Thứ Năm, 1 tháng 7, 2010

Người Rơm (II)

Ði sao? Chơi đỡ con kia được không? Tôi đoán mụ béo nói vậy khi mụ hất hàm theo một đứa con gái đang đi lên cầu thang. Mụ nói tiếp cái gì đó, tôi bắt được hai chữ 'Thái-lan.'

Nhìn cái áo lông gấu đen, tôi nghĩ tới con Tuyết, vội vàng nói:
“Ok, ok.”

Ðứa con gái quay lại – Á đông, nhưng không phải Tuyết! Nhưng đã lỡ, tôi bước lại cầu thang, tính theo lên lầu. Nhưng nó nhìn tôi từ đầu tới chân, lắc đầu nói gì đó với mụ béo mà tôi hiểu là nó từ chối đi với tôi. Qua ánh mắt hai con đàn bà, tôi đọc thấy sự khinh thị. Nói xong con đĩ quay đi, không thèm nhìn tôi. Máu nóng trào lên đầu, tôi rút con dao bấm, bật lưỡi ra, chĩa vào con điếm đứng trên cao.

“Ðịt mẹ! Ðĩ mà đòi khinh người hử?” tôi quát. Bằng tiếng Việt.

Con điếm thối dừng bước và quay lại, ngơ ngác. Con mụ béo há hốc mồm. Con điếm đứng trên cầu thang, trông càng cao hơn, như một con gấu đen. Tôi ước có thể san bằng những bậc thang, để con điếm lăn xuống, nằm dưới chân tôi, rên rỉ. Tôi bước lên, vẫn chĩa mũi dao về phía trước. Tiếng quát tháo từ họng tôi tuôn ra tự nhiên bằng tiếng Việt trơn tru. Còn bốn năm bậc nữa thì nó quay đầu chạy, hô cầu cứu. Một thằng bảo vệ khệnh khạng đi ra, đá bay con dao trên tay tôi, và khóa tay tôi lại. Mấy phút sau có còi hụ xe cảnh sát.

Ðồng hồ đã bị tịch thu, cùng với con dao và cái bóp, tôi không biết mấy giờ. Tôi nằm trên đệm trải thẳng trên sàn ximăng, số tôi nằm đệm nhiều hơn nằm giường. Tự nhiên tôi muốn tự tử. Tôi tự tử để cho mấy thằng cảnh sát mang tội đối xử thô bạo với tôi, cho mụ mập và con điếm mang tội kinh rẻ tôi, cho báo chí loan ầm lên rằng tôi bị ức hiếp. Tôi nhìn lên trần xà lim cao và bốn bức tường xi măng phẳng lì, không có một cái đà, cái móc để treo dây thòng lọng. Lao đầu vào cái cửa sắt sẽ rất đau đớn mà chưa chắc chết, lại thành trò cười cho chúng nó – hóa ra cả đời tôi làm trò cười! Có nên viết một lá thư tuyệt mệnh không? Hiện giờ trên mình không có bút giấy, tôi có thể đập cửa xin con mẹ gác; tôi cũng có thể viết bằng máu lên tường. Nhưng tôi sẽ viết gì? Tôi đọc những chữ viết sẵn trên tường của những thằng tù...
tiền nhiệm, hiểu được một chữ: ÐỊT! Có lẽ tôi cũng sẽ viết chữ đó – vắn tắt, đầy đủ. Nhưng, như những thư tuyệt mệnh thê thảm khác, tôi cũng phải nhắn nhủ thế nhân điều gì. Câu trước tiên tôi nghĩ tới là 'Ở đời đừng bao giờ hất hủi ai.' Câu này có yếu đuối không? Không. Khi nó đi kèm với cái chết thì không thể gọi là yếu đuối được. Dù sao nó không ổn với tôi, vì nó tố cáo tôi mang chút mặc cảm. Tôi nghĩ ra rồi, một câu không mặc cảm mà oai hơn, đó là 'Không ai có quyền xét xử tôi!' Lâu lắm tôi không đọc sách, cuốn sách cuối cùng tôi đọc là cuốn học bạ, tôi đọc khi còn ở với gia đình nuôi, nhưng tôi đọc có một trang thì bỏ, vì viết dở quá; bởi vậy, ai nói cái câu khí phách kia, tôi quên mất; nhưng hôm nay viết vào thư tuyệt mệnh thì rất hợp. Tôi tưởng tượng trưa thứ hai, khi thằng chánh án ngồi chễm chệ trên ghế giữa tòa, bên dưới, tay phải là thằng kiểm sát đằng đằng sát khí, bên phải là con mẹ luật sư vô tích sự, chờ mãi không thấy tôi, cuối cùng thằng gác tù hoảng hốt chạy vào báo cáo “Thằng bị cáo chết rồi!” Thằng chánh án nện búa tuyên bố “Trắng án!”

“Ngạt quá!” tiếng rên từ phòng giam bên cạnh. Tôi lắng tai chờ đợi xem có phải mình nghe tiếng người hay chỉ tiếng rít của bản lề, tiếng dội cầu xí, hay tiếng tưởng tượng. Tôi nghe tiếng rên tiếp:
“Ngạt quá! Hãm lại, cho tôi ra ngoài...” Tiếng thét đàn bà, bằng tiếng Việt. Tôi đập rầm rầm vào cửa phòng giam, tôi định hô to “Có người chết ngạt! Mở cửa mau!” nhưng tôi không biết 'chết ngạt' tiếng Thụy-điển là gì, huống hồ tiếng Na-uy. Thay cho ngôn ngữ, tôi tiếp tục đập mạnh vào cánh cửa sắt để gọi lính gác. Nhưng cửa sắt dầy quá, tôi đập tới rát bàn tay mà chỉ nghe tiếng bèn bẹt. Kết quả, chỉ có tiếng cằn nhằn từ buồng đối diện của một thằng bị nhốt cùng một lúc với tôi, thằng Na-uy mặt mày sưng vêu, chắc là đánh lộn. Tiếng rên cũng im luôn.

“Ai bên đó đấy?” tôi lên tiếng. Gọi ba lần, mỗi lần lớn hơn, cuối cùng bên đấy hỏi lại:
“Ai đấy?”

“Việt Nam!” tôi đáp.

“Ðây cũng Việt Nam.”

“Nghe đằng ấy than bị ngạt. Ngạt thở?”

“Có than à?”

“Nghe đằng ấy rên.”

“Thật à! Có rên... rên to thế cơ à?”

“Ừ... Này, nghe giọng quen quen... Có phải Tuyết Anh đấy không?”

“Cổn, phải không?”

“Cổn đây,” tôi vui mừng đáp. “Không rủ mà vào đây cả lút. Bên đấy ngạt à?”

“Anh nói em mới để ý, trong này hơi ngột ngạt. Nhưng em không rên đâu, chắc em nằm mơ đấy.”
“Mơ cái gì?”

“Ác mộng...”

“Kể lại nghe.”

“Thôi.”

“Em nói gì? Nói to lên tí nữa.”

“Em nói thôi, không kể làm gì nữa.”

“Cứ kể cho anh nghe! Trong này toàn Tây cả, có ma nào hiểu mình nói gì đâu mà sợ nào.”

Tuyết ho, tôi xót ruột. Ho xong, nó nói:
“Em mơ còn nằm trong cái xe thùng chở em sang đây. Ðứa con gái nằm ngay bên cạnh em chết ngạt.”

“Chết!?”

“Chết. Bị nhốt trong thùng xe hai ngày hai đêm. Khi bọn đầu gấu mở cửa xe ra, thấy bốn người chết từ bao giờ. Con ấy thân với em nhất. Chúng em đã từng chia phiên nhau kề mũi vào cái lỗ nhỏ để thở.
Thương hại nó hay nhường cho em thở lâu hơn. Dọc đường nó cứ đòi về, không muốn đi nữa. Nhưng em biết về thế nào được với bọn đường dây. Nó mà sống sót cũng bị đường dây hành tới chết về cái tội đòi về... Anh có nghe không đấy?”

“Nghe rõ cả.”

“Nó nói khổ đều quanh năm chịu được, dồn vào một ngày thì chết. Anh nghĩ có đúng không?”

“Chắc đúng.”

“Mẹ nó bán ruộng, bán vườn để chung tiền cho nó đi, cứ mong nó mang đôla về chuộc đất, xây nhà như những người có thân nhân Việt kiều. Bây giờ nó chết, chưa kịp nhìn thấy tờ đôla xanh. Trước khi chết nó tựa vai em lầm bầm 'Mẹ ơi! Con không muốn làm Việt kiều. Con muốn về nhà. Con muốn cơ cực ở nhà với mẹ suốt đời.' Giọng nó như đứa trẻ con ba tuổi.”

“Cô ấy mấy tuổi?”

“Tuổi rơm, ai hỏi làm gì!”

“Còn em? Em có muốn về không?”

“Không, thà chết!” Tuyết nói không do dự. Chắc nó đã cân nhắc kỹ rồi.

“Nhất trí!” tôi nói, hồ hởi.

Tôi không hiểu tại sao tôi lại hồ hởi như thế. Mươi phút sau, bọn gác gác tù mang nó đi đâu, tôi không biết. Nó không trở lại.

Tôi bị phạt tù ba mươi mốt ngày về tội mang vũ khí và toan hành hung. Trừ chín ngày tạm giam, tôi chỉ còn phải ngồi tù ba tuần, ở một nhà tù khác, cũng gần bót cảnh sát. Ra tù tôi bị giải thẳng về Thụy-điển. Như cóc bỏ đĩa, ba hôm sau tôi lại sang Na-uy tìm Tuyết. Tôi hy vọng nó vẫn kiên định lập trường hôm trước 'thà chết không về.' Tôi cố tìm nó trước khi nó đổi ý hoặc có tai ương gì xảy ra cho nó. Cũng mất hơn một tháng tôi mới truy ra nó đang ngồi trong nhà tù nữ ở Rdvedt. Vì nó khai tứ cố vô thân, không ai được phép thăm nó. Vì vậy tôi phải giả mục sư đi thăm tù. Ðó là một ngày sau lễ Nôen, mặt trời xuống thấp, chiếu thẳng vào mặt, lái xe cứ như là đâm vào những mũi tên lửa, không nhìn thấy xe ngược chiều. Một ngày thứ tư, ngày thăm tù thường xuyên của các thượng tọa Phật giáo, mục sư Tin lành, linh mục Công giáo, giáo sĩ Hồi giáo. Tôi bảo là điều may, vì cảnh sát không hỏi linh tinh gì cả. May nữa là những năm ở trong gia đình nuôi, tôi đã học được cách cầm và mở Thánh Kinh. Nhưng cái không may là tôi gặp một bà Việt Nam trong phòng đợi.

“Chào cha,” bà cung kính, “cha cũng đi thăm tù ạ?”

“Chào bà,” tôi đáp, và tự nhủ chớ có văng tục. Trong đời cũng phải có một ngày ăn nói lịch sự văn minh.

“Con là xơ, thưa cha,” bà đáp.

“Ð... , xin lỗi, con... tôi là mục sư, không phải cha.”

“Hân hạnh gặp mục sư. Mục sư có biết mục sư Trần Trung Trinh không?”

Chán thật, bố mẹ ruột mà có người còn không biết tên, huống hồ ông Trần Trung Trinh trời ơi đất hỡi ở đâu ấy, tôi nghĩ trong đầu, nhưng miệng nói bừa:
“Có biết sơ, nhưng chúng tôi không quan hệ nhiều. Tôi ở... Phần Lan sang. Còn ma xơ có biết giáo hoàng
Giăng Bôn không ạ?”

“Dạ, Ngài qua đời rồi!” Mặt bà xơ xịu xuống, không biết bà buồn thương vị giáo hoàng quá cố hay thất vọng vì tôi. Nếu bà thất vọng, tôi phải làm cho bà biết tôi không đến nỗi tệ lắm, tôi nói:
“Ngài Giăng Bôn Hai qua đời rồi, tôi biết chứ, xơ. Người tôi muốn nói đây là vị giáo hoàng mới, ngài Giăng Bôn Ba ấy...” Sau này tôi mới biết lẽ ra tôi không nên khoe khoang nhiều quá về kiến thức tôn giáo của tôi.

Cũng may, cuộc giao lưu tôn giáo sắp tới hồi cuồng lưu thì một mụ gác tù mở cửa vào, hỏi chuyện bà xơ, chắc hỏi đi thăm ai. Nhân tiện, tôi nhờ bà xơ thông dịch giùm tôi đi thăm một nữ tù nhân tên Tuyết Anh.
Bà xơ giúp tôi xong, chợt nhớ ra điều gì, tươi cười nói:
“Không biết lát nữa có gặp lại nhau không, xin chúc mừng năm mới mục sư!”

Tuyết mặc cái áo len cao cổ, dầy, màu tím rịm, váy trắng có thêu ren ở gấu, dài tới gót chân. Nó gầy, hai mắt quầng thâm, ngước lên nhìn tôi. Nó cao hơn tôi, muốn tạo ra cái vẻ ngước lên đó, nó phải cong lưng xuống, tay chống cằm. Nó cố ý làm như vậy, hay tự nhiên như thế, tôi đều thấy là thanh cao và tôi biết ơn.

“Chúc mừng năm mới Tuyết Anh!” tôi nói.

“Tết rồi hả anh? Em không biết! Hôm nay mùng mấy, anh?”

“Anh cũng không biết nữa. Ban nãy gặp một bà xơ Việt Nam ngoài phòng đợi, bà ấy chúc Tết, nên anh đoán hôm nay Tết ta. Thảo nào, tiệm Việt Nam có bán bánh chưng, anh lại tưởng họ gói bánh chưng quanh năm, không ngờ ngày Tết. Không Mồng Một thì ngày Rằm.”

“Vậy em mừng tuổi anh,” Tuyết nói, chắp hai bàn tay kẹp vào đùi như một đứa trẻ lễ phép. Cái lưng dài vẫn cong, như cổ con nai uống nước.

“Ở cổng nó giữ cái ví tiền với cái điện thoại, không thì bây giờ anh có thể lì-xì tiền mừng tuổi cho em...”

“Anh không cần mừng tuổi em. Anh tới thăm em, nhắc em ngày Tết là quí rồi, anh ạ.”

Tuyết càng dịu dàng, tôi càng lo âu. Biết đâu lần sau tới đây không thấy Tuyết nữa. Ðã ngoài tầm.

“Tình trạng em bây giờ ra sao?” tôi hỏi.

“Em sẽ bị trả về Ðức.”

“Cái đó anh biết rồi.”

“Nhưng Ðức chưa xác nhận.”

“Nếu Ðức không xác nhận thì sao, có bị trả về Việt Nam không?”

Tôi hy vọng Tuyết được ở lại Na-uy. Ðêm qua, trong lúc tuyết đổ trắng xóa trời đất, tôi nghĩ tôi có thể xin cưới Tuyết và bảo lãnh cho nó vào Thụy-điển. Cùng lắm là tôi ước hẹn với Tuyết, để nó về Việt Nam, rồi tôi làm thủ tục kết hôn và đoàn tụ sau. Chúng tôi sẽ lập lại cuộc đời, sẽ sống lương thiện bên nhau. Tại sao tôi lấy Tuyết mà không về Việt Nam lấy vợ như thằng Tư, thằng Hỉ, cho giản tiện? Ðó là vì tôi muốn được sống thật. Tôi muốn lập lại cuộc đời với một người cũng có quá khứ đen tối như tôi, biết tôi bê bối chừng nào, từng nhìn tôi ăn cắp vặt, thấy tôi nằm dưới đáy xã hội. Tôi không cần nói dối có bằng kỹ sư, phó tiến sĩ. Không cần đóng kịch mục sư.

“Họ không trả em về Việt Nam được đâu,” Tuyết nói. “Em không được ở Ðức thì cũng được ở Na-uy.” Nó đặt tay lên bụng: “Tùy theo cái thai này của ai...”

Câu trả lời của Tuyết làm cho tôi lạnh người từ đầu tới chân. Thế là người rơm cũng ngoài tầm tôi.

Bên ngoài nhà tù, nắng phản chiếu trên tuyết sáng lòa, lạnh ngắt. Tôi bơ vơ nheo mắt nhìn quanh. Ngọn tháp nhà thờ gần đó nhắc tôi nhớ tới một nơi nào, rất xa. Tôi cứ đứng yên lục lọi ký ức. Bỗng nhớ ra ngôi trường trung học ở Uppsala, nơi tôi học hành chẳng ra gì, một ngày mùa đông đầy nắng, cô Anita nói với tôi trong giờ chơi “Con ơi! Hôm nay là Tết Việt Nam, cô chúc mừng Con.” Cô không đọc được tên Cổn của tôi, nhưng tôi thích nghe cái chữ không bỏ dấu của cô trong một buổi sáng nắng thấp. Cô là người đã khóc khi tôi báo tin bỏ học.

Tôi quyết định trở về Uppsala gặp cô Anita. Rồi tính sau.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét