Thứ Ba, 20 tháng 7, 2010

MỘT THẾ GIỚI HẬU HOA KỲ (The Post-American World)

Nguyên tác: Fareed Zakaria
Người dịch: Lê Quốc Tuấn

Kỳ 5: Một tách nước đầy

Trong những ngày tháng mệt mỏi xanh xao của chế độ cai trị Thực dân Anh ở Ấn Ðộ, vị tổng trấn cuối cùng của họ, ngài Louis Mountbatten, đã quay lại Mahatma Gandhi, nhà lãnh tụ Ấn Ðộ vĩ đại và nói trong sự bực tức rằng “Nếu chúng tôi chỉ cần rời khỏi đất nước này, loạn lạc sẽ xảy ra tức khắc”, Gandhi trả lời “Vâng đúng thế, nhưng đấy sẽ là những loạn lạc của riêng chúng tôi”. Cái cảm giác được cai trị bởi “chính mình”, không bị ai can thiệp vào, là một cảm giác mạnh mẽ trong các quốc gia đang vươn lên, đặc biệt đối với những quốc gia từng là thuộc địa, hay gần như thuộc địa của phương Tây.

Zbigniew Brzezinski vừa kêu gọi chú ý đến điều mà ông gọi là một “thức tỉnh chính trị toàn cầu”. Ông muốn nói đến các niềm đam mê cực lớn đang dâng lên, nung đốt bởi nhiều sức mạnh khác nhau – thành công về kinh tế, tự hào quốc gia, học vấn cao, thông tin minh bạch, lớn hơn và các ký ức của quá khứ. Brzezinski đã lưu ý các khía cạnh đạp đổ của sức mạnh mới này. “Dân số của đa phần các nước đang phát triển đang quấy động một cách chính trị và ở nhiều nơi đang sùng sục không ngơi nghỉ”. Đấy là ý thức sâu sắc về bất công xã hội ở một mức độ chưa từng thấy … [và điều này] đang tạo nên môt cộng đồng của những nhận thức chung và niềm ganh tỵ có thể bị kích động và thách thức bởi loại chính trị mị dân và các đam mê tôn giáo. Những năng lực này sẽ chuyển hóa ra bên ngoài các biên giới, phô bày một thử thách đến cả những đất nước đang có cũng như thứ tự tôn ti toàn cầu đang hiện hữu và Hoa Kỳ vẫn đang ngự trên hệ thống tôn ti ấy”.

Trong nhiều quốc gia bên ngoài thế giới phương Tây, vẫn hiện diện nỗi tuyệt vọng bị dồn nén của việc đã từng phải chấp nhận phần truyền miệng hay toàn bộ của lịch sử Tây phương – mà một trong hai hình thức lịch sử ấy là không có thật hoặc một chút bạc bịp. Nga từng có những chòng ghẹo lâu dài về các câu truyện truyền lại về Đệ nhị Thế chiến, trong đó Hoa Kỳ và Anh Quốc đã đánh bại một cách anh hùng các lực lượng phát xít và Nhật Bản. Dựa vào các chứng liệu lịch sử trong dòng chính của Hoa Kỳ, từ Stephen Ambrose đến Ken Burn, người Mỹ đã có thể được tha thứ vì niềm tin rằng Nga từng đóng một vai trò thứ yếu trong trận đánh quyết định chống lại Hitler và Tojo. Sự thực, mặt trận phía đông là vũ đài chính của Đệ nhị Thế chiến. Mặt trận này mới thực sự nhiều cuộc chiến trên bộ hơn là các sân khấu khác của cuộc chiến tranh dẫn đến tổng số hơn 30 triệu binh sĩ thiệt mạng. Đấy chính là ¾ tổng số của tất cả lực lượng quân Đức từng tham dự và là nơi mà Đức chịu hậu quả của 70 phần trăm tổn thất về nhân mạng. Mặt trận ở Âu châu trong nhiều phương diện chỉ là cuộc trình diễn phụ, nhưng đã được trân trọng như thể một biến cố chính. Như soạn giả Benjamin Schwarz đã vạch ra, Stephen Ambrose đã “xài hoang” [niềm chú ý] vào cuộc xâm chiếm Sicily của quân Hoa Kỳ và Anh, khiến đánh bạt 60 ngàn quân Đức khỏi đảo này, nhưng đã hoàn toàn bỏ qua Kursk - trận đánh lớn nhất trong lịch sử, ở đó tối thiểu là 1.5 triệu quân Liên Xô và Đức đánh nhau, và trận chiến này xảy ra ngay cùng một thời điểm… Nhiều sự kiện như thế có thể khiến chúng ta lúng túng, chúng ta phải thừa nhận rằng cuộc chiến đấu chống lại Đức quốc xã chính là… “cuộc chiến tranh của Stalin”, như sử gia vĩ đại John Erickson từng đặt tên.

Hay là thử cân nhắc đến cái bối cảnh của cùng cuộc chiến ấy nhìn từ một điểm khác trên bản đồ. Một người bạn Ấn Ðộ giải thích với tôi, “Đối với Mỹ và Anh, Đệ nhị Thế chiến là một cuộc chiến đấu anh hùng, ở đấy tự do đã chiến thắng oanh liệt kẻ ác. Đối với chúng tôi, đấy là một cuộc chiến qua đó Anh Quốc đã làm liên lụy đến Ấn Ðộ và quân đội của đất nước này mà không thèm tham khảo đến ý nguyện của chúng tôi. London đã bảo chúng tôi phải chết cho một lý tưởng tự do trong khi ngay lúc ấy lại từ chối không trả tự do cho chúng tôi”.

Những cái nhìn khác biệt có tính quốc gia như thế đã luôn hiện hữu, nhưng ngày nay, nhờ vào nền giáo dục quảng đại hơn, thông tin, và lòng tự tin, những cái nhìn như thế đã được phân tán quảng bá rộng rãi trên các hệ thống thông tin, các kênh truyền hình và những trang mạng internet của thế giới đang lên. Nhiều nước của thành phần “còn lại” đang mổ xẻ những loại lịch sử truyền miệng, các tranh cãi, những giả định của phương Tây và bắt bẻ lại bằng những quan điểm khác về thế giới. “Khi quý vị bảo chúng tôi rằng chúng ta ủng hộ chế độ độc tài ở Sudan để đến được mỏ dầu của họ”, một viên chức Trung Quốc đã nói với tôi vào năm 2006, “điều tôi muốn nói là, thế sự ủng hộ ấy của quý vị khác với sự ủng hộ vương triều ở Saudi Arabia ra sao? Chúng tôi nhìn ra được thái độ đạo đức giả, nhưng chúng tôi chả nói gì cả”.

Sau khi chiến tranh lạnh chấm dứt, có một niềm hy vọng và mong đợi phổ biến là Trung Quốc và Nga sẽ di chuyển một cách vững chắc vào hệ thống chính trị kinh tế Tây phương sau thế chiến thứ hai. Khi George H. W. Bush nói về một “trật tự thế giới mới”, ông đơn giản có ý rằng cái trật tự phương Tây cũ sẽ được bành trướng ra toàn thế giới. Chắc có lẽ quan điểm này mọc ra từ kinh nghiệm sau chiến tranh với Nhật và Đức, cả hai nưóc này đã vươn đến đỉnh cao của quyền lực kinh tế và tuy có hợp tác, thích ứng nhưng vẫn là những thành viên đa số thầm lặng của trật tự sẵn có. Nhưng có lẽ đấy là những trường hợp cá biệt. Hai quốc gia này có một lịch sử độc đáo, họ cùng khuấy động lên một cuộc chiến tranh tàn bạo, cùng chịu chung hậu quả là trở nên những kẻ khốn khổ, đồng thời phải đương đầu với mối đe dọa mới từ cộng sản Xô Viết, đi đến mức phải lệ thuộc vào quân sự Mỹ để bảo vệ mình. Ngay cả đến hồi kế tiếp này của các quyền lực đang lên họ cũng không thiết tha lắm để "nhập" vào.

Chúng ta vẫn còn nghĩ về một thế giới trong đó một quyền lực vươn lên phải chọn một giữa hai lựa chọn cứng ngắc: hợp nhất với trật tự Tây phương hoặc là chối bỏ, trở nên một quốc gia thảo khấu và đương đầu với việc bị rút phép thông công. Thực ra, các quyền lực đang lên đang đi theo một phương cách thứ ba: nhập vào trật tự của phương Tây nhưng lại hành động như thế bằng những cách riêng của mình - từ đó tự tái định hình lại hệ thống. Như nhà khoa học về chính trị Naazeen Barma, Ely Ratner và Steven Weber vạch rõ, trong một thế giới khi mọi người cảm thấy được thêm sức mạnh, các nước sẽ chọn hoàn toàn bỏ qua cái "trung tâm" phương Tây này để tiến đến mối ràng buộc của riêng mình với nhau . Trong một thế giới sau Hoa Kỳ, có lẽ sẽ không có một trung tâm nào để hợp nhất vào. Năm 1991, tổng trưởng ngoại giao Hoa Kỳ James Baker đã nói rằng, thế giới đang di chuyển đến một hệ thống hub and spoke, với mọi quốc gia phải đi qua Hoa Kỳ để đạt được đích đến của mình. Thế giới của thế kỷ hai mươi mốt có thể được diễn tả đúng nhất như là một trong những lộ trình điểm này-đến-điểm khác, với các mẫu đường bay mới được vạch ra hàng ngày. (Điều này là đúng ngay cả trong ý nghĩa vật lý: chỉ trong mười năm, số lượng du khách Nga đến Trung Quốc tăng lên hơn bốn lần, từ 489.000 trong năm 1995 đến 2.2 triệu trong năm 2005). Trọng điểm đã chuyển dịch. Các quốc gia tăng cường các chú ý vào chính mình - vào câu chuyện tăng trưởng của mình - ít để ý đến Hoa Kỳ và phương Tây. Kết quả là, các thảo luận cấp bách trải dọc chiến dịch tranh cử suốt năm 2007 về nhu cầu làm giảm bớt chủ nghĩa thù chống người Mỹ là một chuyện dường như lạc đề. Thế giới đang di chuyển từ giận dữ đến sự không khác biệt, từ chống lại người Mỹ đến một thế giới hậu Hoa Kỳ.

Cái sự thực rằng một số quyền lực mới cương quyết hơn với các quyền lợi của mình là thực tế của một thế giới Hậu Hoa Kỳ. Sự thật này cũng đưa ra một câu hỏi hóc búa về việc làm thế nào đạt được các mục tiêu quốc tế trong một thế giới có quá nhiều kịch sĩ, cả nhà nước và không nhà nước. Theo mô hình cũ để hoàn thành được công việc, Hoa Kỳ và một số đồng minh phương Tây chỉ đạo chương trình trong lúc thế giới thứ ba hoặc cùng chơi theo hoặc đứng ngoài đóng vai trò không thích hợp. Các tay chơi phi chính phủ thì quá ít và quá nhỏ yếu để mà phải lo lắng. Hiện nay, hãy nhìn vào những thứ đại loại như các thương thảo thương mại quý vị sẽ nhìn thấy thế giới đang phát triển hành động bằng sức mạnh lớn hơn và lớn hơn nữa. Để đến lúc hoặc là họ chấp nhận mối làm ăn mà phương Tây chào mời hoặc tảng lờ đi toàn bộ tiến trình, các quốc gia như Ấn Ðộ và Brazil chơi cứng rắn cho đến khi họ đạt được mối làm ăn mà họ muốn. Họ đã nghe được các CEO phương Tây giải thích tương lai nằm ở đâu. Họ đã đọc báo cáo của Goldman Sachs BRIC. Họ hiểu cán cân quyền lực đã chuyển dịch rồi.
Thỏa ước Kyoto (giờ được xem như thiêng liêng bởi vì sự ngạo mạn chối bỏ của Tổng thống Bush trong quá khứ) thực ra là một thỏa thuận đặc trưng về sự tôn trọng đến thế giới quan cũ. Kyoto mặc định rằng nếu các nước phương Tây cùng ngồi lại với nhau để đưa ra một kế hoạch, thế giới thứ ba sẽ chấp nhận khung hình mới và các khó khăn sẽ được giải quyết. Đó có thể là những phương cách từng được thực hiện trong các công việc quốc tế qua nhiều thập niên nhưng không còn tạo được nhiều ít nghĩa trong thời buổi ngày nay. Brazil, Trung Quốc, Ấn Ðộ và những đất nước đang lên khác sẽ không chịu tuân theo một tiến trình lãnh đạo bởi phương Tây mà họ không có dự phần ở đó. Hơn nữa, các chính phủ của họ cũng chỉ có thể làm được chừng ấy việc trong khả năng của mình để đối phó với một vấn đề như vấn sự thay đổi khí hậu. Một giải pháp thực sự sẽ đòi hỏi phải tạo ra được một liên minh rộng rãi hơn bao gồm cả những thành phần tư nhân, các nhóm không chính phủ, các thành phố, địa phương và báo chí truyền thông. Trong một thế giới toàn cầu hóa, dân chủ hóa và không còn tập trung, chúng ta cần tìm đến những cá nhân để thay đổi hành xử của họ. Sưu cao, thuế quan và chiến tranh là các phương cách giải quyết đã cũ, các chính phủ hiện nay không còn chỗ để thu vén trên các mặt trận này nữa. Họ cần đến những phương cách khôn ngoan và tinh vi hơn để tạo sự đổi thay.

Cơ chế truyền thống của các hợp tác quốc tế chỉ còn là những di vật cũ trong một số khu vực khác. Hệ thống của Liên Hiệp Quốc đại diện cho một cấu hình lỗi thời về quyền lực. Các thành viên thường trực của Uỷ ban An ninh LHQ là những nhân vật chiến thắng của một cuộc chiến đã chấm dứt từ hơn 60 năm trước. Bộ phận này không có Đức hay Nhật, hai nền kinh tế lớn thứ nhì và thứ ba trên thế giới (tính theo mức thu đổi hối đoái thị trường hiện tại), Ấn Ðộ, một nền dân chủ lớn nhất thế giới hay bất cứ nước châu Mỹ Latin, châu Phi nào. Hội đồng An ninh LHQ là minh chứng cho cấu trúc cổ đại của việc cai quản toàn cầu rộng rãi hơn. Khối G -8 không có Trung Quốc, vốn đã là một nền kinh tế lớn thứ tư trên thế giới, hay Ấn Ðộ, Nam Triều Tiên - thứ mười hai, thứ mười ba của thế giới. Từ trong truyền thống, IMF luôn luôn được lãnh đạo bởi một người châu Âu và Ngân hàng Thế giới bởi một người Mỹ. "Truyền thống" này, như các thói tục của một câu lạc bộ xưa cũ ở một làng quê cô lập, có thể dễ thương và giải khuây được cho những người trong cuộc, nhưng đối với người ngoài thì quả là một sự sỉ nhục và mù quáng.

Một ngụ ý khác nữa: khi viết về sự nổi dậy của chủ nghĩa quốc gia là tôi đang diễn tả một hiện tượng rõ ràng hơn - sự quyết đoán về chỉ danh. Ý niệm nhà nước-quốc gia là một phát minh tương đối mới, thường không lâu hơn 100 năm. Những ý niệm lâu hơn là các ý niệm về tôn giáo, chủng tộc và các nhóm chung ngôn ngữ sống trong một nhà nước-quốc gia. Và những ràng buộc gắn bó này vẫn bền chặt, thậm chí còn bền chặt hơn khi sự phụ thuộc lẫn nhau về kinh tế trở nên sâu sắc. Ở Âu châu, người Pháp và Flemish ở Bỉ mãi mãi giữ một khoảng cách. Ở Anh Quốc, người Scotland đã bỏ phiếu cho một đảng cai trị từng đề nghị chấm dứt các bộ luật về Liên minh ba trăm năm cũ vốn tạo nên Vương quốc Liên Hiệp Anh, Tô Cách Lan và xứ Wales. Ở Ấn Ðộ, các đảng phái quốc gia đang thua các đảng địa phương khu vực. Ở Kenya, các khác biệt về bộ lạc ngày càng trở nên quan trọng hơn. Trong đa phần của thế giới, những chỉ danh cốt lõi này - sâu sắc hơn ý niệm nhà nước-quốc gia - đã duy trì các đặc trưng xác định của đời sống. Đó là nguyên nhân vì sao người dân bỏ phiếu, vì sao người dân có thể sống chết. Trong một nền kinh tế thế giới rộng mở, những tập hợp này hiểu rằng họ càng ngày càng ít cần đến chính phủ trung ương. Và, trong thời đại dân chủ, các tập hợp này càng có thêm sức mạnh hơn nếu họ trụ lại với nhau như một tập hợp. Tính uy lực song sinh này của chỉ danh có ý nghĩa là, trong liên quan đến Hoa Kỳ, Liên Hiệp Quốc hay thế giới rộng lớn, chủ nghĩa quốc gia của người Trung Hoa và người Ấn Ðộ tăng trưởng lên. Nhưng trong nội bộ các đất nước này, chủ nghĩa quốc gia-phụ thuộc cũng tăng lên. Những gì đang xảy ra trên sâu khấu toàn cầu - sự nổi dậy của tính danh giữa mênh mông của phát triển kinh tế - cũng xảy ra trên các sân khấu địa phương. Hậu quả là: những điều này sẽ khiến cho hành động vì mục đích quốc gia trở nên khó khăn hơn.

Khi quyền lực trở nên phân hóa và tản mạn, tính chính đáng (legitimacy) trở nên quan trọng hơn - bởi vì đó là cách duy nhất để kêu gọi đến tất cả các diễn viên khác nhau trên sân khấu quốc tế. Ngày nay, không một giải pháp nào, bất kể là hợp lý đến đâu, có thể tồn tại chịu đựng được nếu nó được xem như không có tính chính đáng. Áp đặt chúng sẽ không có kết quả nếu như chúng được xem như sản phẩm của một sức mạnh quốc gia, bất chấp là quốc gia ấy mạnh đến đâu. Cuộc thảm sát ở Darfur chẳng hạn, là một sự kinh hoàng, tuy thế sự can thiệp quân sự ở đó - phương cách tốt nhất để chặn đứng cuộc thảm sát - sẽ thành công nếu như được sự đồng thuận của các sức mạnh chính cũng như của các đồng minh Phi châu của Sudan. Nếu Hoa Kỳ hành động đơn phương hoặc với một liên minh nhỏ - xâm chiếm quốc gia Hồi giáo thứ ba này trong năm năm -nỗ lực ấy chắc chắn sẽ bị chặn đứng, khi chính phủ của người Sudan sẽ nồng nhiệt tập hợp tiếng kêu khóc chống lại "chủ nghĩa đế quốc Mỹ". Chính sách ngoại giao của chính quyền Bush ghi lại việc đem đến một minh hoạ tuyệt vời về nhu cầu thực tế của tính chính đáng. Tuy nhiên, vượt trên cả những thất bại của Bush, tình trạng tiến thoái lưỡng nan vẫn còn đó: nếu nhiều quốc gia muốn hợp tác để hoàn tất sự việc, làm sao để tạo cho điều này xảy ra với nhiều người tham dự, đa số lại mạnh hơn?




i. Theo Zbigniew Brezinski, "The Dilema of the last Sovereign", American Interest 1. no. 1 (Số Mùa thu năm 2005).
ii. Theo Benjamin Schwarz, review of Stephen E. Ambrose, The Good Fight, trong tờ Atlantic Monthly, số tháng sáu 2001, trang 103.
iii. Theo Nazzneen Barma et al., "The World without the West", National Interest, no. 90 (tháng Bảy/Tám năm 2007) tr. 23-30
.


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét