Thứ Năm, 1 tháng 7, 2010

MỘT THOÁNG CHICAGO (2)

(2)

Vừa ra khỏi Au Bon Pain, bỗng nghe thành phố như đang rung chuyển vì những tiếng gào thét từ lưng chừng trời. Ngơ ngác nhìn. Một đoàn tàu lửa đang chạy nhanh trên tuyến đường cao cách mặt đất, mặt đường phố, khoảng 10 mét. Đúng rồi, mình đã từng nghe nói Chicago là thành phố của hỏa xa. Xe lửa chạy quanh thành một vòng (The Loop) ngay trong thành phố và tỏa ra các ngoại ô qua những trạm chuyển tiếp. Và có rất nhiều xe bus chuyên chở hành khách đi các nơi bên trong thành phố hoặc đến các vùng phụ cận. Muốn đi xa hãy đến nhà ga khổng lồ Union Station, Chicago, với nhiều tuyến đường nối nhiều nơi trên nước Mỹ. Có những tuyến đường rất dài chạy qua nhiều tiểu bang, nhiều đô thị. Dưới đây chỉ xin ghi lại những tuyến đường và tên những thành phố lớn .

Tuyến đường Chicago – Seattle/Portland: Từ Chicago đi Milwaukee, St. Paul-Minneapolis, Rugby, Malta, Spokane, và từ Spokane tẻ ra hai nhánh, nhánh trên đến Seattle, tiểu bang Washington, nhánh dưới đến Portland, tiểu bang Oregon.

Tuyến đường Chicago – San Francisco: Từ Chicago đi Omaha, Denver, Salt Lake City, Elko, và cuối cùng là San Francisco, tiểu bang California.

Tuyến đường Chicago – Los Angeles: Từ Chicago đi Kansas City, Trinidad, Albuquerque, Flagstaff, Barstow, và cuối cùng là Los Angeles, tiểu bang California.

Tuyến đường Chicago - San Antonio: Từ Chicago đi St. Louis, Little Rock, Dallas, Austin, và cuối cùng là San Antonio, tiểu bang Texas.

Tuyến đường Chicago - New Orleans: Từ Chicago đi Centralia, Fulton, Memphis, Jackson, và cuối cùng là New Orleans, tiểu bang Louisiana.

Tuyến đường Chicago – Porland (thuộc tiểu bang Maine, khác Porland thuộc Oregon): Từ Chicago đi Indianapolis, Cincinnati, Charlotteville, Washington D.C., Philadelphia, New York, Boston, và cuối cùng là Portland, tiểu bang Maine.

Từ Chicago đến Washington D.C., hay New York, hay Boston còn có những tuyến đường khác.

Chicago không phải chỉ là trung tâm hỏa xa lớn nhất của nước Mỹ mà thôi, nó còn là một trong những trung tâm công nghiệp, viễn thông, hàng không, tài chánh, giáo dục lớn nhất thế giới, là đại bản doanh của Đảng Dân Chủ. Khu Magnificent Mile chiếm một đoạn của đường Michigan cũng được xem là một trong những đường phố sang trọng nhất thế giới. Cũng không thể quên được rằng trong quá khứ, trong suốt thập niên 1920, Chicago là thành phố của tội phạm, với hàng ngàn băng đảng, với trùm gangsters khét tiếng Al Capone. Và nếu ai thích thể thao môn bóng rổ, thì đây Chicago với đội Chicago Bulls trong nhiều năm của thập niên 1990 được coi là đội hay nhất thế giới dẫn đầu bởi cầu thủ huyền thoại Michael Jordan. Hoặc nếu ai từng say mê The Old Man and the Sea, A Farewell to Arms, For Whom the Bell Tolls..., có thể đến viếng nơi ra đời của văn hào Ernest Hemingway tại một khu ngoại ô của Chicago, thị trấn Oak Park, nơi này có nhà lưu niệm mang tên The Hemingway Birthplace Home. Lẽ cố nhiên còn có lắm điều ngoài sức hiểu biết của tôi. Thế nhưng có người đến đấy ở lại chỉ vài ba ngày mà đã “đành hanh” viết về Chicago, chẳng qua là vì hắn muốn làm người mù sờ voi, hay nói đúng hơn, chỉ mới sờ được một sợi lông đuôi của con voi lại tưởng con voi là cái tăm xỉa răng.

Hôm sau chúng tôi sẽ đáp xe hỏa đi từ Chicago về Los Angeles, cho nên bây giờ phải đến nhà ga trung ương Union Station mua vé trước cho chắc ăn. Thật ra từ khách sạn cũng có thể mua vé trên mạng, trả tiền bằng thẻ tín dụng, nhưng chúng tôi muốn nhân dịp này đi bộ ngắm Chicago dưới mưa bụi, và đến coi thử cái nhà ga ấy nó như thế nào mới có thể dùng để điều hành hệ thống hỏa xa lớn lao và chằng chịt như thế. Đúng là cái nhà ga khổng lồ nằm ở góc đường Adams và Canal, gồm hai toà cao ốc đối diện nhau qua đường Canal, một bên đường là tòa cao ốc cổ kính với hàng cột vĩ đại xây dựng công phu như những dãy cột của kiến trúc Hy Lạp thời cổ, và bên kia đường là tòa cao ốc theo lối kiến trúc hiện đại. Một lối đi ngầm dưới đất nối liền hai tòa nhà ấy. Thôi thì bên trong nhà ga có rất nhiều sinh hoạt khác nhau. Những phòng bán vé, những khu dành cho hành khách chờ xe, hạng sang thì có ghế bành bao quanh những cái bàn chưng bày hoa đẹp, hạng không sang thì cũng tươm tất, gọn gàng, sạch sẽ, những nhà hàng ăn uống, có cả quán Au Bon Pain, những trung tâm du lịch, những gian hàng triễn lãm tranh ảnh, những gian hàng bán đồ lưu niệm, đồ trang sức, mỹ phẩm, giày dép, áo quần ..., và rất nhiều quán cà phê.

Một nhánh của sông Chicago chảy song song với đường Canal gần nhà ga trung ương (Union Station) trên đó lác đác mấy con tàu chở đầy hành khách từ từ trôi rồi lẫn trong mưa mù. Đó là những chiếc tàu dùng như xe taxi mà dân địa phương gọi là water taxi.

Bỗng thấy lạnh quá vì những cơn gió từ trên cao đổ xuống. Chicago còn có tên là Thành Phố Gió (The Windy City). Do lối thiết kế đô thị, gió từ trên cao ập xuống và thổi luồn theo những nhà cao tầng đứng gần nhau và đối diện với nhau qua mặt đường phố nằm sâu bên dưới tạo nên những ngọn gió lò. Khi gió đổi chiều, gió lại luồn theo những dãy phố thẳng góc. Gió lúc mạnh lúc yếu, nhưng không bao giờ dứt. Tại mấy chỗ tường so le, tường khuyết làm thành chỗ trú cho mấy ông già, bà già, họ tay cầm dù chìa ra ngoài đứng co ro tránh gió, tránh mưa tạt. Ô, lại nhớ. Chicago luôn luôn gây niềm nhớ. Nhớ những hố bom B52 những năm đi tù ở những vùng như Đồng Bang, Cà Tum gần biên giới Cam-pu-chia, mùa mưa. Hố bom miệng tròn, khá to, đường kính cũng đến vài mươi mét, không biết sâu bao nhiêu vì nước mưa ngập gần đầy. Lao động dưới mưa, ướt át, lạnh run, bùn bắn đầy người, đầy mặt mũi, tóc tai. Giờ giải lao mọi người uà nhau nhảy xuống hố bom tắm rửa như một đàn trâu mẹp xuống bùn. Khi tù đã tắm xong và lên khỏi hố gần hết, một anh chàng nãy giờ đứng chờ bên mép hố bỗng la lớn:
“Mấy bồ ơi, coi đây.”

Mọi người quay nhìn. Hắn bèn nhảy ùm xuống hố, bơi quanh mấy vòng, vùng vẫy một chốc, rồi lặn xuống, rồi ngóc đầu lên lấy hơi. Sau mấy lần như thế, hắn giơ tay lên khỏi mặt nước, trong tay nắm một con cá lóc đang vùng vẫy to gần bằng cán dao phay. Ai nấy ngạc nhiên. Hai ba người từ trên hố bom bèn nhảy xuống nước bắt chước hụp lặn đuổi cá, nhưng mãi vẫn không túm được một con nào. Anh chàng kia ném con cá lên bờ, chỉ một chốc sau, lại thêm một con cá nữa. Tiếc là không có đủ thì giờ để anh ấy bắt thêm cá mang về ăn – còi tập họp đã ré lên. Trên đường về lán, anh giải thích: Lặn xuống sâu quãng một hai mét, lấy tay móc đất đào thành vài ba cái lỗ nhỏ gần nhau, nhớ vị trí của mấy cái lỗ ấy, xong bơi quanh, vùng vẫy. Cá cay mắt và hoảng sợ trốn vào mấy cái lỗ đó. Thế là ta quay lại mò tay vô lỗ bắt gặp chúng ngay.

Chicago thì cũng thế chứ gì. Trong cơn mưa gió, nếu có bàn tay khổng lồ mò vào những khung tường khuyết, những góc phố so le, những lối nhỏ và ngắn dẫn vào cánh cửa lớn của một ngôi nhà nào đó, thì vớ được ngay các người già cả đang đứng co ro tránh mưa gió.

Nhưng bọn trai trẻ thì khác, mặc mưa sa, gió táp, có dù thì trương ra, có áo mưa thì khoác vào, có mũ thì trùm lên, đi phon phon.

Mưa gió từng cơn. Khi nào mưa nặng hạt, chúng tôi tránh mưa bằng cách đi vào các cửa hàng bách hóa, họăc siêu thị, họăc tiệm thuốc Tây, họăc tiệm bán rượu v.v... Thấy mưa ngớt lại đi. Nhờ thế chúng tôi qua được nhiều con đường dài, không cảm thấy mệt mỏi cho lắm nhờ cái lạnh căm căm. Trên đường trở về khách sạn, chúng tôi trở lại Chicken Rôtisserie. Tiệm đã đóng cửa, nhìn đồng hồ mới hơn 6 giờ chiều. Khá nhiều nhà hàng khác cũng đã đóng cửa. Một số nhà hàng treo bảng thông báo chỉ? open cho breakfast lunch mà thôi. Có lẽ vì mùa này trời lạnh và gió nhiều nên thiếu thực khách về đêm, nhà hàng phải đóng cửa sớm.

Sài Gòn của ta khác hẳn. Sài Gòn ăn uống lu bù quanh năm suốt tháng, tiệm mở cửa cho đến tận khuya, trước kia Ba Râu, Bảy Hổ, Đồng Quê, Chợ Xóm Chiếu..., sau này Làng Nướng, Làng Ngon, Làng Nhậu. Rồi nhớ lây qua Thủ Đức “hồi đó”, hồi tôi mới chân ướt chân ráo vào Nam, thỉnh thoảng theo bạn bè đèo nhau trên xe vespa xuống đấy khi các tiệm ăn ở Sài Gòn, Chợ Lớn, Khánh Hội, Bà Chiểu đã đóng cửa, trừ vài ba gánh hàng ngồi chồm hổm trên ghế thấp bán cháo trắng hột vịt muối cho phu xe xích lô, cho khách ăn sương, tại Ngã Tư Quốc Tế hay khu chợ cá Trần Quốc Toản. Xuống Thủ Đức, chỉ hơn 10 cây số, ghé cái quán nhỏ nằm ngay trong chợ Thủ Đức mở cửa 24 trên 24 ăn nem chua, củ kiệu, bún bì, bún nem, bì cuốn, uống bia con cọp, bia trái thơm, xa xa văng vẳng đến tiếng còi xe lửa hú lên lúc gần sáng khi xe sắp chạy qua vài chiếc cầu ngắn. Có khi khuya chủ nhật đi chơi, sáng thứ hai chúng tôi trở về, vừa bước vào Đại Học Xá Minh Mạng ở Chợ Lớn gặp ngay lễ chào cờ định kỳ mỗi đầu tuần. Sài Gòn nay đã khác nhiều, Thủ Đức nhiều nơi nhìn không ra.

Thôi, thế là không còn gà qué gì nữa, đành phải ghé một quán bán pizza còn mở cửa. May quá, bánh Pizza ở Chicago ngon có tiếng, ngon nhất nước Mỹ.

Chuyến tàu suốt về Los Angeles sẽ khởi hành vào lúc 2 giờ 30 chiều, nhưng buổi sáng sớm chúng tôi đã đến nhà ga gởi hành lý đâu vào đấy rồi kéo nhau đi ngắm nhìn phố phường lần chót. Vẫn mưa, lạnh, và gió. Theo dự báo thời tiết, những hôm sau tuyết sẽ đổ xuống nhiều hơn, rồi mưa, gió ở đây, bão, lụt, lốc xoáy ở nơi khác, tại vùng này vùng nọ, quốc gia này quốc gia kia. Hình như Mẹ Thiên Nhiên trong những năm gần đây se mình vì trong đàn con có nhiều đứa hung hăng quá, phá phách không chút nương tay, không để mẹ yên.

Nhiều đám mưa bụi bị gió tạt trông giống như những cái màn trắng bay uốn mình trong không gian rồi đập vào những bức tường của những ngôi nhà chọc trời cao vòi vọi và mất hút, để lại đây đó những mảng tường ướt át. Bỗng từ xa đi tới một cô nàng tóc vàng ướt mèm dính vào trán vào má, cặp mắt kính cận nhòe nhoẹt, vai áo cũng ướt đẫm mang cái ví da khá to, mà váy cũng ướt, đi vèo vèo trên lề đường cùng phía với chúng tôi, rồi chạy lúp xúp băng qua bên kia đường hướng về nhà ga bất chấp đèn xanh, đèn đỏ. Vài ba chiếc xe hơi chạy trờ tới, thắng nhanh. “Đi đâu mà vội mà vàng” thế? Nếu là ở quê tôi thì đúng cô này đang đi đánh ghen. Hay bị Tào Tháo đuổi? Nhưng ở đây có lẽ cô ta ngủ quá giấc trưa, giật mình thức dậy nhìn đồng hồ thấy xe lửa sắp chạy, gọi taxi đâu phải có ngay, cho nên quýnh quá chạy hoảng chăng. Tôi nói cái ý nghĩ ấy cho vợ tôi nghe. Có lẽ trông người lại nghĩ đến ta, vợ tôi hết còn muốn đi đâu nữa, đề nghị:
“Thôi mình cũng phải trở lại nhà ga cho rồi.”

“Nhưng còn sớm mà.”

“Sớm gì mà sớm. Để cho còi hú mới quay về thì sao kịp”

Bài “Học Thuộc Lòng” đầu tiên trong Quốc Văn Giáo Khoa Thư lớp Dự Bị (lớp 2 bây giờ) ngày xưa bất chợt hiện lên trong trí: Xuân đi học coi người hớn hở. Tôi ngẫm nghĩ đàn bà bao giờ cũng lo xa - bà đúng là Thu và tôi là chú bé Xuân đã đi học mà cứ ưa lêu lổng dọc đường. A, cái Chicago này thú vị thật, bây giờ thì đưa tôi trở về thời thơ ấu. Thu không đồng ý la cà chơi “đánh khăn” với Xuân trên đường đi học, vì : “Nếu chờ khi trống đánh vào/ Dù ta rảo bước tài nào kịp cho.”

Xe lửa rời ga Union Station dưới cơn mưa dai dẳng, lúc nặng hạt làm mờ mịt cả bầu trời, lúc phơn phớt bày ra trước mắt những bức tranh chấm phá nhạt nhòa. Tôi như thói quen từ bé, lên xe lửa là ngồi bên của sổ nhìn mông lung ra ngoài hàng giờ. Chạy một quãng, xe ra khỏi Chicago rồi đi ngang qua những thị trấn nhỏ, những cánh đồng đã thu hoạch từ lâu đang bỏ hoang, chưa chuẩn bị cho vụ mùa mới, trời đất vẫn một màu tiêu sơ, ảm đạm. Trong xe ấm áp, nhưng bên ngoài chắc chắn lạnh buốt, nhất là những nơi đồng không mông quạnh. Tôi nghĩ vẩn vơ. Tại sao mình thích Chicago đến thế. Chicago đẹp? thức ăn ngon? con người nhã nhặn? mưa giầm như Huế? hệ thống hỏa xa tân tiến? và gà rô-ti, dù tôi chưa được ăn? Còn nữa, Chicago nhiều gió khiến tôi liên tưởng đến những cơn gió Lào thổi qua vùng Lao Bảo, Quảng Trị vào mùa hè, gió thổi miên man ngày đêm mang theo bụi, cát và cái nóng hừng hực làm nứt nẻ đất cày, làm cay con mắt, làm cháy rát da mặt, da cổ, da tay, những nơi không có lớp vải của áo quần che chở. Nhưng nổi bật hơn hết, Chicago và cái hồ của nó gợi nhớ Cam Ranh

Cam Ranh rất huyền bí đối với tôi khi còn là một chú bé học tiểu học. Hồi đó, một hôm, cả lớp ngồi im phăng phắc nghe thầy giáo kể chuyện chiến tranh Nga Nhật. Lâu lắm rồi, cách đây hơn một trăm năm, vào năm 1905, Nga và Nhật đều muốn dành quyền kiểm soát Mãn Châu và Triều Tiên nên rốt cục đưa đến đánh nhau. Trong một trận thủy chiến, một hạm đội của Nga Hoàng bị hải quân Nhật tiêu diệt gần hết, chỉ còn vài chiến hạm chạy thoát về Vladivostok, một hải cảng ở Đông Nam nước Nga, hai chiếc chạy giạt về Cam Ranh trốn tránh truy kích đồng thời trú ẩn bão tố ngoài đại dương. Cam Ranh là một trong vài hải cảng thiên nhiên tốt nhất trên thế giới. Ta, vâng, trong một tương lai nào đó, sẽ sử dụng Cam Ranh làm căn cứ hải quân hùng mạnh để chống trả tất cả mọi cuộc xâm lăng từ Biển Đông tràn vào, để khống chế một vùng rộng lớn của Thái Bình Dương, để mở mặt mở mày với thiên hạ.

Xe lửa chạy êm êm. Nhớ quái kiệt Trần Văn Trạch, trong những lần phụ diễn tân nhạc cho những buổi chiếu phim tại Sài Gòn hồi đó, chỉ dùng chiếc máy vi âm đưa vào mồm bắt chước rất giống nhịp điệu xì xà xì xạch, xa-va-na-khẹt phát ra từ bánh sắt của xe lửa nghiến lên trên đường rầy. Nhịp điệu ấy thật tuyệt vời, như tiếng ru em trên những tao nôi kẽo kẹt, ban đêm đưa ta vào giấc ngủ ngon lành lúc nào không hay.

Xe vượt qua nhiều thị trấn đẹp đẽ, ngăn nắp, nhiều cánh đồng hết đất đen đến đất đỏ nằm trải dài ngủ thiêm thiếp, nhiều sông nhiều lạch nước xanh lăn tăn sóng, và bầu trời bao la trên kia thì vẫn một màu trắng đục, sũng ướt. Đôi khi có những quãng đường hỏa xa chạy song song với xa lộ dành cho xe hơi, nhờ đó tôi biết được xe lửa chạy rất nhanh, vượt tất cả những chiếc xe hơi chạy cùng chiều. Cứ thế xe chạy đến những thành phố như Naperville, Mendota, Princeton, và khi qua khỏi Galesburg, chúng tôi đã vào địa phận của tiểu bang Iowa. Rồi xe qua sông Mississippi để đến thành phố La Plata thuộc tiểu bang Missouri. Xe chạy mãi, chạy mãi, đường còn dài lắm. Đến thành phố lớn Kansas City thuộc tiểu bang Kansas lúc nửa khuya, xe mới dừng lại khá lâu. Tính đến đây, Kansas City, chúng tôi đi chưa được một phần năm của tuyến đường từ Chicago về Los Angeles. Cảnh trí bên ngoài càng thay đổi càng đưa đẩy tâm trí của tôi đi xa, hết hiện tại lại quay về quá khứ, lại quay về Việt Nam với Cửa Tùng, Cửa Việt, Cửa Thuận An, Cảng Chân Mây, Sông Hàn, bãi Tiên Sa, Ngũ Hành Sơn. Lan man một chốc rồi lại trở về với Hồ Michigan, và Cam Ranh. Nhưng lần này cái đường lưỡi bò bỗng dưng lù lù hiện lên.

(Còn tiếp)

Miền Trung đất hẹp mà dài, do đó tiếng nói có chút thay đổi từ địa phương này đến địa phương khác. Chẳng hạn giọng Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên nói chung na ná nhau, nhưng chỉ một chút chú ý sẽ thấy khác biệt ngay. Có lẽ Quảng Trị có giọng nói chuẩn nhất nếu căn cứ vào cách phát âm theo cấu trúc chữ Quốc Ngữ bằng mẫu tự la-tinh mà những vị truyền giáo trong đó có Alexandre de Rhodes đã hình thành từ thế kỷ XVII. Rất yêu tiếng Việt, Alexandre de Rhodes bảo rằng người Việt chuyện trò với nhau nghe như tiếng chim hót (ressemble au chant des oiseaux). Ông cũng là tác giả của cuốn tự điển Việt Nam-Bồ Đào Nha-La Tinh đầu tiên (Dictionarium Annamitium Lusitanum et Latinum) in tại La Mã năm 1651.
Người Quảng Trị phát âm rất đúng các từ kết thúc bằng chữ g hoặc không có g (đang-đan, cản-cảng, làn-làng, gắn-gắng...); bằng chữ c hoặc t (ác-át, bác-bát, khác-khát, phác-phát...). Khác với giọng Huế, giọng Quảng Trị phân biệt được các âm oi và oai (đói-đoái, khói- khoái, ngòi-ngoài, lòi-loài...), và đặc biệt là các âm ăn và anh (ăn cơm-anh em, băn khoăn- đá banh, căn cứ-canh gác, nhăn nhó-nhanh nhẩu...), hoặc ắc, ắt, ách (sắc- sắt –sách, mắc- mắt -mách, bắc-bắt-bách, tắc-tắt-tách...) Với các phụ âm đứng đầu bằng chữ s hay x , ch hay tr, r hay gi, người miền Bắc thường lẫn lộn, chẳng hạn sung sướng thay vì xung xướng, tràn trề thay vì chàn chề, rõ ràng thay vì giõ giàng, trong khi người Quảng Trị phân biệt những âm ấy một cách tách bạch. Chỉ với cách phát âm của dấu hỏi, dấu ngã, giọng Hà Nội mới đúng hơn so với giọng Quảng Trị mà thôi.
Cách phát âm từ đèo Hải Vân vào Nam cũng có những hạn chế như lối phát âm Huế (các âm cuối có g hay không g, c hay t; oi hay oai; ăn, ăng hay anh ...), hoặc những sai biệt khác, (chẳng hạn ai phát âm thành ưa, vui thành dui v.v...) nhưng nói chung, âm thanh, âm điệu, âm sắc lại gần gũi với giọng Bắc hơn.
Ngày xưa khi các phương tiện giao thông, truyền thông còn quá hạn chế, dân chúng ít tiếp xúc với nhau trực tiếp hoặc qua truyền hình, truyền thanh, cho nên dù cùng một ngôn ngữ, các địa phương khác nhau thường phát âm khác nhau, giọng nói cũng khác, đôi khi hiểu lầm nhau. Nay trở ngại ấy đã giảm thiểu rất nhiều. Tuy nhiên, một cách tổng quát, theo tôi, giọng nói và cách phát âm của dân mình có thể nằm trong bốn khu vực chính: (1) giọng Bắc từ Ninh Bình lên đến biên giới với Trung Quốc, (2) giọng Nam từ Đà Nẵng tới Cà Mau, (3) giọng Thanh Nghệ Tĩnh, (4) giọng Bình Trị Thiên. Trong bốn giọng nói ấy:
(1) gần với (2), (3) gần với (4).
Do đó, người Sài Gòn và người Hà Nội nói chuyện với nhau dễ dàng hơn là phải nghe giọng Huế hay giọng Nghệ chẳng hạn. Nhưng có điều lạ là người vùng Bình Trị Thiên hay Thanh Nghệ Tĩnh lại ít gặp trở ngại khi nghe giọng thuộc khu vực (1) tức giọng Bắc, hay giọng thuộc khu vực (2), tức giọng Nam. Xin nêu một ví dụ: Một vị nguyên thủ quốc gia vốn gốc Quảng Bình, từng làm quan tại triều đình Huế, về sau là Tổng Thống thời Đệ Nhất Cộng Hòa, vẫn sử dụng giọng miền Nam khi đọc diễn văn hay trong những dịp tiếp xúc với dân chúng để có thể truyền đạt dễ dàng hơn. Chỉ những lúc chuyện trò riêng tư với người gốc Bình Trị Thiên, ông mới nói giọng Huế.

1   2

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét