Thứ Tư, 21 tháng 7, 2010

MỘT THẾ GIỚI HẬU HOA KỲ (THE POST-AMERICAN WORLD)

Nguyên tác: Fareed Zakaria
Người dịch: Lê Quốc Tuấn

(Tiếp theo)

Kỳ 6: Siêu quyền lực cuối cùng

Nhiều nhà bình luận và quan sát đã nhìn vào sinh khí của thế giới đang nổi lên này để kết luận rằng Hoa Kỳ đã từng có những ngày huy hoàng của mình. Andy Grove, người sáng lập Intel, nói thẳng thừng "Mỹ đang bị nguy hiểm vì đã theo gót Âu châu một cách không thể cứu chữa được nữa”. Ông nói "và điều tệ hại nhất chính là không ai biết như thế. Tất cả đều chối, đều cứ tự ca ngợi mình ngay cả khi con tàu Titanic đang đâm thẳng hết tốc độ vào tảng băng phía trước". Thomas Friedman mô tả mình đã quan sát hàng hàng lớp lớp giới chuyên viên trẻ Ấn Ðộ đi làm ca tối tại Infosys ở Bangalore: "Trời ơi, họ đông quá sức, và họ cứ tiếp tục đi, hết đợt này đến đợt khác. Còn chỗ nào tốt trên thế gian này cho các con gái tôi và hàng triệu người Mỹ khác khi những người Ấn này đang làm những công việc tương tự như thế chỉ với một phần nhỏ mức lương của họ ?" "Nền toàn cầu hóa đang phản công lại" Gabor Steingart, một biên tập viên của Der Spiegel, một tờ báo hàng đầu của Đức, đã viết trong một tác phẩm bán chạy nhất. Khi đối thủ mình giàu lên, ông biện giải, Hoa Kỳ đã mất đi các kỹ nghệ then chốt, dân chúng họ đã ngưng không tiết kiệm nữa, và chính phủ họ đã không ngừng mang nợ đến các ngân hàng trung ương ở Á châu.

Tuy nhiên, cái khó nghĩ chính là những khuynh hướng ấy đã hiện diện một thời gian - và đã thực sự giúp cho điểm chính yếu của Hoa Kỳ. Trong hai mươi năm qua, khi toàn cầu hóa và sự dịch chuyển công ăn việc làm ra bên ngoài tăng lên quá độ, mức tăng trưởng của Mỹ trung bình là chỉ hơn 3 phần trăm, nghĩa là 1 phần trăm cao hơn chỉ số tăng trưởng của Đức và Pháp. (Nhật Bản trung bình là 2.3 phần trăm trong cùng thời gian). Năng xuất tăng cao, thần dược của các nền kinh tế hiện đại, đã từng từ hơn 2.5 phần trăm trong suốt một thập niên, cũng là 1 phần trăm hơn hẳn bình quân của Âu châu. Ngay cả xuất khẩu của Hoa Kỳ cũng kéo dài bất chấp một thập kỷ xáo trộn giá trị đồng dollar mới chấm dứt gần đây. Năm 1980, xuất khẩu của Hoa Kỳ tiêu biểu cho 10 phần trăm của toàn thế giới; năm 2007, con số đó vẫn còn gần như 9 phần trăm. Theo Wolrd Economic Forum, Hoa Kỳ vẫn còn là một nền kinh tế vô địch trên thế giới và được xếp hạng nhất trong sự nghiệp vận dụng những cái mới, hạng chín trong khả năng thích ứng nhanh về kỹ thuật, hàng nhì về ngân quỹ chi dùng của các công ty cho các công trình khảo cứu khoa học kỹ thuật và hạng nhì về chất lượng của các tổ chức khảo cứu khoa học. Trung Quốc không đến được các quốc gia trong hàng thứ ba mươi về bất cứ điểm nào kể trên, và Ấn Ðộ lên được hàng thứ 10 chỉ từ mỗi một khía cạnh: kích thước thị trường. Trong thực tế, tất cả các khu vực có các quốc gia kỹ nghệ tiến bộ tham dự, các công ty Hoa Kỳ đều dẫn đầu thế giới về năng xuất và lợi nhuận.

Phần chia về kinh tế toàn cầu của Hoa Kỳ đã vững vàng một cách tuyệt diệu qua những năm tháng chiến tranh, suy thoái và nhầy nhụa của các quyền lực đang lên khác. Chỉ bằng 5 phần trăm dân số thế giới, Hoa Kỳ đã tạo nên 20 đến 30 phần trăm sản lượng của cả thế giới trong 125 năm. Chắc chắc sẽ có một số gia giảm về vị trí của Hoa Kỳ trong vài thập niên tới. Đây chẳng phải là một phán đoán về chính trị mà chính là một phán đoán của toán học. Khi các nước khác phát triển nhanh hơn, nền kinh tế tương đương của Hoa Kỳ sẽ tụt xuống. Nhưng sự suy giảm này không cần thiết sẽ phải là ở một bình diện lớn, nhanh chóng hoặc mang đến những hậu quả, nếu như Hoa Kỳ thích ứng được với những thử thách cũng như thích nghi được với những gì họ đã đương đầu trong thế kỷ vừa qua. Trong một vài thập niên tới, sự nổi dậy của các nước sẽ đến bằng phí tổn của Tây Âu và Nhật Bản, những quốc gia vốn bị kẹt cứng trong một sự chậm chạp suy giảm dân số có tính cố ý.

Hoa Kỳ sẽ phải đương đầu với một cạnh tranh kinh tế căng thẳng nhất hơn bao giờ. Hệ thống kinh tế và xã hội của Hoa Kỳ biết cách điều chỉnh và đáp trả với những sức ép đó. Các nhu cầu thay đổi là hiển nhiên nhưng bởi vì phải cần đến một số đau đớn để có thể đạt được về dài lâu do đó hệ thống chính trị không thể làm được. Hoa Kỳ sẽ còn phải đương đầu với nhiều thử thách hơn từ quốc tế. Đất nước này sẽ phải đối đầu với một nền trật tự toàn cầu rất khác biệt so với nền trật tự mà họ đã từng trải qua. Hiện nay, Hoa kỳ vẫn còn là người đấu cờ thế lực nhất. Nhưng mỗi năm cán cân một thay đổi đi.

Trong khoảng hai thập niên kể từ 1989, sức mạnh của Hoa kỳ đã xác định nền trật tự của thế giới. Tất cả mọi con đường đều dẫn về Washington và các tư tưởng của Mỹ về chính trị, kinh tế và chính sách đối ngoại đã từng là những khởi điểm của hành động toàn cầu. Washington đã là môt kịch sĩ ở bên ngoài nhưng có thế lực nhất trên tất cả các đại lục của thế giới, thống trị bán cầu châu Âu, duy trì vai trò như là một cân bằng trọng yếu giữa Á châu và Âu châu, bành trướng vai trò của mình ở khu vực Trung Ðông, trung tâm và miền nam Á châu đồng thời là quốc gia duy nhất hiện nay có thể mang lại cơ bắp cho bất cứ hoạt động quân sự toàn cầu nào. Đối với tất cả các nước - từ Nga, Trung Quốc đến Nam Phi và Ấn Ðộ - mối quan hệ quan trọng nhất của họ trên thế giới chính là mối quan hệ với Hoa Kỳ.

Ảnh hưởng đó đã đạt đến cực đỉnh với Iraq. Bất chấp sự do dự, chống đối hoặc mối thù ghét tích cực của đa phần thế giới, Hoa Kỳ đã vẫn có thể khởi phát một cuộc tấn công không khiêu khích vào một quốc gia có chủ quyền đồng thời tranh thủ được hàng chục quốc gia khác và các tổ chức quốc tế để hỗ trợ mình ngay trong và sau cuộc xâm lăng. Không phải chỉ vì tính phức tạp của tình hình Iraq khiến đã không tổn thương được mệnh lệnh này. Ngay cả khi đã đạt được sự thành công rực rỡ ở Iraq, phương thức công phá của Hoa Kỳ đã biểu hiện hết sức rõ ràng sức mạnh không gì thách đố được của mình - và chính lối thực hành kiểu đon cực này đã kích động đến phản ứng quanh thế giới. Nền trật tự đơn cực của hai thập kỷ qua đang yếu đi không phải vì vấn đề Iraq mà chính vì sự khuếch tán rộng của sức mạnh ra toàn thế giới.

Trên một số phương diện, tính đơn cực thực đã không còn. Khối liên hiệp Châu Âu hiện tiêu biểu cho một khối thương mại lớn nhất trên thế giới, tạo ra lưỡng cực, và khi Trung Quốc cùng các quốc gia khác sau đó xuất hiện, trở nên một kích cỡ vĩ đại, cõi lưỡng cực về doanh thương có thể trở nên tam cực và rồi đa cực. Trong tất cả mọi cõi, trừ khu vực quân sự, các dịch chuyển tương tự cũng đang xảy ra. Tuy nhiên, nói chung, ý niệm về một thế giới đa cực, với bốn hoặc năm đấu thủ cùng cân sức không diễn tả được hiện thực bây giờ hoặc trong một tương lai gần. Âu châu không thể hành động quân sự hoặc chính trị một mình. Nhật và Đức bị thương tật bởi quá khứ. Trung Quốc và Ấn Ðộ vẫn còn phải phát triển. Thay vào đó, hệ thống quốc tế vẫn còn được mô tả khá chính xác bởi thuật ngữ "Đơn-Đa cực" của Samual Huntington, hay cái mà các nhà khoa học chính trị Trung Quốc gọi là "nhiều quyền lực và một siêu quyền lực". Các từ ngữ rối rắm phản ánh đúng cái thực tế rắc rối ấy. Cho đến nay Hoa Kỳ vẫn là một nước mạnh nhất thế giới nhưng trong một thế giới có nhiều quyền lực lớn quan trọng khác và với những quyết đoán cùng hành động của tất cả những kịch sĩ. Hệ thống quốc tế lai giống này - dân chủ hơn, năng động hơn, mở rộng hơn, nối kết hơn - là một hệ thống mà chúng ta sẽ sinh sống trong một vài thập niên tới. Minh giải một điều phủ định dễ dàng hơn là một điều xác định, một kỷ nguyên đang đi khỏi hơn là xác định nó đang hướng đến nơi nào - Vì thế mà gọi là Một thế giới Hậu Hoa Kỳ.

Hoa Kỳ chiếm hàng đầu trong hệ thống đang xuất hiện nhưng cũng là quốc gia chịu nhiều thử thách nhất bởi nền trật tự mới. Hầu hết các quyền lực khác đều sẽ nhìn thấy vai trò của họ trong sự mở rộng của thế giới. Tiến trình đó đã và đang xảy ra. Trung Quốc và Ấn Ðộ đang trở nên các đấu thủ lớn hơn trong các khu vực láng giềng và xa hơn nữa. Nga đã chấm dứt sự thích nghi Hậu-Xô viết của họ và trở nên mạnh mẽ hơn, tích cực hơn. Nhật Bản dù không phải là một quyền lực đang lên, hiện cũng đang sẵn lòng bày tỏ quan điểm và vai trò của mình đến các nước láng giềng. Âu châu hành xử với chủ đích và sức mạnh cự phách trong các lãnh vực giao thương và kinh tế. Brazil và Mexico đang trở nên to tiếng hơn trong các vấn đề về châu Mỹ Latin. Nam Phi đã tự xác định mình là lãnh tụ của lục địa Phi châu. Tất cả các quốc gia này đang chiếm nhiều chỗ trên vũ đài quốc tế hơn là trước đây.

Đối với Hoa Kỳ, mũi tên đang chỉ về hướng ngược lại. Kinh tế không phải là một trò chơi huề vốn - sự vươn dậy của các đấu thủ mới làm cái bánh to ra - nghĩa là tốt cho mọi bên - nhưng kinh tế chính trị là một cuộc đấu tranh của khống chế và tạo ảnh hưởng. Khi các quốc gia khác trở nên tích cực hơn, không gian bạt ngàn để hành động của Mỹ sẽ giảm đi. Hoa Kỳ có thể tự điều chỉnh mình với sự vươn lên của những nước khác, của những vằn vện chính trị khác trên một số lục địa? Điều này không có nghĩa trở thành sự bỏ mặc cho hỗn loạn; hoàn toàn không phải như thế. Nhưng phương cách duy nhất cho Hoa Kỳ để ngăn chặn các hành vi ngang ngược sẽ là tạo nên một liên minh bền vững, rộng rãi chống lại chúng. Và điều đó chỉ có thể xảy ra nếu Washington có thể biểu lộ rằng đất nước này sẵn lòng để cho các quốc gia khác trở thành những người giữ đàng chuôi trong nền trật tự mới. Trong trật tự quốc tế hiện nay, phát triển có nghĩa là thỏa hiệp. Không một quốc gia nào có thể đạt được cách riêng của mình hoàn toàn. Đây là những từ dễ viết dễ đọc nhưng rất khó thực hiện. Điều ấy có nghĩa là chấp nhận phát triển của quyền lực và ảnh hưởng của các quốc gia khác, tính cách nổi bật của những quyền lợi và quan tâm. Mối cân bằng này -giữa điều tiết và ngăn cản- là thử thách chính cho chính sách đối ngoại của Mỹ trong một vài thập niên sắp đến.

Tôi đã bắt đầu chương này bằng lập luận rằng nền trật tự mới sẽ không báo trước sự đi xuống của Mỹ, bởi vì tôi tin rằng Mỹ có một sức mạnh phi thường và một thế giới mới sẽ không ném ra một siêu quyền lực mới mà một sự đa dạng của các sức mạnh mà Washington có thể thông qua và ngay cả có thể trợ giúp. Nhưng hơn nữa, khi phần còn lại của thế giới vươn dậy, trong những ý nghĩa thuần kinh tế, Mỹ sẽ trải nghiệm một sự đi xuống tương đối. Khi các nước khác phát triển nhanh hơn, phần bánh được chia của Mỹ sẽ nhỏ hơn (dù sự chuyển dịch có thể là tương đối nhỏ trong nhiều năm). Thêm nữa, các sức mạnh không chính phủ mới vốn đang gia tăng tính tích cực sẽ chế ngự Washington về căn bản.

Đây là một thách đố đối với Washington nhưng cũng là đối với mọi người. Trong hầu như ba thế kỷ, thế giới đã ủng hộ sự hiện diện của một bá quyền tự do rộng lớn - trước tiên là Anh Quốc, sau đó là Hoa Kỳ. Hai siêu quyền lực đã giúp duy trì và tạo nên một nền kinh tế thế giới mở rộng, bảo vệ những giao lộ buôn bán và đường hàng hải, hành xử như những chủ cho thuê của phương sách sau cùng, cầm giữ những tiền tệ dự trữ, đầu tư ở hải ngoại và giữ thị trường mở của chính mình. Họ cũng mách nước cho sự cân bằng quân sự để kình chống lại những kẻ xâm lấn vĩ đại trong các thời đại của mình, từ nước Pháp của Napoleon đến Đức, Liên Xô. Vì tất cả những lạm dụng quyền lực của mình, Hoa Kỳ đã là người sáng tạo và nâng đỡ cho nền trật tự hiện hành của giao thương mở và chính phủ dân chủ - một nền trật tự vốn là tốt lành và có lợi cho đại đa số nhân loại. Khi nhiều điều thay đổi và khi vai trò của Mỹ thay đổi, nền trật tự đó đã bắt đầu rạn vỡ. Sự xụp đổ của đồng dollar - đến mức độ không còn tiền tệ dự trữ toàn cầu - sẽ là một vấn nạn của thế giới cũng như cho Mỹ. Và giải quyết những khó khăn chung trong một thời đại của tản mạn và phi tập trung hóa có thể trở nên khó khăn hơn rất nhiều nếu không có một siêu quyền lực.

Một số người Mỹ trở nên ý thức một cách sâu sắc về thế giới đang đổi thay. Thương mại của Mỹ đang không ngừng nhận thức về những dịch chuyển xảy ra trên thế giới, đang đáp ứng với những thay đổi này nhanh chóng và không ủy mị. Những cơ cấu lớn đa quốc gia của Mỹ hầu như báo cáo giống nhau là sự phát triển của họ nay đang dựa vào sự xâm nhập các thị trường quốc ngoại. Với tỉ số tăng trưởng 2-3 phần trăm hàng năm ở Hoa Kỳ và 10-15 phần trăm ở hải ngoại, họ biết rằng mình phải thích ứng với một thế giới Hậu Hoa Kỳ - nếu không là thất bại. Một ý thức tương tự được nhìn thấy trong các trường đại học của Mỹ, nơi ngày càng có nhiều sinh viên đi ra ngoại quốc để trao đổi với sinh viên nước ngoài. Giới trẻ hơn ở Mỹ sống thoải mái với ý thức rằng các chiều hướng mới nhất - trong tài chính, kiến trúc, nghệ thuật, khoa học - có thể bắt nguồn ở London,Thượng Hải, Hán Thành, Tallinn hay Mumbai.

Nhưng lối định hướng ra bên ngoài này chưa được phổ biến trong xã hội Mỹ nhiều. Nền kinh tế Mỹ vẫn còn chú trọng vào nội bộ, mặc dù điều này đang thay đổi, với thương mại làm thành 28 phần trăm GDP (so sánh với Đức 38 phần trăm). Tính ốc đảo đã là một trong những ân sủng của thiên nhiên cho nước Mỹ, các biên gìới như Mỹ hiện có là hai đại dương rộng lớn và hai láng giềng hiền lành. Mỹ chưa từng bị vẩn đục bởi những mưu toan và mệt mỏi của Cựu Thế giới và đã luôn từng có thể tưởng tượng đến một trật tự mới và khác hơn - dù cho là ở Đức, Nhật hay ở Iraq. Nhưng cùng lúc, sự cô lập này đã khiến người Mỹ không ý thức được cái thế giới ở bên ngoài biên giới của mình. Người Mỹ nói một số ngôn ngữ, hiểu biết ít ỏi về các nền văn hóa ngoại quốc và vẫn không hề bị thuyết phục là họ cần phải sửa chữa điều này. Người Mỹ ít khi là chuẩn mực cho các tiêu chuẩn toàn cầu bởi vì họ cứ chắc chắn rằng phương cách của mình là tốt và tiến bộ nhất. Hậu quả là họ đang không ngừng nghi hoặc về kỷ nguyên toàn cầu đang xuất hiện. Có một khoảng cách giữa giới ưu tú kinh doanh quốc tế của Mỹ và giai cấp thành thị ở một mặt, và đa số dân chúng Mỹ ở mặt khác. Nếu không có một nỗ lực thực sự để hàn gắn khoảng cách này, sự chia cách ấy có thể hủy diệt tính cạnh tranh sắc bén và tương lai chính trị của nước Mỹ.

Những nghi ngại phổ biến đã được nuôi dưỡng và khuyến khích bởi một thứ văn hóa chính trị quốc gia vô trách nhiệm. Ở Washington, suy nghĩ mới về một thế giới mới là sự thiếu sót một cách đau đớn. Thật quá đủ dễ dàng để mà phê phán chính quyền Bush về loại chủ nghĩa đơn phương và ngang ngạnh khiến đã chặt tay chân Mỹ ở hải ngoại. Nhưng vấn đề không phải chỉ giới hạn ở Bush, Cheney, Rumsfield hay những người Cộng Hòa, dù họ đã từng trở thành hội nhóm của những bậc nam nhi tự tôn phổng ngực, tự hào xem thường hải ngoại. Hãy lắng nghe một số người Dân Chủ ở Washington, quý vị sẽ nghe được một loại chủ nghĩa đơn phương yếu hơn - về doanh thương, các tiêu chuẩn lao động và nhiều vấn đề nhân quyền cưng yêu khác nhau. Về nạn khủng bố, cả hai đảng tiếp tục nói bằng một ngôn ngữ hoàn toàn được dựng nên để phục vụ cho các khán giả nội địa mà không màng gì đến các hậu quả độc hại có thể gây ra ở những nơi khác. Các chính khách Mỹ đòi hỏi, chụp mũ, trừng phạt, đả phá một cách liên tục và bừa bãi cả nước vì những thất bại vô kể. Trải qua mười lăm năm vừa rồi, Hoa Kỳ đã áp đặt sự trừng phạt lên một nửa dân số thế giới. Chúng ta là quốc gia duy nhất trên thế giới ban hành các thẻ ghi điểm hạnh kiểm cho tất cả các quốc gia khác. Washington DC đã trở nên một loại hão huyền, thiển cận và xa cách với thế giới bên ngoài.

Khảo cứu về các Thái độ trên Toàn cầu của PEW đã cho thấy sự gia tăng rất đáng lưu ý trong các quan điểm tích cực về thị trường, giao thương tự do và dân chủ. Các đa số lớn ở các nước từ Trung Quốc và Đức đến Bangladesh và Nigeria nói rằng cách giao thương tăng dần giữa các quốc gia là điều tốt đẹp. Tuy nhiên, trong 47 nước được thăm dò, đất nước đứng hàng chót trong những ý nghĩa về ủng hộ thị trường tự do là Hoa Kỳ. Trong năm năm thực hiện khảo sát, không một quốc gia nào từng bị coi như một sự sa sút như Hoa Kỳ.

Hay là nhìn vào quan điểm đối với các công ty ngoại quốc. Khi được hỏi phải chăng họ đã tạo nên những tác động tích cực, một con số người đông đến đáng ngạc nhiên ở những quốc gia như Brazil, Nigeria, Ấn Ðộ và Bangladesh trả lời quả đúng là như thế. Những quốc gia đó từng tiêu biểu về sự nghi ngờ đến tính cách đa quốc gia của châu Âu. (Sự không thoải mái của những nước phía nam Á châu có một số căn bản; nói cho cùng, họ đã bị thuộc địa hóa ban đầu bởi một loại hợp tác đa quốc gia, Công ty Đông Ấn Anh Quốc [the British East India Company]). Thế mà, 70 phần trăm ở Ấn Ðộ, 75 phần trăm ở Bangladesh, 70 phần trăm ở Brazil và 82 phần trăm ở Nigeria hiện nay đang có những quan điểm tích cực về những công ty này. Ngược lại, con số của Mỹ là 45 phần trăm, khiến liệt chúng ta vào 5 hàng tận cùng. Chúng ta muốn thế giới chấp nhận các công ty của Mỹ với hai tay rộng mở, nhưng khi họ đến đây - đó lại là một nội dung khác. Các quan điểm về di dân còn mô tả một sự đảo ngược lớn hơn nữa. Về một vấn đề khi mà Hoa Kỳ trở thành một kiểu mẫu cho cả thế giới, đất nước này đã thụt lùi về một sự tránh né thủ thế. Ở những nơi nào chúng ta từng muốn tiên phong tất cả mọi công nghệ mới, giờ đây chúng ta lại nhìn cái mới một cách sợ hãi, lo lắng không biến chúng sẽ thay đổi sự việc như thế nào.

Sự mỉa mai chính là ở chỗ sự nổi dậy của thành phần còn lại chính là hậu quả của tư tưởng và các hành động của Hoa Kỳ. Trong 60 năm, các nhà ngoại giao, các chính khách Hoa Kỳ đã đi khắp nơi trên thế giới để thúc đẩy các quốc gia mở cửa thị trường của mình ra, tự do nền chính trị của mình để ôm lấy giao thương và khoa học. Chúng ta đã kêu nài dân chúng ở những nơi xa xôi tham dự vào các thử thách của kinh tế toàn cầu, bỏ tiền ra để mà phát triển kỹ nghệ. Chúng ta cố vấn họ học hỏi những bí mật thành công của chúng ta và đừng sợ sự thay đổi. Và những điều ấy đã có kết quả: những người địa phương đã trở nên giỏi giang trong chủ nghĩa tư bản. Nhưng bây giờ chúng ta trở nên nghi ngại về tất cả những gì chúng ta từng chào đón - giao thương, thị trường tự do, di dân và thay đổi công nghệ. Và tất cả những điều này xảy ra khi ngọn triều dâng đang đổ đúng hướng mà chúng ta hằng mong. Chỉ có điều là khi thế giới đang bung mở ra, Mỹ lại đang đóng lại.

Nhiều thế hệ nữa kể từ hôm nay, khi các sử gia viết về thời đại này, họ có thể ghi nhận rằng, vào những thập niên đầu của thế kỷ hai mươi mốt, Hoa Kỳ đã tiếp tục được nhiệm vụ lịch sử vĩ đại của mình - Hoa Kỳ đã toàn cầu hóa được Thế giới. Nhưng bên cạnh đó, họ cũng có thể viết rằng, Hoa Kỳ đã quên không tự toàn cầu hóa chính mình.

(Còn tiếp)

i. Theo Thomas L. Friedman. The Worl is Flat: A Brief History of the Twenty-first Century (New York: Farrar, Straus nad Giroux, 2006), 226. Lời phát biểu của Andy Grove trích dẫn từ Clyde Prestowitz, Three Billion New Capitalists: The Great Shift of Weath and power to the East (New York: Basic Books, 2005). 8.

ii. Theo Gabor Steingart, The War for Wealth: Why Globalization Is Bleeding the West of Its Prosperity (New York:McGraw-Hill, 2008).

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét