Thứ Hai, 12 tháng 7, 2010

Một Thế Giới Hậu Hoa Kỳ - (The Post-American World)

(Tiếp theo)
Nguyên tác: Fareed Zakaria
Người dịch: Lê Quốc Tuấn

Lời Mở Ðầu cho ấn bản phần mềm

Cơn khủng hoảng của năm 2008 thì khác chính xác ở chỗ nó không bắt nguồn từ một số vũng tù ở các nước đang phát triển; nó đã xuất hiện ngay từ Hoa Kỳ, tâm điểm của chủ nghĩa tư bản toàn cầu, và tiến triển qua các huyết mạch của nền tài chính quốc tế. Bất chấp ý kiến của một số bậc uyên thâm, cuộc khủng hoảng này đã không hề báo hiệu chung cuộc cho chủ nghĩa tư bản. Nhưng chắc chắn nó đã là sự kết thúc của một số loại thống trị kinh tế toàn cầu đối với Hoa Kỳ. Cuộc đột biến kinh tế hiện nay sẽ chỉ thúc đẩy sự chuyển dịch đến một thế giới Hậu-Hoa Kỳ. Nếu cuộc chiến tranh ở Iraq và chính sách ngoại giao của George W. Bush có được hậu quả vô hiệu hoá tính hợp pháp của sức mạnh chính trị quân sự của Hoa Kỳ trong cái nhìn của thế giới, cuộc khủng hoảng tài chính có được hậu quả của sự vô hiệu hóa sức mạnh kinh tế của Mỹ.

Bất kể ai nghĩ gì về chính sách ngoại giao của Hoa Kỳ, tất cả đều phải đồng ý rằng Hoa Kỳ là một nền kinh tế có hiệu quả, khôn ngoan và hiện đại nhất thế giới - với những thị trường vốn đầu tư tiến bộ nhất. Kết quả là, Hoa Kỳ giữ được quyền bá chủ không chỉ bằng sức mạnh quân sự mà còn trong cõi lớn của các ý tưởng. Các chủ ngân hàng trung ương và các viên chức tài chính trên khắp thế giới đều đã học hỏi những căn bản cho nghề nghiệp của họ từ các trường sở của Mỹ. Các chính khách phát triển kinh tế của họ từ việc bắt chước theo các lời khuyên vốn được dẫn giải trong Đồng thuận Washington (Wasington Consensus). Những sáng kiến ở thung lũng Silicon từng là niềm ganh tỵ của cả thế giới. Các thị trường sâu sắc, sinh lợi của Nữu Ước đã được tán thưởng và bắt chước trên khắp các châu lục chỉ trừ châu băng đảo.

Như Brad Setser, một thành viên của Hội đồng Quan hệ Đối ngoại đã nhận xét, cuộc toàn cầu hóa sau Đệ nhị thế chiến gần như đồng nghĩa với cuộc Mỹ hóa. Ông viết "Những người ngoại quốc đi vay tìm cách gây quỹ có khuynh hướng phát hành các trái phiếu có tên gọi bằng Mỹ kim, sử dụng luật lệ của New York, và đáp ứng đủ các tiêu chuẩn của Uỷ Hội Trao đổi chứng khóan (Securities and Exchange Commission) để công báo". Các định chế và mẫu mực của Mỹ đã được thu hút hơn chính từ thành công về kinh tế của quốc gia.

Sự sụp đổ của Wall Street sẽ ăn mòn đáng kể vào di sản thành công ấy. Kinh tế Mỹ sẽ teo lại hoặc đình trệ trong năm 2009, và sẽ phát triển một cách có tiềm năng chầm chậm trong những năm sau đó, nặng nề bởi nợ nần. Hầu hết Âu châu cũng sẽ ở trong tình trạng tương tự. Hoạt động kinh tế ở mọi nơi, một cách tự nhiên, sẽ bị ảnh hưởng bởi cuộc xụp đổ của thế giới thượng hạng này.Thị trường chứng khoán khắp nơi sẽ sụp đổ và tài chính sẽ trở nên hoàn toàn toàn cầu hóa. Nhưng các nền kinh tế căn bản của những thị trường lớn – Trung Hoa, Ấn Ðộ và Ba Tây - hiện đủ lớn để có thể có được hoạt động kinh tế của chính mình (nhu cầu nội địa) khiến không phải lệ thuộc vào các xuất khẩu qua Tây phương. Kết quả là, Quỹ Tiền tệ quốc tế ước lượng 100 phần trăm phát triển của toàn cầu trong năm 2009 sẽ đến từ các thị trường mới nổi. Trong khi các thị trường tài chính của những đất nước này bị buộc chặt với các thị trường tài chính của Hoa Kỳ, các nền kinh tế thực sự của họ, lần đầu tiên trong lịch sử, đang đạt được những độc lập tính từ những thị trường này. Goldman Sachs thoạt tiên đã dự án là GDP gộp lại của 4 nước BRIC – Ba Tây, Nga, Ấn Ðộ, Trung Quốc – có thể vượt khỏi tổng số GDP gộp lại của các nước G7 vào năm 2035. Vào những ngày này, họ cho rằng điều ấy có thể xảy ra vào năm 2027. Cuộc suy thoái toàn cầu hiện nay làm tạo thêm nhiều niềm tự tin chứ không ít đi.

Nói cho cùng, quyền lực toàn cầu vượt khỏi các ý tưởng, các chương trình làm việc và các khuôn mẫu. Sự phát hiện mà từ đó phần lớn các chương trình đổi mới đã xảy ra trong thập kỷ qua đã tạo nên một loại nhà giấy (house of cards) ăn mòn quyền lực Mỹ. Kể từ nay, rao bán các ý tưởng Mỹ đến các phần còn lại của thế giới sẽ phải cần đến nhiều nỗ lực hơn. Các nước đang phát triển sẽ lựa chọn những chính sách kinh tế nào khiến phát triển được lòng tin và thích hợp với mình nhất. “Hệ thống kinh tế Hoa Kỳ được xem như một mẫu mực và chúng tôi cố gắng hết sức mình để bắt chước bất cứ phần nào chúng tôi có thể bắt chước được” Yu Yongding, một cựu tham vấn cho ngân hàng trung ương Trung Quốc đã phát biểu như thế vào cuối tháng 9 năm 2008. “Đột nhiên, chúng tôi nhận thấy người thầy của chúng tôi không phải là xuất sắc như thế nữa, cho nên lần sau khi thiết kế hệ thống tài chính của mình chúng tôi sẽ sử dụng đến trí tuệ của chính chúng tôi nhiều hơn”.

Sự vùng dậy của phần còn lại, ở trọng tâm là một hiện tượng kinh tế nhưng sự chuyển dịch chúng ta đang chứng kiến không phải chỉ là các vấn đề thuộc tiền tệ. Chuyển dịch này có cả các hậu quả của chính trị, quân sự và văn hóa nữa. Khi các quốc gia trở nên giàu và mạnh hơn, và khi Hoa Kỳ phải đấu tranh để dành lại niềm tin của cả thế giới, ắt chúng ta sẽ nhìn thấy nhiều thử thách và những quyết đoán lớn lao hơn từ những quốc gia đang vươn dậy. Trong một tháng mùa hè vừa qua, Ấn Ðộ đã sẵn lòng thách thức trực diện Hoa Kỳ ở các cuộc đàm phán thương mại tại Doha, Nga tấn công và chiếm đóng một số phần lãnh thổ của Georgia và Trung Quốc đã tổ chức Olympic với một chương trình biểu diễn ngoạn mục hoành tráng nhất lịch sử (với chi phí hơn 40 tỉ). Mười năm trước, không một quốc gia nào trong số ba nước này có đủ sức mạnh và niềm tự tin để hành động như họ đã làm. Cho dù tỉ số tăng trưởng của họ xuống thấp và chắc chắn sẽ phải xuống thấp như thế, những quốc gia này cũng sẽ không buông bỏ những vai trò mới của họ trong hệ thống toàn cầu.

Hãy thử xem xét một số ví dụ. Trải qua thập kỷ vừa rồi, Hoa Kỳ đã bành trướng ảnh hưởng của mình vào khu vực từng là của Nga trong nhiều thế kỷ. Sự thống trị của Hoa Kỳ trong thời đại hậu-chiến tranh lạnh, Moscow đã đồng ý. Họ cần tiền và hậu thuẫn của Washington. Nhưng vào năm 2008 Nga đã là một quyền lực được tái sinh. Giữa tháng hai năm 2009, nước cộng hòa Kyrgyz hoàn tất quyết định của họ để đóng cửa căn cứ hàng không Manas, một căn cứ được Hoa Kỳ cung cấp để đem lại các hỗ trợ hàng không chủ yếu cho các chiến dịch của họ tại Afghanistan, vốn đã trở nên đặc biệt quan trọng sau khi đóng cửa một căn cứ hàng không khác ở Uzbekistan vào năm 2005. Động cơ thúc đẩy chính là đồng tiền. Hoa Kỳ đã chi 55 triệu mỹ kim mỗi năm để thuê căn cứ này và cho thấy ý định sẵn sàng trả đến 100 triệu/năm. Chính phủ Nga chống lại một cách không thân thiện ý tưởng của một căn cứ quân sự Mỹ bán thường trực hiện diện trong sân sau nhà của mình, đã chào mời một kế hoạch viện trợ trị giá 2.3 tỉ mỹ kim khiến làm rúm ró hỗ trợ tài chính của Mỹ, bao gồm cả 180 triệu mỹ kim tiền xóa nợ, 150 triệu tiền viện trợ và 2 tỉ tiền nợ để hoàn tất công trình xây dựng trạm thủy điện. Công trình năng lượng là một công trình liên doanh và sẽ nâng công suất điện lực của Cộng Hoà Kyrgyz lên 40 phần trăm, có thể nâng khả năng xuất khẩu năng lượng của quốc gia này đến mức tối đa. Cho dù giá dầu có xuống đến 40 mỹ kim một thùng, Nga vẫn ở trong vị trí có thể theo đuổi một chính sách ngoại giao độc lập hơn.

Ngay cả đồng minh mới của Mỹ là Ấn Ðộ cũng duy trì tính độc lập của mình với Hoa Kỳ. Thủ đô Tân Đề Ly cảm kích Washington về các hỗ trợ của họ trong việc hợp pháp hoá Ấn Ðộ như là một đất nước có năng lực nguyên tử bình thường, nhưng Ấn Ðộ vẫn chống lại các vấn đề về an ninh. Mặc cho sức ép của Hoa Kỳ, Ấn Ðộ cứ đơn giản không xem Iran như một mối đe dọa như Hoa Kỳ quan niệm. Ấn Ðộ đã một lần đồng ý ủng hộ Hoa Kỳ tại Ủy ban Quốc Tế về Năng lượng Nguyên tử nhưng vẫn tiếp tục có những quan hệ tăng cường với Iran, kể cả việc cùng tham gia tập trận trên vùng biển. Ấn Ðộ xem Iran như một đối tác thương mại mới và từ chối việc cô lập Iran trong bất cứ hình thức nào. Vào tháng Tư 2008, các phi công của Tổng thống Mahmoud Ahmadinejad yêu cầu được dừng lại ở thủ đô Tân Đề Li để tiếp nhiên liệu khi lãnh tụ Iran trở về nước sau chuyến viếng thăm Tích Lan. Ngay lập tức, chính phủ Ấn Ðộ đã đề xuất một lời mời chính thức và biến chuyến tạm dừng 6 giờ đồng hồ này trở thành một cuộc thăm viếng cấp quốc gia.

Tình trạng hiện tại của IMF và Ngân hàng thế giới cũng đem lại một bài học hữu ích. Các cơ quan chức năng này, thống trị bởi tiền bạc và ý tưởng của Mỹ, lâu nay từng được xem như những công cụ chuyên chở ảnh hưởng Mỹ. Ngày nay, Setser đã viết rằng “các nền kinh tế mới nổi lên như Trung Quốc, Nga, Ấn độ, Saudi Arabia, Korea và ngay cả Brazil cũng không cần đến IMF; họ còn không ngừng trở thành một vai trò cạnh tranh với IMF. Saudi Arabia đã là hậu ứng cho Lebanon. Venezuela đã giúp Argentina trả lại nợ cho IMF. Trung Quốc đã phát triển tài chính như một lựa chọn khác thay vì vay mượn ở Ngân hàng thế giới”.

Để có được một thí dụ rõ ràng hơn chỉ riêng về việc các thay đổi đã liên kết sâu sắc như thế nào với sự nổi dậy của phần còn lại, hãy đọc lại các tin tức báo chí về Hội nghị G20 ở Washington DC tháng 11 năm 2008, tất cả các cuộc khủng hoảng tài chính trước đây đã từng được giải quyết bởi Ngân hàng thế giới hay khối G7 (và sau đó là khối G8). Trong những cuộc khủng hoảng trước đây, phương Tây đóng phần vai người thầy nghiêm nghị quở trách một lớp học ương ngạnh. Những bài học họ truyền đạt giờ đây dường như không còn giá trị. Hãy nhớ lại rằng trong suốt cuộc khủng hoảng tài chính ở Á châu, Hoa Kỳ và các nước Tây phương khác đã đòi hỏi Á châu phải thực hiện ba bước - phải để những ngân hàng tồi thất bại, phải giữ các chi tiêu trong kế hoạch và phải giữ lãi suất tiền lời cao. Trong cuộc khủng hoảng của chính mình, Tây phương đã thực hiện đúng chiều ngược lại của cả ba mặt ấy.

Trong bất cứ biến chuyển nào, cuộc khủng hoảng này là một loại mà phương Tây đã không thể tự mình giải quyết được. Để đạt được giải pháp có hiệu quả trong một nền kinh tế toàn cầu liên kết chặt chẽ, tất cả các tay chơi chủ yếu của thế giới - bao gồm cả những nền kinh tế nổi bật nhất - cần phải tham dự. Để cung ứng tiền mặt, những quốc gia như Trung Quốc và Saudi Arabia rất quan trọng. Còn đối với sự chính danh, các câu lạc bộ Âu châu xưa cũ đã già cỗi, là những thánh tích của một thế giới đã qua và đã không còn chào bán được một giải pháp toàn cầu nào cho chính mình. Khi cuộc khủng hoảng trở nên rõ nét, ngay cả Hoa Kỳ cũng không còn có thể hành động độc lập. Do đó, lần đầu tiên một cuộc họp của tất cả đầu não các nước G20 – nghĩa là các nước G8 cộng với các quốc gia chính yếu vừa nổi dậy – đã được triệu tập.

Dĩ nhiên không phải mọi thứ đều thay đổi cả. Hội nghị G20 vẫn phải được tổ chức ở Washington, và tổng thống George W. Bush vẫn đóng vai trò chính trong việc khai triển chương trình làm việc. Đó là một thế giới mới nhưng không cần thiết phải là một thế giới mà Mỹ phải bị loại trừ.Thực tế, Mỹ vẫn còn là quốc gia quan trọng bậc nhất trên toàn cầu, một quốc gia có khả năng thi hành ảnh hưởng trong tất cả các cõi và trên tất cả các lục địa trong phương cách mà không một thế lực nào khác có thể làm được. Mỹ vẫn còn là “siêu quyền lực mặc nhiên”, trong ngôn từ của nhà văn Đức Josef Joffe. Nhưng hiện nay, chúng ta đang sống trong một thế giới mà hành động chung không phải chỉ là một ước muốn mà chính là vì sự sống còn.

Tất cả cùng liên kết lại với nhau
Hợp tác quốc tế là một con vật lắt léo. Dù có quyết tâm cũng chẳng có được một lối đi rõ ràng. Afghanistan là mẫu mực cho một loại chương trình hợp tác quốc tế thành công - tối thiểu là trên lý thuyết. Cuộc xâm chiếm ban đầu có được sự ủng hộ của Liên Hiệp Quốc và cộng đồng quốc tế. Nỗ lực quân sự, hiện nay đã trải qua hơn 7 năm, bao gồm Anh Quốc, Canada, Poland – ngay cả Pháp Quốc. Ngân hàng thế giới, USAID và các chính phủ quốc tế đã đóng góp nhiều tỉ mỹ kim để tái thiết cấu trúc hạ tầng. Thế nhưng cuộc chiến ở đấy vẫn gần như thất bại. Chính phủ Hamid Karzai chỉ điều khiển được ít hơn một phần ba đất nước. Bên ngoài Kabul, các lãnh chúa là những cội nguồn thế lực chính. Dù đã suy yếu nhưng Taliban vẫn còn đó khả năng phục hồi đáng lo ngại. Nha phiến trở thành nguồn xuất khẩu chính của đất nước. Và hầu hết các quốc gia - từ các biên giới lân cận như Pakistan đến các đối tác Tây phương như Đức Quốc – đang nôn nóng muốn rút lại những hứa hẹn của họ hơn là hoàn tất chúng. Chủ nghĩa quốc gia thu hẹp lấn át chủ nghĩa quốc tế sáng suốt quá đỗi thường xuyên.

Nhưng bài học từ Afghanistan cho thấy rằng chủ nghĩa đa phương không phải lúc nào cũng dễ dàng và có hiệu quả. Nhưng nỗ lực ở Afghanistan đã khốn đốn vì sự thiếu lưu tâm – chính quyền của Bush đã quá bận rộn việc chào bán và gây chiến ở Iraq – và vẫn có thể cứu chữa được. Bên cạnh đó, các vấn nạn của ngày nay đòi hỏi một giải pháp đa phương dù một giải pháp như thế hết sức khó để mà đạt đến. Thử xem xét đến hầu như bất cứ vấn nạn trầm kha nào ngày nay chúng ta đang phải đối đầu; đa phần đều cho thấy vấn nạn ấy có liên quan đến nhiều hơn là một quốc gia. Chủ nghĩa khủng bố, lây nhiễm tài chính, bệnh tật, năng lượng, an ninh - tất cả đều thử thách đến các giải pháp hợp tác, và trong một số trường hợp cần đến các định chế để thực hiện.

Đơn cử thí dụ như một cơn bệnh lây nhiễm chẳng hạn. Ngày nay, một khi bệnh bùng phát ra, chắc chắn sẽ lây lan nhanh và rộng khắp. Có nghĩa là tất cả chúng ta đều có một thúc đẩy phải xác định được bản chất của căn bệnh càng nhanh càng tốt, cô lập các nạn nhân lại và hành động để tìm ra cách chữa trị. Lý tưởng là, Tổ chức Y Tế quốc tế nhập cuộc, yêu cầu gởi ngay đến họ các mẫu virus, thực hiện các phân tích rõ ràng và đề ra các biện pháp để tuân thủ. Không may thay, Tổ chức y Tế Quốc tế thì thiếu hụt ngân sách và nhân lực, lại không đủ thẩm quyền để có thể làm ra các luật lệ để mọi người phải tuân thủ. Trung Quốc đã từng dấu kín cơn bệnh cúm gia cầm trong lãnh thổ của mình nhiều tuần lễ trước khi thế giới phát hiện ra. Có lúc, Indonesia từng thoái thác không giao nộp các mẫu bệnh cúm vì họ lo lắng rằng các mẫu ấy sẽ được dùng để chế tạo ra các loại chủng ngừa đắt tiền khiến đất nước này không kham nổi.

Đây là loại thế giới đang đối đầu với tổng thống Barack Obama: một thế giới bát nháo và hay sinh sự với rất ít câu trả lời dể dàng. Nhưng dù cho tất cả những vấn nạn này, thế giới này vẫn là một thế giới rõ ràng yên bình. Xảy ra chiến tranh giữa những quyền lực lớn là không thể nghĩ đến được. Căn cứ vào một số yếu tố, chẳng hạn như số dân sự thương vong, chúng ta quả đang sống trong những ngày tháng hòa bình chưa từng có. Và Al Qaeda, mối đe dọa đầu tiên của thế kỷ hai mươi mốt, đã rụng hết răng và chuyển vào thế phòng thủ trong khi người Hồi giáo trên thế giới đã bị đánh bại bởi sự tuyên dương cho bạo lực và sẵn sàng giết hại thường dân, ngay cả khi những thường dân ấy là người Hồi giáo của họ. Việc bầu cho Barak Obama, một người Mỹ đa chủng, từng đi khắp thế giới, có cha là người theo Hồi giáo, mang tên lót là Hussein, đã thực khiến cho những nhóm khủng bố phải kinh ngạc.Trong một đoạn phim video gần đây, các lãnh tụ của chúng đã phải dùng đến phương sách công kích cá nhân một cách vô tích sự vào vị tân tổng thống, gọi ông là một “tên mọi đen giữ nhà”. Mối lo ngại của chúng có thể hiểu được: Việc bầu Obama làm tổng thống là biểu trưng của niềm hy vọng cho thế giới và là một đe dọa đến loại tư tưởng gieo hận thù của Al Qaeda.

Dĩ nhiên, cũng có loại mối lo xưa cũ rằng trong giai đoạn chuyển biến, nền hòa bình có thể bị đổ xụp. Kể từ khi Thucydides đã từng nhận định rằng cuộc chuyển quyền từ Sparta đến Athens là nguyên nhân chính yếu của chiến tranh Pelopnnesan, các học giả đã chứng kiến những thời điểm ấy với sự am hiểu. Nhưng lần này, nếu được sắp đặt một cách đúng đắn, cuộc nổi dậy của phần còn lại không cần phải làm cho mất ổn định. Mỹ sẽ không chìm đắm nhanh, sẽ không phải được thay thế bằng một quốc gia khác. Trong một ý nghĩa sâu sắc, mọi người đang ở cùng nhau trong cuộc khủng hoảng này. Các quốc gia khác có thể đóng các vai trò ổn định chính yếu. Và không phải chỉ ở lãnh vực kinh tế. Trong cuộc xung đột giữa Nga và Georgia, chính tổng thống Pháp Nicolas Sarkozy thân hành đến Moscow chứ không phải Bush. Khi Israel và Syria bước vào bàn thương thảo trong mùa hè vừa qua, chính Turkey đã là người môi giới hòa bình chứ không phải Washington. Và khi các bè phái người Lebanon lại xông vào nhau bằng súng đạn vào bạo lực, người duy nhất có thể mang họ trở lại bàn thương thảo là Shiekh của Qatar. Không một trường hợp nào trong số này có mặt Hoa Kỳ. Điều này không thể nghĩ đến được trong mười năm trước. Ngày nay điều ấy là phổ biến. Dù cho một thế giới tích cực hơn cũng có nghĩa là nhiều đối kháng và mị dân hơn, thế giới ấy cũng có nghĩa là nhiều nhà thương thuyết và các lãnh tụ khu vực hơn với một nguyên tắc để giữ gìn nền hoà bình. Nếu niềm thôi thúc ấy có thể tổ chức và khuyến khích được, thế giới sẽ là một nơi chốn tốt đẹp hơn cho niềm thôi thúc ấy.

Hầu hết các thế lực chính cùng chia xẻ chung với Hoa kỳ những lý tưởng và quyền lợi căn bản. Những khích lệ từ chia xẻ ấy giữ cho thế giới di chuyển trong chiều hướng đi đến ổn định hơn và thịnh vượng hơn. Những hiểm nguy thực sự vẫn còn đó khi Washington đi những quân bài thấp, khiến tạo ra bất ổn và hỗn loạn, hoặc ra bài quá tay, đưa các quốc gia khác đến sự oán giận và đi theo con đường riêng của mình. Sự khôn khéo của sức mạnh quân sự và chính trị của Hoa Kỳ vẫn duy trì một nhiệm vụ duy nhất hết sức quan trọng cho ổn định của toàn cầu. Hoa Kỳ phải mang lại được các luật chơi, các định chế và dịch vụ nhằm giúp giải quyết các vấn nạn chính của thế giới, trong khi trao cho các nước khác - chủ yếu là những quyền lực mới nổi - một vai trò trong hệ thống.

Trong những thập niên gần đây, Hoa Kỳ đã không mang lại lối lãnh đạo này. Tuy nhiên ngay cả Paris, London, Moscow, Beijing hay New Delhi cũng không. Âu châu đã từng do dự khi chuyển nhượng quyền lực cho IMF và các hội nghị khác, và nhiều quốc gia có thị trường mới nổi đã canh giữ chủ quyền của mình một cách ganh tỵ như thể Hoa Kỳ, có khi còn ganh tỵ hơn cả Hoa Kỳ nữa. Ai là đối tượng để chê trách, trừ khi chúng ta tìm ra các phương cách để mở rộng và tăng cường các lề luật và định chế cho sự hợp tác toàn cầu - về kinh tế, năng lượng, thay đổi khí hậu, bệnh tật, ma túy, nhập cư và hàng loạt các vấn đề khác - thế giới sẽ phải trải qua nhiều khủng hoảng và các giải pháp của chính phủ sẽ là khinh suất và đặc biệt sẽ: quá ít, quá trễ. Chúng ta không thể ra khỏi tình trạng khủng hoảng hiện tại với sức lực thực sự trừ khi các quốc gia chính trên thế giới cùng hợp tác với nhau trên một bình diện vĩ đại và bền bỉ.

Mặt khác, nếu chúng ta cùng đến với nhau và làm việc cho những vấn nạn chung của nhân loại, hãy tưởng tượng đến các cơ hội mở ra cho bao người. Thử tưởng tượng nếu chúng ta tạo nên các luật chơi mới, mở ra được một con đường cho phép tiến trình toàn cầu hóa tuyệt vời này phát triển bền bỉ và tỏa rộng đến mọi tầng lớp của xã hội, nâng cao các chuẩn mực của đời sống và sức khỏe cho kẻ nghèo khó nhất trong những người nghèo, cho phép nhiều người và nhiều người nữa phát triển được tiềm năng của mình.

Nếu chúng ta thực sự cộng tác với nhau và bỏ cuộc khủng hoảng này vào quá khứ, các cơ hội sẽ là vô tận. Kinh tế thế giới mang đến được lời hứa hẹn một đời sống tử tế cho mọi người ở mọi nơi chốn. Truyền thông cho phép chúng ta biết đến và học hỏi được ở lẫn nhau như chưa từng bao giờ có đưọc trong quá khứ. Các phối hợp chính trị sẽ có thể thuần hóa được những ngọn lửa cạnh tranh của các quyền lực lớn. Hàng ngày, con người đang thực hiện những điều tuyệt diệu ở mọi nơi chốn trên thế giới. Bây giờ, đã đến lúc để các chính phủ của họ phải đáp ứng điều phi thường này của nhân loại bằng những phát kiến của mình để tạo nên được những hình thái mới của sự hợp tác. Thử thách lớn nhất của Barack Obama và thế hệ lãnh đạo này là sáng tạo được một hệ thống quan hệ quốc tế mới, một hệ thống có thể mang lại sự hợp tác toàn cầu xác thực và có hiệu quả về những vấn đề chung lớn lao đang làm muộn phiền tất cả chúng ta. Đây là kế hoạch lớn nhất của thế kỷ hai mươi mốt: Một kiến trúc mới bảo đảm được hòa bình, phát triển và tự do cho toàn thế giới.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét