. Bàn về các vấn đề đã dự trù trong hiệp định sơ bộ 6/3/1946. Phiá Việt Nam, Nguyễn Tường Tam làm trưởng phái đoàn, Võ Nguyên Giáp, phó. Phía Pháp: Max André (nghị sĩ), trưởng phái đoàn.

Chủ tịch các ủy ban: Hoàng Xuân Hãn, chính trị. Võ Nguyên Giáp, quân sự. Nguyễn Mạnh Tường, văn hoá. Trịnh Văn Bính, kinh tế và tài chính.

Về hội nghị này, trả lời Hoà Khánh ở Paris, Nguyễn Mạnh Tường cho biết:
"Năm 1946, một hôm, ông Nguyễn Hữu Đang, người sau này tham gia Nhân Văn Giai Phẩm và bị cộng sản kết án 15 năm tù, đến văn phòng luật sư của tôi nói là cụ Hồ mời tôi đến gặp Cụ có việc cần. Nguyễn Hữu Đang chở tôi đến cái chỗ sau này gọi là Phủ Chủ tịch. Ở đó Vũ Đình Huỳnh, Vụ trưởng vụ Lễ tân, ra tiếp và đưa vào gặp Cụ Hồ. Cụ gọi tôi là Ngài. Cụ nói: "Như Ngài đã biết, chính phủ vừa ký kết với Pháp một bản tạm ước. Theo bản tạm ước ấy, sắp tới giữa ta và Pháp sẽ có một hội nghị quan trọng. Xin Ngài giúp soạn dùm cho một bản lập trường của chính phủ (thèse gouvernementale) để sử dụng như một cương lĩnh chỉ đạo cuộc hội nghị". Tôi đáp: "Công việc này quan trọng quá, xin cụ nhờ một người nào giỏi và có kinh nghiệm hơn tôi". Cụ Hồ nói: "Tôi đã hỏi ý kiến nhiều người và ai cũng bảo là chỉ có Ngài mới có thể làm được thôi". Cuối cùng, tôi nhận lời, về nhà, đóng cửa văn phòng luật sư, vận dụng tất cả kiến thức về luật pháp quốc tế cũng như những điều khoản căn bản của tạm ước để soạn bản lập trường. Đến khi đem trình, được Cụ Hồ chấp thuận và do đó, buộc tôi phải tham dự Hội Nghị Đà Lạt. (...)

Chỉ có một điều ít ai biết là, kết thúc cuộc hội nghị, hai bên đã tổ chức một bữa tiệc chung. Trong bữa tiệc ấy, tên tùy viên của thủy đô đốc D'Argenlieu đến cạnh tôi, nói là thuỷ đô đốc muốn gặp tôi để nói chuyện. Tôi bảo là tôi không phải trưởng đoàn do đó không có tư cách gì để gặp gỡ thủy đô đốc cả. Tên tùy viên lại bảo đây là sự gặp gỡ thân mật có tính cách cá nhân thôi chứ không phải để bàn bạc chuyện gì quan trọng cả. Nghe thế, tôi rời bàn tiệc ra ngoài hành lang gặp D'Argenlieu. Lúc ấy trong bàn tiệc ai cũng thấy cả. Và cuộc nói chuyện cũng rất vu vơ, thăm hỏi xã giao về công ăn việc làm thôi. Thế nhưng, về Hà Nội bỗng dưng lại có tin đồn là Nguyễn Mạnh Tường thông đồng với giặc, là Nguyễn Mạnh Tường bán nước.

Hỏi: Luật sư có biết tin đồn đó phát xuất từ đâu không?

NMT: Thì cũng phải có người phát thì nó mới động chứ. Tin đồn đó là cả một chiến dịch được tổ chức hẳn hoi. Anh Hoàng Xuân Hãn lúc ấy phải đến gặp hình như là Võ Nguyên Giáp thì phải, bảo Tường làm cái gì mà người ta lại tung tin đồn là nó bán nước, theo giặc ghê quá vậy. Nguy cho nó lắm. Mà nguy thật. Chỉ cần một phát súng, một mũi dao là xong đời chứ gì. Từ khi anh Hãn can thiệp, tin đồn ấy mới lắng xuống rồi biến mất". (Hoà Khánh, Ba giờ với luật sư Nguyễn Mạnh Tường, phỏng vấn ghi âm, viết lại, đăng trên Giai phẩm xuân Quê Mẹ, số 105-106, tháng 1/1990).

Nguyễn Văn Hoàn, ghi:
"Lúc tiễn đoàn lên đường, cụ Hồ nói to: "Xin chúc anh em đi thành công, đặc biệt tôi có lời khuyên: Nội bộ đoàn kết, phải đấu tranh găng nhưng không được gãy". Hoàng Xuân Hãn có viết hồi ức về Hội nghị nhưng không nhắc lại chi tiết quan trọng này, tôi hỏi thì anh bảo quên!" (...)

Kết thúc hội nghị, D'Argenlieu có tổ chức tiệc trà tiễn Đoàn. Một sĩ quan hầu cận Pháp đến nói: Thủy Sư Đô đốc muốn gặp riêng Ngài. Tôi nói: Tôi chưa hân hạnh được quen biết Ngài Thủy Sư Đô đốc. Có anh em nói: Nó mời thì anh cứ đi, tôi đi xuyên qua phòng họp, đông khoảng một trăm người, đến gặp nó, chỉ toàn nói chuyện xã giao vớ vẩn. Thế mà khi về Hà Nội, có dư luận nói: “Tường là tay trong của Pháp, Tường phản quốc”, Hãn tức, đến gặp Võ Nguyên Giáp, dư luận mới được dập tắt." (Nguyễn Văn Hoàn, bđd)

Boudarel viết:
"Sau khi ở hội nghị về, Tường không được trao cho nhiệm vụ gì nữa, cũng như nhiều người yêu nước không cộng sản khác. Tuy vậy khi cuộc chiến bùng nổ ngày 19/12/1946, ông vẫn đi theo kháng chiến." (Boudarel, bài đã dẫn)

Đi kháng chiến, nhưng không tham gia mặt trận Việt Minh

Ngày 19/12/1946 Toàn quốc kháng chiến.

Nguyễn Mạnh Tường đang biện hộ ở toà án Hải Phòng. Ông vòng xuống Nam Định để về Hà Nội, chuẩn bị gia đình tản cư. Trước khi đi, ông dâng toàn bộ tài sản cho cách mạng. Gia đình ông về Hà Nam (Ngô Khê). Pháp đánh Hà Nam, chạy sang Thái Bình.

Thái Bình (Liên khu Ba) là một địa điểm tụ họp đông đảo trí thức văn nghệ sĩ. Tháng 10/1948, hội văn nghệ Liên khu Ba được thành lập, Theo Bùi Huy Phồn (bài Đường về Liên khu Ba, Cách mạng Kháng chiến và đời sống văn học, tập 1, trang 155-163) và Phạm Duy (Hồi ký Cách mạng kháng chiến, trang 180-183), đây là thời kỳ đẹp nhất của kháng chiến: các trí thức, văn nghệ sĩ khuynh hướng khác nhau cùng hoạt động chung.
Nhưng cuối năm 1951, Pháp đánh chiếm Thái Bình. Chi hội văn nghệ phải chuyển về Vĩnh Lộc (Thanh Hoá). Văn nghệ sĩ, người về thành, người vào Khu Bốn (Thanh Hoá), vùng tướng Nguyễn Sơn.

Trả lời câu hỏi của Hoà Khánh ở Paris: Luật sư có thể cho biết luật sư đã tham gia phong trào Việt Minh và sau đó, tham gia kháng chiến như thế nào?

Nguyễn Mạnh Tường nói: "Thật ra, tôi không hề tham gia Mặt trận Việt Minh. Bao giờ tôi cũng là một người yêu nước, luôn luôn ưu tư đến việc giành lại độc lập cho đất nước. Tuy nhiên tôi tự xác định cho mình một vị trí là làm một người trí thức. Mà người trí thức, muốn độc lập, thì không nên tham chính. Do đó, tôi đã từng từ chối nhiều lời mời ra làm bộ trưởng của nhiều chính phủ. Người trí thức phải đứng về phía dân chứ không đứng về phía chính quyền. Người trí thức chỉ nên đứng ở lãnh vực thuần lý chính trị (politique spéculative), nghiên cứu, thúc đẩy các trào lưu.

Cách mạng tháng Tám làm tôi rất vui mừng. Tôi muốn đóng góp vào việc xây dựng đất nước trong hai lãnh vực sở trường của mình: luật học và nghiên cứu văn học." (Hoà Khánh, bđd).

Nguyễn Văn Hoàn ghi:
"Năm 1946, tôi đang cãi ở Hải Phòng thì tiếng súng toàn quốc kháng chiến bùng nổ. Tôi phải đi đường Nam Định để về Hà Nội, rồi tản cư đi Hà Nam, ở Ngô Khê. Nó đánh Hà Nam, chạy sang Thái Bình, ở Hưng Nhân. Nó đánh Thái Bình, chạy vào Thanh Hóa. Hồi dạy Dự bị Đại học, tôi ở dốc Đu, Thiệu Hóa, bên cạnh là nhà Hồ Đắc Liên, gần nhà Nguyễn Khánh Đàm, anh ruột nhà văn Nguyễn Tuân". (Nguyễn Văn Hoàn, bđd)

Làm luật sư trong kháng chiến
Trong kháng chiến, ông cãi ở Toà Án nào? Và cãi cho ai? Một điều chắc chắn: ông cãi trong các toà án Kháng chiến (tức là toà án của Việt Minh). Vậy loại toà án nào? Vì ở thời cải cách ruộng đất, ông cho biết các Toà án Nhân dân không cần chánh án, không cần luật sư.

Chắt lọc một số thông tin đáng tin cậy, chúng ta có thể xác định: ông cãi ở những toá án quân sự, đại hình, và được chính phủ kháng chiến cử làm luật sư chỉ định (avocat d'office), biện hộ cho những người quốc gia bị Việt Minh bắt và xử tội.

1- Boudarel viết:
"Trong những năm đầu chiến tranh, hình như luật sư Tường đã nhận cãi cho những trường hợp vô vọng, ông nhận biện hộ cho những người quốc gia bị kết tội phản quốc mà không có chứng cớ gì minh bạch. Lần vận động (hay lần cãi) cuối cùng hình như ở Đức Thọ, năm 1951" (Boudarel, bài đã dẫn).

2- Trần Văn Hà kể lại lời thầy Tường:
"Gia đình tôi [Nguyễn Mạnh Tường] chuyển dịch từ Phủ Lý về Thái Bình, rồi về Thanh Hoá. Tôi tiếp tục giảng dậy cho lớp Dự bị đại học ở Thanh Hoá, được cử làm luật sư của chính phủ đi bào chữa cho tội nhân tại toà án quân sự, đại hình. Cứ mỗi tháng là phải tới một tỉnh, với chiếc xe đạp tòng tọc. Nhiều đoạn đường, cái chết kề bên. Anh "ba lô viên" của tôi bị trúng đạn địch, đã bỏ mạng tại bờ sông Hồng" (Trần Văn Hà, bđd).

3- Trong bài Kiều Mai Sơn kể lại lời Vũ Đình Hoè, có một đoạn đáng chú ý:
"Tôi [Vũ Đình Hoè] lúc bấy giờ là Bộ trưởng Bộ Tư pháp nên cũng được họp trong phiên Chính phủ họp bàn về xử vụ ông Vĩnh Thụy đào nhiệm. Đó là vào hồi năm 1950 - 1951. Cụ Hồ không muốn truy tố.

Để hợp thủ tục dân chủ, Hồ Chủ tịch đề nghị giơ tay biểu quyết. Tất cả thành viên Chính phủ đều giơ tay lên, trừ cụ Bùi Bằng Đoàn [Cha ông Bùi Tín] - Trưởng ban Thường trực Quốc hội. Cụ nói đồng ý là ông Vĩnh Thụy phạm tội nặng đối với Tổ quốc, nhưng cụ không nỡ giơ tay biểu quyết. Mọi người nhớ xưa cụ đã một thời giữ chức Thượng thư trong triều đình Bảo Đại. Cuối cùng Chính phủ quyết định giao cho Tòa án xét xử theo đúng pháp luật, phải làm đàng hoàng đầy đủ thủ tục, có luật sư bào chữa cho bị cáo vắng mặt.

Mấy tháng sau, Toà án quân khu III được thành lập do ông Lê Văn Chất làm Chánh án, ông Bùi Lâm làm Công cáo uỷ viên, một Hội thẩm chính trị là đại biểu quân đội, một Hội thẩm chuyên môn là ông Trần Đình Trúc - Thẩm phán do Giám đốc Tư pháp khu III phái sang. Hai luật sư cùng bênh vực cho bị cáo Vĩnh Thụy là ông Đỗ Xuân Sảng và ông Nguyễn Mạnh Tường.

Bản cáo trạng buộc tội ông Vĩnh Thuỵ rất đanh thép. Sau khi đã thực thi đủ thủ tục pháp lý và bàn luận kỹ càng, Hội đồng xét xử đã ra phán quyết vắng mặt bị cáo: Tử hình. Luật sư Nguyễn Mạnh Tường đề nghị ghi vào bản án xử theo điều luật của nhiều nước trên thế giới là: Tử hình vắng mặt, khi nào bắt lại được can phạm thì sẽ mở lại phiên toà chứ không được thi hành cái án đã tuyên trước đó." (Kiều Mai Sơn, Nguyễn Mạnh Tường, Luật sư huyền thoại, An Ninh thế giới 10/10/2009, mạng Bee.net, mạng Vietstudies).

Vẫn trong bài này, Kiều Mai Sơn kể thêm mấy vụ khác:
- Vụ xử Quản Dưỡng, tức Trần Văn Dưỡng, ở Hà Đông, trước làm lính khố xanh, bị xử tội đã ra lệnh cho lính Bảo An bắn vào người biểu tình.
- Xử vợ một lãnh tụ Quốc Dân Đảng, ở Vĩnh Yên.
- Một nông dân giết kẻ ngoại tình với vợ, là một anh bộ đội (Đại Đội Trưởng), ở làng Xuân Thọ, Thái Bình.
- Hè 1951, một anh bộ đội đánh chết người đang "hủ hoá" với mẹ mình, tại Đức Thọ, Hà Tĩnh (lúc đó Nguyễn Mạnh Tường đã vào Thanh Hoá).

4- Hoàng Văn Chí viết:
"Từ 1947 đến 1950 ông làm trạng sư ở khu III. Trong khi bênh vực cho các bị cáo trước toà, ông hay dùng lời lẽ văn hoa để "nói mát" chế độ, nên ông bị chuyển sang ngành giáo dục.

Ông bị coi là một phần tử "ngoan cố", không chịu "lột xác", nên thường bị đả kích. Có lần cán bộ đã đặt ra một vở kịch nhan đề là "Phải hấp lại" để lăng mạ ông, nhưng ông không thèm trả lời." (Hoàng Văn Chí, Trăm hoa đua nở trên đất Bắc, trang 293).

Điều Hoàng Văn Chí viết "ông hay dùng lời lẽ văn hoa để "nói mát" chế độ" đượcphản ảnh trong lời kể của giáo sư Hoàng Như Mai:
"Vụ thầy Tường cãi đó là: cô con dâu cầm dao đâm bố chồng. Tôi không dự cái cuộc ấy nhưng được nghe người ta kể lại. Thầy Tường bào chữa: Xưa nay chuyện bố chồng con dâu, nhất là mẹ chồng nàng dâu xung đột với nhau là chuyện rất điển hình ở xã hội Việt Nam xảy ra coi như cơm bữa. Nhưng vì sao cô này lại đâm bố chồng? Vì khẩu hiệu của kháng chiến: Mỗi người sẵn sàng cầm vũ khí trong tay để giết giặc. Cho nên lỗi tại có vũ khí kia chứ không thì chị ấy không phạm tội giết bố chồng". (Kiều Mai Sơn, bđd)

Những lời chứng trên đây phù hợp với nhau. Tóm lại, có thể nói: lần cuối cùng Nguyễn Mạnh Tường cãi ở Đức Thọ, Hà Tĩnh (theo Boudarel) và sau đó ông bị chuyển sang ngành giáo dục (Hoàng Văn Chí).
Một mặt khác, chính Nguyễn Mạnh Tường cũng viết về lý do đổ vỡ của ngành tư pháp và y tế ở Khu Ba và Khu Tư:
"Chính trị chèn ép chuyên môn như thế nào; xua đuổi người trí thức ra ngoài con đường cách mạng ra sao, lịch sử kháng chiến đã cho ta kinh nghiệm đau đớn. Năm 1949, phong trào tư pháp liên khu III tan vỡ vì chính quyền quan niệm tư pháp phải thuộc sự điều khiển của mình. Năm 1951, phong trào quân y, dân y liên khu IV sụp đổ vì các chính trị viên đưa vào các bệnh viện, đã đàn áp chuyên môn, thúc đẩy các bác sĩ có công với cách mạng, với kháng chiến, phải gạt nước mắt mà rời bỏ kháng chiến". (Qua những sai lầm trong cải cách ruộng đất, Trăm hoa đua nở trên đất Bắc, trang 305)

Từ chối vào Đảng
Năm 1951, được đề nghị vào đảng, nhưng ông từ chối, rồi cuối cùng ông phải chấp nhận vào đảng Xã Hội, Nguyễn Mạnh Tường giải thích tại sao:
"Năm 1951, trong chiến khu [Khu Ba], Đặng Châu Tuệ, một đảng viên Cộng sản [Bí thư Đảng đoàn] đến bảo tôi và bác sĩ Nguyễn Xuân Nguyên nộp đơn xin vào Đảng. "Trên" đã chứng nhận hạnh kiểm và hoạt động của chúng tôi trong kháng chiến. Những người cộng sản thường say mê hình thức và mắc bệnh kiểm kê con người giống như tài sản, theo tuổi tác, phái tính, hoạt động nghề nghiệp để trộn họ vào những tổ chức quần chúng, để giáo dục và điều khiển họ một cách hữu hiệu hơn. Một mặt khác, vì Đảng không dung tha bọn trí thức ham hưởng thụ tự do và cá nhân chủ nghiã, nếu tập trung họ lại trong Đảng, thì cái địa vị tối cao và vai trò lãnh đạo sẽ làm họ phởn chí. Thật vậy, trong thời điểm đó, những kẻ có tham vọng, những kẻ cơ hội, mơ tưởng được vào hàng ngũ cộng sản đã làm không ít việc hạ tiện để đẹp lòng người chiêu nạp. Cũng cùng thời ấy, đã có khá nhiều trí thức, không chịu được đầu óc hẹp hòi và tính ngoan cố của những người cầm đầu, đã bỏ hàng ngũ cách mạng để về Hà Nội, rồi từ đó bay đi những chân trời tốt đẹp hơn. Vì thế, bác sĩ Nguyên và tôi xét "vinh dự" mà họ ban cho, chẳng qua chỉ là một thủ đoạn ngờ vực: họ muốn khoá trái chúng tôi trong các tổ Đảng được canh gác chặt chẽ để ngăn chặn không cho chuồn, nếu có kẻ manh tâm. Cả hai chúng tôi từ chối lời mời vào Đảng. Nhưng những người cầm đầu không cho đứng ngoài tất cả các tổ chức, họ đề nghị chúng tôi vào đảng Xã Hội. Cầm cự mãi cũng chán, chúng tôi bắt buộc phải chấp nhận. Bởi chẳng nên khăng khăng cương quyết từ chối mãi ý nguyện của Đảng, nhất là trong chiến khu, có những con mắt vô hình kiểm soát nhất cử nhất động. Khá là nguy hiểm." (Trích dịch Un Excommunié, trang 205-206).

Tóm lại, Nguyễn Mạnh Tường rời Khu Ba khoảng mùa xuân năm 1951, sau khi từ chối vào Đảng. Tới tháng 5/1951, ở Khu Tư (Thanh Hoá) ông cãi lần cuối cùng tại Đức Thọ, Hà Tĩnh. "Tháng 2/1952, Trường Dự bị Đại học mới mở ở khu Tư, Thanh Hoá và Nghệ An, do nhà phê bình mác xít Đặng Thai Mai điều khiển, Nguyễn Mạnh Tường được gọi về dạy văn chương". (Boudarel, bđd)

Hoàng Trung Thông cho biết:
"Các lớp học viết văn thì tổ chức ở Quần Tín [Thanh Hoá], Đặng Thai Mai là hiệu trưởng, Nguyễn Xuân Sanh phụ trách các công việc, tương đương với giáo vụ bây giờ. Khoá dự bị đại học đầu tiên có 5 học sinh. Các lớp sau đông hơn (...) Học sinh tới học do địa phương giới thiệu nhưng kinh phí hầu như phải tự túc hoàn toàn" ("Trên địa bàn văn nghệ khu Bốn và Việt Bắc, Cách mạng kháng chiến và đời sống văn học, tập 1, Tác phẩm mới, 1985, trang 184).

Ở Khu Tư, Nguyễn Mạnh Tường vẫn tiếp tục đấu tranh tư tưởng với cách mạng:
"Cuộc tranh đấu tư tưởng duy nhất ở Liên khu Bốn trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp là cuộc đấu tranh với một số quan điểm của Nguyễn Mạnh Tường. Trong một cuộc nói chuyện Nguyễn Mạnh Tường cho rằng văn nghệ ta như một cái chuồng nhốt các văn nghệ sĩ trong đó. Ý kiến này lập tức đã làm nổi lên một làn sóng bất bình trong giới văn nghệ. Có hai bài phê phán ý kiến đó một cách nghiêm khắc trên tạp chí Thép Mới của Nguyễn Văn Tỵ và Chế Lan Viên. Khi đồng chí Lưu Trọng Lư, Chi hội trưởng văn nghê Liên khu Bốn, phụ trách tờ tạp chí Thép Mới, đến gặp đồng chí Trường Chinh thuật lại các bài đấu tranh tư tưởng thì đồng chí Trường Chinh có nhắc nhở về mấy bài phê phán đó, đại ý như sau: các đồng chí phê bình cũng là phải thôi; nhưng cũng như một cây tre, vin xuống vừa phải thì sức bật của nó sẽ lớn, nhưng vin mạnh quá thì nó gẫy. Tôi hiểu ý đồng chí Trường Chinh nói là cần phải đấu tranh tư tưởng nhưng đừng nặng lời quá vì lúc bấy giờ chúng ta đang cần đoàn kết để kháng chiến chống Pháp, mặc dầu đoàn kết không có nghiã là thủ tiêu đấu tranh." (Hoàng Trung Thông, bđd, trang 187).
Cuộc đấu tranh tư tưởng ở Khu Tư, sau Nguyễn Mạnh Tường, đến Trương Tửu, càng mãnh liệt hơn.

Kỳ tới : Nguyễn Mạnh Tường, từ 1954 đến 1997.


1   2

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét