Thứ Năm, 29 tháng 7, 2010

MỘT THẾ GIỚI HẬU HOA KỲ (THE POST-AMERICAN WORLD)

Nguyên tác: Fareed Zakaria
Người dịch: Lê Quốc Tuấn

Một Thế Giới Phi Tây Phương (Tiếp theo)
Kỳ 2

Vào thế kỷ mười sáu, khi người Bồ Ðào Nha mang những chiếc đồng hồ đến Trung Hoa, những chiếc đồng hồ cơ động của Âu châu tinh xảo hơn những cái đồng hồ thô kệch chế tạo ở Bắc Kinh. Tuy nhiên, người Trung Hoa, không hề nhìn thấy giá trị gì, họ chỉ xem đấy như những thứ đồ chơi và không hề có ý muốn học hỏi. Sau khi yêu cầu có được một số đồng hồ, họ lại cần người Âu châu hỗ trợ để giúp chế tạo các sáng chế của mình. Tương tự như thế, một trăm năm sau, khi người Bồ Ðào Nha mang những khẩu đại bác đến Bắc Kinh, họ còn phải cung ứng cả những người điều khiển vận hành bắn súng. Trung Hoa có thể tiêu thụ kỹ thuật cao cấp nhưng lại không thể sản xuất được. Đến cuối thế kỷ mười tám, Bắc Kinh không còn muốn nhìn thấy các hàng hóa cao cấp của nước ngoài nữa. Trong một lá thư nổi tiếng trình lên Hoàng đế George đệ Tam, vua Càn Long, người đã cai trị từ năm 1736 đến 1795, chối từ đề nghị giao thương buôn bán của Anh Quốc, đã giải thích rằng "chúng tôi không bao giờ muốn có nhiều cửa hiệu về các thứ lạ lùng tinh xảo, chúng tôi cũng không cần đến bất cứ thứ hàng sản xuất nào từ đất nước quý ngài". Người Trung Hoa đã đóng chặt ý thức của họ đối với thế giới (5).

Không có khoa học kỹ thuật mới, Á Châu trở thành nạn nhân của vấn nạn Malthus cổ điển, các kiến thức năm 1798 nổi tiếng của Thomas Malthus trong An Essay on the Principle of Population, ngày nay đã được nhớ lại vì chủ nghĩa bi quan đầy sai lầm của nó, nhưng thực ra, nhiều suy nghĩ của Malthus thực rất thông minh. Ông đã nhận xét rằng sản xuất thực phẩm ở Anh Quốc tăng trưởng theo một tỉ lệ toán học (1,2,3,4...) nhưng dân số lại tăng theo tỉ lệ địa dư (1,2,4,8,16...). Trừ khi được thay đổi, sự chênh lệch này sẽ bảo đảm rằng đất nước sẽ đói nghèo và chỉ có những tai họa như khan hiếm và bệnh tật mới có thể tăng mức sống lên được (bằng cách làm teo giảm bớt dân số). Tình trạng khó xử của Malthus khá thực tế, nhưng ông đã sai khi không tính đến sức mạnh của khoa học kỹ thuật. Ông đã không nhận thức được rằng những thúc ép này đã khơi dậy phản ứng của con người ở Âu châu- cuộc cánh mạng nông nghiệp khiến đã phát triển cực kỳ mạnh công cuộc sản xuất thực phẩm. (Đại lục này cũng giảm nhẹ được sức ép của dân số từ việc xuất khẩu hàng chục triệu người đến các thuộc địa khác nhau, hầu hết ở châu Mỹ). Do đó Malthus đã sai lầm về Âu châu. Tuy nhiên, phân tích của ông đã mô tả đúng cho khu vực Á châu và Phi châu.

Sức mạnh lại là nhược điểm

Thế thì, làm sao để có thể hiểu được những chuyến đi kỳ diệu đó của người Trung Hoa? Đoàn thương thuyền đáng kinh ngạc của Trịnh Hòa chỉ là một phần nhỏ của bức tranh rộng lớn về các thành đạt đáng chú ý ở Trung Hoa và Ấn Ðộ - các thành phố, lâu đài, cung điện - chính vào thời điểm mà phương Tây đã vượt xa họ. Đền Taj Mahal đã được xây năm 1631 để vinh danh Mumtaz Mahal, người vợ yêu quí của Hoàng đế Mông Cổ Shah Jahan. Nhà du hành người Anh, William Hodges, là một trong rất nhiều người đã chỉ ra rằng không hề có một đền đài nào tương tự như thế ở Âu châu. “Các vật liệu tinh xảo, hình thể đẹp đẽ và sự cân xứng hài hòa của toàn thề công trình”, ông đã viết “đã vượt quá xa những điều tôi hằng nhìn thấy”. Xây nên một toà Taj Mahal khổng lồ với bao nhiêu tài năng và kỹ xảo, cũng như cho thấy được những ngón nghề đáng kinh ngạc về kỹ thuật. Làm sao một xã hội từng tạo nên được những kỳ quan thế giới như thế lại không tiến xa hơn? Nếu Trung Hoa từng tạo nên được các chuyến hải hành hoành tráng khôn ngoan như thế tại sao họ lại không làm được những cái đồng hồ?

Một phần những câu trả lời đã nằm ngay trong cách xây dựng đền Taj Mahal. Hai mươi ngàn công nhân làm việc ngày đêm trong hai mươi năm. Họ đã dựng lên một cái trục cao mười dặm chỉ để đưa được vật liệu lên căn vòm ở 187 bộ cao. Ngân quỹ là vô tận, do đó họ coi những giờ thi công là không đáng kể. Nếu hỏi đến chi phí, quý vị sẽ không thể kham nổi để xây dựng đền Taj Mahal. Đội thương thuyền nhỏ của Trịnh Hòa đã được xây dựng nên từ một hệ thống mệnh lệnh tương tự như khi xây Cấm thành ở Bắc Kinh. Khởi sự từ năm 1406, Cấm thành này cần đến sức lao động của cả triệu người – và cả triệu người lính khác nữa để canh chừng nhân công. Nếu năng lực và tài nguyên của cả một xã hội lớn đông đảo được điều động vào một số công trình, những công trình này ắt phải thành công – nhưng là những sự thành công có tính cô lập, cách biệt. Liên Xô đã từng kiêu hãnh về chương trình không gian phi thường của họ trong những năm 1970, mặc dù khi ấy, đó là một sự tụt hậu nhất về phương diện kỹ thuật trong tất cả các nước kỹ nghệ.

Nhưng đổ thêm nhiều nhân lực vào một vấn đề không phải là con đường dẫn đến sáng tạo. Sử gia Philip Huang đã thực hiện một so sánh quyến rũ về những nông dân vùng đồng bằng Yangtze (Dương Tử) và những đồng bằng ở Anh Quốc, các vùng màu mỡ nhất của Trung Hoa và Âu châu vào năm 1800 (6). Ông cho thấy rằng, căn cứ vào một số định giá, hai khu vực này có thể như tương tự về mức độ kinh tế. Nhưng thực ra, Anh quốc vượt rất xa hơn Trung Hoa trong các tính toán chính về sự phát triển – năng xuất lao động. Người Trung Hoa có khả năng làm cho đất đai của mình có năng xuất cao hơn, nhưng họ đã làm thế bằng cách tăng thêm lực lao động trong từng mẫu canh tác - điều mà Huang gọi là “sản xuất mà không có phát triển”. Ở đầu bên kia, người Anh, tiếp tục tìm kiếm các phương cách để làm cho lao động trở nên có năng xuất hơn, để mỗi người nông dân sản xuất ra nhiều thời vụ hơn. Họ đã khám phá ra các dụng cụ tiết kiệm sức lao động, dùng đến súc vật và sáng tạo ra máy móc. Thí dụ như, khi chiếc bánh quay đa trục, vốn chỉ cần đến một người có được huấn luyện điều khiển, được phát triển, nó lập tức được áp dụng rộng rãi ở Anh quốc. Trong khi ở Trung Hoa, loại bánh quay đơn trục thấp kém, rẻ hơn vẫn cứ tồn tại, bởi vì loại này có thể được vận hành điều khiển bởi rất nhiều người không cần phải trải qua huấn luyện gì cả. (Bởi vì lao động chẳng có giá trị bao nhiêu, tại sao phải tốn tiền cho những cái máy tiết kiệm lao động?) Cuối cùng là, một nhóm nhỏ người Ăng Lê có thể canh tác một cánh đồng cực lớn. Vào thế kỷ mười tám, diện tích trung bình của một nông trại ở miền nam Anh Quốc là 150 mẫu; trong khi ở khu tam giác Dương Tử, diện tích trung bình chỉ là 1 mẫu.

Những cuộc hành trình hàng hải cũng minh họa nên sự khác nhau giữa các lối tiếp cận giữa phương Tây và phương Đông. Các cuộc hành trình của phương Tây ít đồ sộ nhưng nhiều năng lượng. Thường là hoàn toàn tư nhân hoặc hợp tác quốc doanh và xử dụng các phương cách mới để chi trả cho chi phí chuyến đi. Người Đức đã có những sáng tạo tiên phong trong lãnh vực tài chính và thuế má; giới buôn cá mòi của họ đã biết sử dụng các loại hợp đồng kỳ hạn từ những năm 1580. Những cơ cấu tài chính này đã đánh dấu một tiến bộ quan trọng, bởi vì chúng đã bảo đảm được ngân quỹ cho các chuyến hải hành không ngừng gia tăng. Mỗi chuyến đi như thế nhằm vào chủ đích tạo lợi nhuận, thực hiện các khám phá mới và tìm kiếm sản phẩm mới. Công trình cứ đi trước bằng những thử nghiệm và sai sót, với các chuyến viễn du mới xây dựng trên những chuyến đi trong quá khứ. Trải qua thời gian, một chuỗi liên kết của tính doanh thương, thám hiểm, khoa học và học hỏi đã phát triển.

Ngược lại, ở Trung Hoa, các chuyến đi lệ thuộc vào lợi ích và quyền lực của một lãnh chúa. Khi vị lãnh chúa này ra đi, cuộc hải hành ngừng lại. Có một trường hợp, một vị vua mới đã ra lệnh tiêu hủy cả bản phác họa thương thuyền, do đó khả năng chế tạo con thuyền bị mất đi. Người Trung Hoa đã sử dụng súng đại bác thành thạo từ thế kỷ thứ mười ba. Ba trăm năm sau, họ lại đã không thể vận hành khẩu súng nếu không có một người Tây phương chỉ dẫn. Nhà sử học kinh tế của trường Đại học Havard David Landes đã kết luận rằng Trung Hoa thất bại không “phát sinh được một tiến trình tự lực và liên tục của khoa học và tiến bộ kỹ thuật” (7). Các thành quả của họ cuối cùng trở thành tủn mủn và chóng tàn. Đây là thảm kịch của Á châu: ngay cả khi có kiến thức, họ cũng không có được sự học hỏi.

Phải chăng là Số phận của nền Văn hóa?

Tại sao các nước không-Tây phương cứ đứng yên trong khi Tây phương tiến về phía trước? Những câu hỏi này đã từng được tranh cãi trong nhiều thế kỷ và không hề có được câu trả lời rõ ràng. Các quyền tư hữu tài sản, các định chế cai trị tốt và một xã hội dân sự vững mạnh (nghĩa là, một xã hội không bị khống chế bởi nhà nước) rõ ràng đã là những yếu tố quyết định cho sự phát triển ở Châu Âu, và sau này ở Hoa Kỳ. Ngược lại, Nga Hoàng làm chủ cả một đất nước trên lý thuyết. Ở Trung Hoa, triều đình nhà Minh đã được cai trị bởi những người quan lại khinh thường thương mại. Hầu như ở mọi nơi trong thế giới không-Tây phương, xã hội dân sự luôn yếu kém và lệ thuộc vào chính phủ. Các thương nhân địa phương ở Ấn Ðộ luôn luôn bị các tòa án bắt giữ. Ở Trung Hoa, các thương nhân giàu có sẽ phải từ bỏ doanh nghiệp của mình vì các lời dạy kinh điển của Đức Khổng tử để họ có thể trở nên được triều đình sủng ái.

Người Mông Cổ và Ottoman là thành phần quý tộc và thiện chiến từng coi doanh thương là việc tầm thường, không cao quý (mặc dù vùng Trung Ðông từng có một truyền thống mua bán lâu năm). Ở Ấn Ðộ, thành kiến này còn được củng cố thêm từ vị trí thấp kém của người thương nhân trong chế độ đẳng cấp Ấn giáo. Các sử gia đã coi các lời chú giải đặc thù từ những niềm tin và cách tu tập của Ấn Ðộ giáo như những rào cản cho sự phát triển. Paul Kennedy đã biện giải "Sự nghiêm khắc tuyệt đối của những cấm kỵ trong Ấn Ðộ giáo đã cản trở đến sự hiện đại hóa: không được giết hại động vật, côn trùng do đó đã thiệt hại đến một lượng thức ăn rất lớn; tập tục xã hội về xử lý chất thải và phóng uế đã đưa đến những tình trạng mất vệ sinh thường trực, thành một nơi nuôi dưỡng bệnh dịch hạch; hệ thống đẳng cấp đã bóp nghẹt các sáng kiến, giới hạn các thị trường; và tầm ảnh hưởng đã được sử dụng bởi những nhà cai trị địa phương Ấn Ðộ bởi các giáo sĩ Brahman có nghĩa là chính sách ngu dân đã ảnh hưởng đến các thành phần cao nhất của xã hội" (8). M. Robert cho thấy một quan điểm rộng hơn của thế giới quan Ấn Ðộ giáo, ông nhận xét, đó là "một ảo ảnh của các chu kỳ bất tận về sự sáng tạo và tái thẩm thấu vào sự siêu phàm [khiến đưa đến] tính thụ động và thái độ hoài nghi về giá trị của hành vi thực tiễn" (9).

Nhưng nếu văn hóa là tất cả thì làm sao để giải thích cho tình hình của Trung Quốc và Ấn Ðộ hiện nay? Ngày nay, sự phát triển xuất sắc của họ thường được lý giải bằng những lời ca tụng nền văn hóa đặc sắc của họ. Học thuyết của Khổng tử có thời là không tốt nhưng nay là thuận lợi cho sự phát triển. Đầu óc suy nghĩ kiểu Ấn Ðộ giáo, từng là sự trở ngại, nay lại được thừa nhận như một loại thực hành tu tập trần tục có thể chống đỡ được chủ nghĩa tư bản doanh thương. Thành công của cộng đồng Trung Quốc và Ấn Ðộ có vẻ như lời khẳng định thường nhật cho các lý thuyết ấy.

Cố học giả, nghị sĩ quốc hội Hoa Kỳ, ông Daniel Patrick Moynihan từng nói rằng, "Cốt lõi của sự thật theo quan niệm thủ cựu chính là văn hóa, chứ không phải chính trị quyết định đến sự thành công của một xã hội. Cốt lõi của sự thật theo quan điểm phóng khoáng chính là chính trị có thể thay đổi và cứu được văn hóa”. Lời giải thích này tương đối đúng, văn hóa là trọng yếu, hết sức quan trọng. Nhưng văn hóa có thể thay đổi. Các nền văn hóa thì phức tạp. Ở bất cứ thời điểm nào, có một số đặc tính được nổi bật và có vẻ như không thể thay đổi. Sau đó chính trị và kinh tế vận dụng vào, để những đặc tính ấy lụi tàn trong một tầm quan trọng là tạo nên khoảng trống cho những thứ khác. Thế giới Ả Rập đã từng là trung tâm khoa học và giao thương. Trong vài thập kỷ qua, xuất khẩu chính của họ là dầu hỏa và chủ nghĩa căn cơ Hồi giáo. Bất cứ tranh cãi về văn hóa nào phải có khả năng giải thích được cả hai thời kỳ thất bại và thành công.

Tại sao đầu óc kinh doanh Á châu - hết sức nổi bật hiện nay – đã bị chôn vùi trong bao thế kỷ? Một phần lớn của lời giải thích nằm sâu trong cơ cấu nhà nước của họ. Hầu hết các quốc gia ở châu Á có các loại chính phủ đầy quyền lực thuộc loại ăn cướp và tập trung quyền hành vào trung ương, họ có thể bòn rút thuế má từ nạn nhân của mình mà không phải trả lại gì nhiều. Từ thế kỷ thứ mười lăm đến mười chín, các nhà cai trị ở Á châu giống như rập khuôn với loại bạo chúa Đông phương. Sau khi người Mogul càn quét vào Ấn Ðộ từ phương bắc trong thế kỷ mười lăm, chính sách cai trị tham lam của họ bao gồm việc đòi hỏi lễ cống, thuế má và xây dựng những cung điện, công sự trong khi bỏ mặc hạ tầng cơ sở, giao thông liên lạc, buôn bán và khai phá. (Triều đại của Akbar, từ năm 1556 đến 1605 là một ngoại lệ ngắn hạn). Các vị hoàng thân Ấn Ðộ giáo ở phía nam Ấn Ðộ cũng không khá gì hơn. Các thương nhân phải giữ lãi suất cao để có thể đáp ứng được cho các nhà cai trị. Chẳng một ai có mấy khích lệ để làm giàu bởi vì sớm muộn cũng sẽ bị sung công cả.

Mãi về sau, việc tập trung hóa quyền lực về trung ương mới xảy ra ở Trung Ðông. Khi khu vực này bị cai trị dưới một tính chất hơi lỏng lẻo và tản quyền trong đế chế của Ottoman, giao thương, thương mại và các sáng kiến được nẩy nở. Hàng hóa, tư tưởng và dân chúng từ mọi nơi pha trộn nhau tự do. Nhưng đến thế kỷ hai mươi, nỗ lực muốn tạo nên một nhà nước-quốc gia "hiện đại" và hùng mạnh đã dẫn đến hậu quả của các chế độ độc tài khiến kinh tế chính trị đình trệ. Các tổ chức dân sự bị loại khỏi xã hội. Với các chính quyền mạnh và xã hội yếu kém, thế giới Ả Rập đã rơi tụt sau tất cả các nước còn lại trên thế giới về tất cả các phương diện.

Tại sao hình thức nhà nước kiểu trung ương tập quyền này bị giới hạn và chế ngự ở Âu châu mặc dù lại được đơm bông kết trái ở phần lớn những nước không-Tây phương? Một phần bởi vì hệ thống giáo hội Kitô, vốn là định chế quan trọng đầu tiên đã đối đầu với quyền lực của các vua chúa. Một phần cũng bởi vì thành phần địa chủ ưu tú của Âu châu vốn có căn bản độc lập ở vùng quê đã hành xử như sự kiểm soát đối với sự chuyên chế của hoàng gia. (Magna Carta, "tuyên ngôn nhân quyền" vĩ đại đầu tiên của thế giới Tây phương, thực chất là một bản hiến chương về các đặc quyền của các hầu tước, áp lực lên nhà vua bởi các giới quý tộc). Một phần, và một số người cũng sẽ đồng ý, tất yếu là do yếu tố địa dư.

Âu châu vỡ vụn ra bởi các dòng sông lớn, núi cao và các thung lũng đồ sộ. Địa hình này sản xuất ra nhiều biên giới thiên nhiên và đã khuyến khích nên các cộng đồng chính trị của các kích cỡ khác nhau – Các thành phố tự quản, các đất vương tước, các nước cộng hòa, quốc gia và các đế quốc. Vào năm 1500, Âu châu có hơn năm trăm quốc gia, thành phố tự quản và lãnh địa. Những khác biệt này có nghĩa là luôn có những cạnh tranh của các tư tưởng mới, con người, nghệ thuật, tiền bạc và vũ khí. Người dân bị bạc đãi ở nơi này có thể trốn đến nơi chốn khác để phát đạt lên. Những đất nước thành công được bắt chước. Những nước thất bại tàn lụi đi. Qua thời gian, sự cạnh tranh này giúp cho Âu châu trở nên giỏi hơn cả trong việc làm giàu lẫn trong khả năng chiến tranh (10).

Ngược lại, Á châu bao gồm những đồng bằng rộng bạt ngàn – các thảo nguyên ở Nga, các bình nguyên ở Trung Quốc. Quân đội có thể di chuyển qua những vùng này nhanh chóng với ít ngăn trở. (Người Trung Hoa đã phải xây Vạn lý Trường thành bởi vì họ không thể trông cậy vào rào cản thiên nhiên để bảo vệ lãnh thổ của mình). Đặc tính địa dư này đã giúp duy trì các đế chế trung ương tập quyền rộng lớn, khiến họ có thể nắm vững quyền lực trong nhiều thế kỷ. Chẳng hạn như hãy xem phần lịch sử mà chúng ta đã bất đầu trong chương này với quyết định của nhà Minh nhằm kết thúc các cuộc thám hiểm đường biển của Trịnh Hòa. Có lẽ điều đáng lưu ý nhất về sự ngăn cấm này là nó đã có hiệu quả. Không có vua chúa nào đã từng có đủ quyền lực để áp đặt một chiếu chỉ như thế, và ngay cả nếu như có vị vua chúa nào từng như thế thì người dân và chuyên môn của họ sẽ đơn giản là di chuyển qua một nước láng giềng, một thành phố hay lãnh địa khác. Ở Trung Hoa, hoàng đế có thể xoay ngược được cả thời gian.

Giao thông đường thủy của Âu châu cũng là một sự may mắn. Các dòng sông của Âu châu trôi chảy nhẹ nhàng về những cảng vịnh mà tàu bè có thể đi lại và ẩn nấp được. Sông Rhine là một dòng rộng, chảy chậm khiến có thể sử dụng như một đại lộ chuyên chở con người và hàng hóa. Địa Trung Hải yên tĩnh như một biển hồ với rất nhiều cảng lớn. So sánh tất cả điều này với Phi châu, dù là một đại lục lớn thứ nhì trên thế giới, Phi châu có đường ven biển ngắn ngủi nhất, đa số lại quá nông không xây dựng nên các cảng quan trọng được. Hầu hết các con sông lớn của Phi châu - nước xoáy, chảy xiết, bi thảm – tàu bè không qua lại được. Cộng thêm vào cái nóng của nhiệt đới và thiên hướng bệnh tật hư hỏng thực phẩm, bạn sẽ có được một giải thích hết sức thuyết phục về địa dư cho sự kém phát triển của Phi châu - vốn chắc chắn không phải là nguyên nhân duy nhất nhưng chính là một nguyên nhân quan trọng nhất.

Nhưng lời giải thích rộng rãi này khiến tựa như các sự thể đã không thể nào xảy ra theo một hướng khác, nhưng thực tế, những yếu tố có tính cấu trúc ấy chỉ cho chúng ta biết những khuynh hướng ảnh hưởng của một xã hội, lợi thế nghiêng về bên nào. Đôi lúc, lợi thế có thể bị đánh bại. Bất chấp sự khác biệt về địa lý, Âu châu đã từng bị thống trị bởi một đế chế vĩ đại, Rome, người thống trị này đã tìm cách tập trung quyền lực về mình –nhưng chỉ thành công hạn hẹp. Vùng Trung Ðông đã tập trung quyền lực rất chặt chẽ như thế dưới một loại đế chế cực lớn. Trung Quốc thịnh vượng trong nhiều thế kỷ bất chấp địa hình phẳng của mình và Ấn Ðộ cũng đã có những giai đoạn nóng bỏng của mình. Lợi điểm của Âu châu, thật rõ ràng khi nhìn lại, thì ít ỏi và có liên quan nhiều đến vũ khí và các kỹ thuật chiến tranh. Tuy nhiên, trải qua thời gian, khi các lợi thế được nhân lên, củng cố lẫn nhau thì châu Âu đã đi lên, đi mãi lên trước các nước còn lại.

(Còn tiếp)


Chú thích
5. Theo David S. Landes, “Why Europes and the West ? Why not china ?” Journal of Economic Perspectives 20, số 2 (Spring 2006), tr. 18.

6. Theo Phillip C.C. Huang “Development or Involution in Eighteenth-Century Britain and China: A Review of Kenneth Pomeranz’s The Great Divergence:China, Europe and the making of the Modern World Economy”. Journal of Asian Studies 61, số 2 (May 2002) tr. 501-38.

7. Theo Landes “Why Europe and The West”

8. Theo Paul Kennedy, The Rise and fall of the Great Powers: Economic Change and Military Conflict from 1500 to 2000 (New York random House, 1987) tr. 13.

9. Theo J. M. Roberts, History of The World (Oxford:Oxford University Press 1993)

10. Dòng nguyên nhân này có lẽ quen thuộc với các độc giả của Jared Diamond trong cuốn Guns, Germs, and Steel:
The Fates of Human Societies (New York W.W. Norton 2005), David Landes, The Wealth and Poverty of nations, và Eric Jones, The European Miracle: Environments, Economies, and Geopolitics in the History of Europes and Asia, 3d. ed.
(Cambridge: Canbridge University Press, 2003) cũng đã xem địa dư như một quyết định quan yếu của phát triển xã hội.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét