Thứ Hai, 26 tháng 7, 2010

MỘT THẾ GIỚI HẬU HOA KỲ (THE POST-AMERICAN WORLD)

Nguyên tác: Fareed Zakaria
Người dịch: Lê Quốc Tuấn

MỘT THẾ GIỚI PHI TÂY PHƯƠNG?

Kỳ 1

Như mọi người đã biết, vào năm 1492, Christopher Columbus dong thuyền trên một chuyến viễn du tham vọng nhất trong lịch sử nhân loại. Nhưng điều ít được ai biết đến là tám mươi bảy năm trước đó có một người Trung Quốc tên Trịnh Hoà đã bắt đầu chuyến đầu tiên trong bảy cuộc viễn du có tham vọng tương tự. Những con tàu của họ Trịnh to hơn và được đóng tốt hơn của Columbus, Vasco da Gama, hay của bất cứ người đi biển vĩ đại nào vào thế kỷ mười lăm và mười sáu. Trong chuyền đầu tiên của ông vào năm 1405, Trịnh Hoà đã mang 317 con tàu cùng 28 ngàn người, so sánh với 4 con tàu cùng 150 thủy thủ của Columbus. Những con tàu lớn nhất trong đội thương thuyền là các "con tàu kho báu" đều có bề dài hơn bốn trăm bộ - bốn lần dài hơn chiều dài con tàu chỉ huy Santa Maria của Columbus - và có đến chín cột buồm. Mỗi một con tàu tốn kém nhiều gỗ đến mức phải đốn bỏ ba trăm mẫu rừng để chỉ đóng đủ được một chiếc. Ba chiếc được thiết kế để chở ngựa, thực phẩm, dự trữ, nước và dĩ nhiên cả quân lính. Con tàu nhỏ nhất trong đội thuyền của họ Trịnh, một chiếc tàu chiến năm cột buồm, có khả năng vận dụng rất cao, vẫn còn lớn gấp đôi chiếc tàu chiến huyền thoại của Tây Ban Nha.

Những con tàu của Trung Hoa đã được đóng bằng gỗ đặc biệt, lắp ráp phức tạp, có kỹ thuật ngăn chống nước rất tinh vi và có những boong tàu điều chỉnh được. Loại tàu kho báu có các cabin sang trọng, rộng lớn, cánh buồm bằng lụa và những đại sảnh có cửa sổ. Tất cả được đóng tại xưởng đóng tàu trên cạn ở thành phố Nam Kinh, trong một xưởng đóng tàu lớn nhất và tiến bộ nhất thế giới. Trong 3 năm sau 1405, 1681 con tàu đã từng được chế tạo và bảo trì ở Nam Kinh. Không một thứ gì có thể so sánh được gần như thế ở Âu châu vào lúc ấy (1).

Kích cỡ to lớn thật quan trọng. Những con tàu vĩ đại này cố ý muốn tạo nên sự "rúng động" và "kinh hoàng" cho những người dân trong các khu vực chung quanh, để khẳng định sức mạnh và tầm vươn tới rõ ràng của nhà Minh. Trong bảy chuyến hải hành của ông giữa 1405 và 1433, họ Trịnh đã du hành ngang dọc nhiều lần trên vùng biển Ấn Ðộ Dương và chung quanh khu vực Đông Nam Á châu. Ông đã ban tặng phẩm cho những người địa phương và tiếp nhận cống lễ. Khi phải đối đầu với sự kình chống, ông không ngần ngại xử dụng đến sức mạnh quân đội. Trong một chuyến hải hành, ông đã bắt mang về một người Sumatran cướp biển; vào một chuyến khác, một thủ lãnh phiến loạn từ Ceylon. Ông từng đem về nhiều hoa đẹp, trái cây, đá quý và những thú vật hiếm như hươu cao cổ và ngựa vằn cho sở thú của hoàng gia từ những chuyến hải hành.

Nhưng câu chuyện của họ Trịnh kết thúc một cách lạ lùng. Vào những năm 1430, một vị hoàng đế mới lên ngôi. Vị vua mới này đã thình lình chấm dứt những chuyến viễn du lớn và xoay lưng lại với nền giao thương cùng các cuộc thám hiểm. Một số quan chức đã cố gắng duy trì để truyền thống được tiếp tục, nhưng không một ai thực hiện được. Vào năm 1500, tòa án đề ra sắc lệnh rằng bất cứ ai đóng tàu nhiều hơn hai cột buồm (một loại kích cỡ cần đến để đi xa trên biển) sẽ bị xử tử. Năm 1525, đi ra biển bằng một chiếc thuyền nhiều cột buồm dù với bất cứ mục đích gì là một tội hình sự. Khi triều đại nhà Thanh lên ngôi năm 1644, họ vẫn duy trì chính sách căn bản này, nhưng họ đã không tôn trọng sắc lệnh cũ cho lắm: thay vào đó, họ đã đơn giản đốt cháy một con tàu khả năng chạy được 700 hải lý của vùng biển phía nam Trung Hoa, khiến con tàu này hóa thành vô dụng. Những biện pháp này đã có được các hậu quả mong muốn: kỹ nghệ tàu thuyền của Trung Hoa xụp đổ. Trong nhiều thập niên sau chuyến hải du cuối cùng của họ Trịnh, hàng chục nhà thám hiểm Âu châu đã du hành qua các vùng biển chung quanh Ấn Ðộ và Trung Hoa. Nhưng đã phải mất đến ba trăm năm để một con tàu biển Trung Hoa đến được Âu châu - trong chuyến thăm viếng cuộc Triển lãm Vĩ đại hồi năm 1851.

Điều gì giải thích được cho sự thay đổi rõ rệt này? Thành phần ưu tú Trung Hoa đã bị chia rẽ qua lối tiếp cận với bên ngoài của đất nước, và các nhà lãnh đạo mới ở Bắc Kinh xem các chuyến viễn du như những sự thất bại. Những chuyến viễn du ấy quá tốn kém, khiến phải tăng thuế trên một dân số đã quá nặng nề mà lại mang về không được bao nhiêu. Giao thương có nẩy nở từ kết quả của những tiếp xúc này, nhưng hầu hết chỉ làm lợi cho quân cướp biển và giới buôn bán. Thêm vào đó, vào giữa thế kỷ mười lăm, Mông Cổ và những thành phần kỵ binh khác đang đe dọa biên cương của Vương triều, khiến phải tập trung giải quyết và tốn kém nhiều nguồn lực. Viễn du trên biển thật chẳng khác gì một sự tiêu khiển tốn kém.

Đấy là một quyết định tai họa. Ngay khi Trung Hoa đã chọn thế quay mặt đi với thế giới bên ngoài, Âu châu đã đang thám hiểm ra bên ngoài, và chính nhờ những chuyến viễn du hàng hải của Âu châu đã khiến họ tự tăng thêm được năng lực, bành trướng thế lực và ảnh hưởng của mình ra toàn cầu. Nếu Trung Hoa đã vẫn giữ cho các con thuyền của mình trên biển thì tiến trình lịch sử hiện đại đã có khác đi hay không? Chắc là không. Quyết định hướng nội của Trung Hoa không phải chỉ là một mệnh lệnh chiến lược dở. Đó chính là diễn tả cho sự mụ mẫm, đình trệ của nền văn minh. Đàng sau quyết định kết thúc các chuyến hải hành là một loạt những nguyên nhân phức tạp vì sao Trung Hoa và hầu hết thế giới Không-Tây phương bị chậm trễ sau các nước Tây phương hàng nhiều thế kỷ. Vì sự chậm trễ mà họ đã gây ra, hàng trăm năm sau thế kỷ mười lăm, trong khi Âu châu và Hoa Kỳ đã kỹ nghệ hóa, thành thị hóa và hiện đại hóa, cả phần còn lại của thế giới vẫn còn phải ở trong nông nghiệp và nghèo khổ.

Nếu muốn hiểu "cuộc vươn dậy của thành phần còn lại" nghĩa là gì, chúng ta phải hiểu chỉ riêng việc thành phần còn lại này đã ngủ trong bao lâu. Hóa ra là thành phần trí thức và cơ cấu thống trị của phương Tây thì không phải mới mà cũng không phải là một hiện tượng phù du chóng tàn. Chúng ta từng sống trong thế giới Tây phương qua hơn một nửa thiên niên kỷ. Bất chấp sự nổi dậy của các quốc gia và các lục địa khác, những ảnh hưởng của Tây phương sẽ là lâu dài và di sản của nó sẽ còn sâu sắc trong vào thập niên tới hay hơn nữa.

Nói rằng Trung Hoa và Ấn Ðộ thực đã giàu có như phương Tây mãi cho đến những năm 1800 là một điều sáo rỗng. Theo lối nhìn này, thống trị của phương Tây chỉ là đốm nhỏ 200 năm, và hiện nay chúng ta đang trở lại với một sự cân bằng hơn. Phán đoán này cũng ngụ ý rằng những lợi thế của phương Tây chắc có lẽ phần lớn là do sự tình cờ- kết quả của “các thuộc địa và mỏ than đá” (2), nghĩa là, chỉ nhờ kết quả khám phá ra nguồn năng lượng rẻ và sự thống trị những vùng đất màu mỡ của Á châu, Phi châu và châu Mỹ. Quan điểm này, vốn bao chứa sự nhạy cảm đa văn hóa khiến đã chối bỏ bất cứ thực trạng nào của phương Tây có những lợi thế của nó. Nhưng mặc dù điều này đúng về chính trị, nó lại không hề đúng về mặt lịch sử.

Có một nguyên nhân cho sự phiên giải nhầm lẫn này là từ các phân tích thường chú trọng phần lớn vào kích thước kinh tế của cả Trung Quốc và Ấn Ðộ. Căn cứ vào lịch sử, đây là một sự kiểm định có tính lừa dối. Mãi cho đến thời kỳ hiện đại, nền kinh tế của một quốc gia đã không thể được huy động, định dạng, hay là mang vào sử dụng trong bất cứ ý nghĩa nào. Chẳng hạn như một sự thực của thế kỷ mười bảy, hàng triệu người nông thôn trong những vùng xa, hẻo lánh của Trung Quốc làm việc cật lực trong nghèo đói đã chẳng giúp đóng góp gì vào sức mạnh hay sự giàu có của đất nước, dẫu cho tất cả sản lượng của họ góp lại có là một con số lớn lao đi nữa. Dân số là yếu tố chính của GDP còn sản xuất thì đa phần là nông nghiệp. Vì Trung Quốc và Ấn Ðộ có dân số lớn gấp bốn lần hơn dân số Tây Âu vào năm 1600 do đó GDP của họ tất nhiên là phải lớn hơn. Ngay cả vào năm 1913, khi Anh Quốc là một quyền lực hàng đầu thế giới với công nghệ cao cấp, năng lượng kỹ nghệ và giao thương lớn mạnh nhiều lần hơn tất cả các nước Á châu, Trung Quốc cũng đã có thể khẳng định một tổng sản lượng GDP lớn hơn.

Khi nghiên cứu về thời kỳ tiền kỹ nghệ, trước những yếu tố như chính phủ lớn mạnh, truyền thông thông tin, giao thông vận chuyển và các chính sách thuế quan rộng rãi, riêng toàn bộ GDP gộp lại cũng có thể cho chúng ta biết một ít điều về quyền lực quốc gia hay mức tiến bộ của quốc gia ấy. Nhưng con số này không cho ta biết được gì về tính chất năng động của xã hội hay các khả năng tạo nên các sáng kiến, khám phá mới. Và thật là một bí ẩn trong những lãnh vực này khiến đã cho một đất nước những phương cách để tạo nên thịnh vượng và sức mạnh cho chính phủ của họ.

Chúng ta sẽ có được một bức tranh rõ ràng hơn nhiều về vị trí đúng của một quốc gia nếu chúng ta xem xét đến sự phát triển kinh tế và GDP cá nhân. Từ năm 1500, GDP cá nhân của các nước Tây Âu đã cao hơn của các nước Ấn Ðộ và Trung Quốc, đến năm 1600 đã cao hẳn đến 50 phần trăm hơn Trung Quốc. Từ đó, khoảng cách cứ lớn dần. Giữa năm 1350 và 1950 - sáu trăm năm - GDP cá nhân hầu như không thay đổi ở Trung Quốc và Ấn Ðộ (lơ lửng ở khoảng $600 ở Trung Quốc, $550 ở Ấn Ðộ). Trong cùng thời kỳ ấy, GDP cá nhân ở Tây Âu đã đi từ $662 đến $4594, nghĩa là tăng 594 phần trăm.

Các du khách Tây Âu trong thế kỷ mười bảy thường cho thấy rằng đời sống ở Trung Quốc và Ấn Ðộ rất thấp so với các nước Bắc Âu. Nhà kinh tế học Gregory Clark đã tính rằng vào thế kỷ mười tám tiền lương trung bình của một người lao động ở Amsterdam có thể mua được 21 cân lúa mì, ở London được 16 cân, ở Paris mua được 10 cân. Ở Trung Hoa, có thể mua được 6.6 cân (hoặc tương đương). Clarks cũng xem xét các chứng liệu để tính đến sự khác biệt trong số lượng các vụ đói kém, cũng đã cho thấy cùng một kết quả. Nói vắn tắt, phương Tây đã từng thịnh vượng hơn phương Đông từ rất lâu trước thế kỷ mười tám.

Thế nhưng, không phải lúc nào cũng như thế. Đối với những thế kỷ đầu tiên của thiên niên kỷ thứ hai, phương Đông đã đi trước phương Tây trong tất cả các phương diện. Khi Âu châu chìm trong chiều dày của thời Trung cổ, cả hai vùng Trung Ðông và Á châu thịnh vượng, với những truyền thống sinh động của các học thuật, sáng tạo và giao thương. Vùng Trung Ðông là tuyến đầu của nền văn minh, bảo tồn và xây dựng trên kiến thức Hy Lạp, La Mã và mang lại được những công trình khai lộ trong nhiều lãnh vực khác nhau như toán học, vật lý học, y học, văn học và tâm lý học. Dĩ nhiên, chữ số Ả Rập đã được sáng tạo ở đó, cũng như khái niệm về số zero. Từ “đại số học” (algebra) có nguồn từ một tựa sách, Al-Jabr-wa-al-Muqabilah của một học giả người Ả Rập tên là Al-Khwarizmi. Về quân sự, người Ottoman là những kẻ ghen tỵ với đối thủ của họ và đã tiếp tục bành trướng đế quốc của họ, đánh phá các nước phía Tây vùng trung Á và Âu châu cho đến tận thế kỷ mười bảy, trong những thời kỳ mạnh nhất của họ, đã kiêu hãnh về năng lực khoa học, thiên tài nghệ thuật và kiến trúc rực rỡ của mình. Ngay cả từ đầu thế kỷ mười sáu, dưới thời vua Krishnadevaraya, thành phố phía nam Ấn Ðộ của Vijayanagar đã được nhiều du khách ngoại quốc mô tả là một trong những thành phố vĩ đại nhất thế giới, có thể so sánh ngang với Rome. Một vài thế kỷ trước đó, Trung Hoa có lẽ giàu có hơn và thông thái về kỹ thuật hơn bất cứ quốc gia nào, đã từng sử dụng đến các kỹ thuật khác nhau - thuốc súng, loại có thể di chuyển được, trên các yên ngựa – mà phương Tây còn vấp váp trong thế kỷ sau đó. Ngay cả Phi châu cũng có mức thu nhập trung bình cao hơn Âu châu trong giai đoạn này.

Cơn sóng trào bắt đầu xoay chiều vào thế kỷ mười lăm – và đến thế kỷ mười sáu thì Âu châu đã dẫn đầu. Với cuộc cách mạng trong tư duy mang tên thời Phục Hưng, các danh nhân như Copernicus, Vesalius và Galieo đã sản sinh ra nền khoa học hiện đại. Thực thế, một trăm năm giữa năm 1450 và 1550 đã đánh dấu một giai đoạn hết sức đáng lưu ý trong lịch sử nhân loại - giữa một bên là đức tin, giáo lễ và tín điều với một bên là quan sát, chứng nghiệm và các tư tưởng phê phán. Và điều đã xảy ra ở Âu châu này đã đưa nền văn minh ấy đi lên trong nhiều thế kỷ. Vào năm 1593, khi một chiếc thuyền Anh Quốc trang bị tám mươi bảy khẩu súng, vượt qua 3.700 hải lý đến Istanbul, một sử gia Ottoman đã phải gọi đó là “sự kiện phi thường của thời đại tựa như chưa từng bao giờ trông thấy hay từng được ghi lại” (3). Vào thế kỷ mười bảy, hầu như tất cả các loại kỹ thuật, sản phẩm và các tổ chức phức tạp (như quân đội hay các công ty liên doanh) ở các nước Tây Âu đều tiến bộ hơn nhiều so với bất cứ nơi nào trên thế giới.

Tin rằng các xã hội Á châu, trong bất cứ ý nghĩa quan trọng nào, từng ngang hàng với phương Tây trong những năm 1700 hay 1800 là tin rằng các tiến bộ về khoa học kỹ thuật từng cách mạng hóa thế giới phương Tây từ ba trăm năm trước không có ảnh hưỏng gì đến tình trạng cụ thể của họ là một sự ngu xuẩn. Tiến bộ khoa học không chỉ là sự chế tạo được các máy móc mới. Tiến bộ khoa học kỹ thuật có thể thay đổi dự phóng tinh thần của các xã hội phương Tây. Thử quan sát chiếc đồng hồ cơ học, đã được sáng tạo ở Âu châu trong thế kỷ mười ba. Sử gia Daniel Boorstin từng gọi nó là “cha mẹ của các máy móc”. Ông đã nhận xét, “những chiếc đồng hồ đã phá vỡ bức tường ngăn giữa kiến thức, sự tinh xảo và sự khéo léo, và những người chế tạo đồng hồ là những người có ý thức đầu tiên đã áp dụng được các lý thuyết về cơ học và vật lý để tạo nên những bộ máy ấy” (4). Các ảnh hưởng lớn rộng hơn của chiếc đồng hồ còn nhiều hơn cả tính cách mạng của nó. Đồng hồ giải phóng con người khỏi sự lệ thuộc vào mặt trăng, mặt trời. Khiến con người sắp xếp được ngày, xác định được đêm, tổ chức được công việc, và – có lẽ quan trọng hơn cả - là tính toán được chi phí lao động, từ việc xem xét số lượng giờ giấc trong từng kế hoạch. Trước khi có đồng hồ, thời gian không hề có một giá trị có thể tính toán được.

(Còn tiếp)


Chú thích

1. Các sự thực về các chuyến đi của Trịnh Hoà có nguồn từ nhiều nơi, kể cả từ Gavin Menzies, 1421: The Year
China Discovered America
(New York: Harper Perenial, 2004); David lanes, The Wealth and Poverty of Nations
(New York w.w. Norton 1999) và Kuei-Sheng Chang “The Maritime Scene in China at eh Dawn of Great
European Discoveries” Journal of theAmerican Oriental Society 94, số 3 (July –Sept., 1974) tr. 347-59

2. Theo Kenneth Pomeranz, The Great Divergence:China, Europe and the Making of the modern World Economy
(Princeton:Princeton University Press, 2000). Pomeranz khác hẳn với quan điểm cho rằng Trung quốc là một sự
tụt hậu như tôi từng mô tả. Nhưng Angus Maddison, William McNeil và David Landres là những hướng dẫn tốt
hơn về chủ đề này; và Phillip Huang (xem dưới đây) đã bác bỏ Pomeranz trong từng chi tiết.

3. Trích từ Bernard Lewis, “The West and the Middle East”, Foreign Affairs 76, số 1 (Jan/Feb. 1997) tr. 114.

4. Theo Daniel J. Boorstin, The Discoverers (New York:Vintage books, 1985) tr. 64. Công trình của David S.
Landes, đặc biệt trong Revolution in Time:Clocks and the Making of The Modern World (Cambridge: Havard
University Press, 1983) cũng dùng đến sự tiến bộ của chiếc đồng hồ để tương phản các tính cách về sáng kiến và
thay đổi kỹ thuật ở các xã hội Đông và tây phương.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét