Thứ Sáu, 16 tháng 7, 2010

MỘT THẾ GIỚI HẬU HOA KỲ (THE POST-AMERICAN WORLD)

Nguyên tác: Fareed Zakaria
Người dịch: Lê Quốc Tuấn

(Tiếp theo)

Kỳ 4: Tách nước đầy

Song song với những yếu tố về chính trị, kinh tế di chuyển các nước đến một đồng thuận mới này là hàng loạt các phát kiến kỹ thuật mới giúp thúc đẩy vào cùng một hướng đi. Ngày nay, thật khó để có thể nhớ lại đời sống của những ngày tối tăm những năm 1970, khi tin tức không chuyển đạt tức thời được như hiện nay. Nhưng vào những năm 1990, các biến cố xảy ra ở mọi nơi chốn – ở Đông Bá Linh, Kuwait, Quảng trường Thiên An Môn – đã được truyền đi sống thực ở mọi nơi. Chúng ta thường nghĩ về tin tức phần lớn như chính trị. Nhưng giá cả cũng là một loại tin tức, và cái năng lực loan truyền giá cả tức thì và trung thực xuyên qua toàn cầu đã kích hoạt một cuộc cách mạng khác về tính hiệu quả. Ngày nay, kiểm tra giá cả hàng hóa trên mạng internet trong vài phút là một công việc có tính thường nhật. Hai mươi năm trước, đó là một công việc đánh giá rất lớn lao bởi vì những so sánh giá cả tức thời ấy hết sức là khó khăn.

Sự bành trướng của truyền thông liên lạc mang ý nghĩa là thế giới trở nên liền lạc với nhau hết sức sâu sắc và trở nên “phẳng”, theo diễn tả nổi tiếng của Thomas Friedman. Chi phí điện thoại thấp và sóng trải rộng (broadband) tạo dễ dàng cho thiên hạ làm việc cho một quốc gia này từ một xứ sở khác – đánh dấu một giai đoạn kế tiếp của câu chuyện đang xảy ra về chủ nghĩa tư bản. Với sự xuất hiện của những thương thuyền lớn vào thế kỷ thứ mười lăm, hàng hóa đã trở nên di động. Với hệ thống ngân hàng hiện đại trong thế kỷ mười bảy, tư bản trở nên di động. Trong những năm 1990, lao động cũng trở thành di động. Người ta đã không cần thiết phải đi đến nơi nào có việc làm, mà việc làm có thể đến được nơi con người ở. Và thế là đã đi đến sự việc các thảo trình viên ở Ấn Ðộ, điện thoại viên ở Phi Luật Tân và các chuyên viên X quang ở Thái Lan. Chi phí vận chuyển hàng hóa và dịch vụ đã từng tụt thấp trong nhiều thế kỷ. Với sự ra đời của sóng trải rộng, chi phí này xuống đến số không trong rất nhiều dịch vụ. Không phải tất cả mọi công việc đều có thể đẩy ra làm ở bên ngoài – không phải vì thử mà không thành công – nhưng ảnh hưởng của sự chuyển dịch công việc ra ngoài có thể được cảm nhận thấy ở mọi nơi chốn.

Trong một cách giải thích, đây chính là cách mà nền giao thương đã luôn được vận hành – thí dụ như các nhà máy vải sợi ở Đế quốc Anh dịch chuyển sang Nhật vào đầu thế kỷ mười tám. Nhưng các phương tiện truyền thông liên lạc liên tục và tức thì mang ý nghĩa là tiến trình vận hành này đã được tăng tốc hết sức cao. Một nhà máy may mặc ở Thái Lan có thể được điều hành gần như thể là nhà máy ấy nằm ngay ở Hoa Kỳ. Ngày nay các công ty sử dụng hàng chục quốc gia khác như một dây chuyền mua, sản xuất, lắp ráp, tiếp thị và bán hàng hóa.

Kể từ những năm 1980, ba lực lượng chính này – chính trị, kinh tế và khoa học kỹ thuật - đã cùng tạo lực đẩy để tạo nên một môi trường quốc tế, liên kết và mở rộng hơn. Nhưng cũng đồng thời cho phép các quốc gia mọi nơi những cơ hội mới mẻ để khởi sự leo lên những bậc thang của sự phát triển và thịnh vượng.

Hãy nhìn cuộc thay đổi lớn lao của hai quốc gia tiêu biểu (không thuộc châu Á). Hai mươi năm trước, Brazil và Turkey từng được xem như những nước “đang phát triển” điển hình, với mức phát triển trì trệ, lạm phát phi mã, nợ nần chồng chất, một khu vực tư nhân xanh xao vàng vọt và một hệ thống chính trị yếu kém. Ngày nay, cả hai đã quản lý tốt và kiêu hãnh về mức lạm phát thấp lịch sử của họ, tỉ số tăng trưởng mãnh liệt, mức nợ tụt giảm, khu vực tư nhân lớn mạnh và các định chế dân chủ không ngừng ổn định hơn. Hiện nay, tỉ lệ lạm phát của Brazil thấp, lần đầu tiên trong lịch sử, gần ngang bằng với tỉ lệ lạm phát của Hoa Kỳ. Brazil và Turkey vẫn còn những khó khăn - quốc gia nào không có khó khăn ?- nhưng họ đúng là những quốc gia đang vươn lên.

Các thị trường đã thay đổi nhận thức của họ về những đất nước này. Gánh nợ của họ không còn nguy hiểm hơn những gánh nợ ở các nước lớn. Thực tế, nhiều thị trường mới nổi còn đang chồng chất cao thêm thặng dư, nhiều đến nỗi các nước này đang giữ đến 75 phần trăm nguồn dự trữ trao đổi ngoại tệ của cả thế giới. Riêng Trung Quốc có trên 1.5 trillion mỹ kim. Godman Sachs đã tiên đoán rằng, đến năm 2040, 5 nước có thị trường mới nổi – Trung Quốc, Ấn Ðộ, Brazil và Mexico - sẽ có sản lượng kinh tế lớn hơn các nước G-7, những nước Tây phương vốn từng thống trị toàn cầu trong nhiều thế kỷ.

Những vấn nạn của sự Sung túc

Trong hai thập kỷ qua chúng ta đã tốn rất nhiều thời gian, năng lực và sự quan tâm để lo lắng về chủ nghĩa khủng bố, những cơn khủng hoảng, sụp đổ trong kinh tế toàn cầu, những đe dọa về vũ khí hạch nhân và chiến tranh trong địa lý chính trị. Điều này là sự tự nhiên - bởi vì đề phòng tình huống xấu cũng là cách để ngăn ngừa. Và chúng ta thực cũng đã có những tin không lành - từ các cuộc chiến tranh ở vùng Balkans và Phi châu, đến nạn khủng bố trên toàn thế giới, khủng hoảng kinh tế ở khu vực Đông Á, Nga, và -nguy hiểm nhất- khủng hoảng kinh tế ở Hoa Kỳ. Tuy nhiên nếu chú trọng vào sự nở rộ cũng sẽ đặt chúng ta đến sự thiếu chuẩn bị đến rất nhiều vấn nạn lớn lao mà chúng ta phải đối diện: đó là những sản phẩm của sự công thành chứ không phải của sự thất bại. Cái thực tế mà chúng ta đang sống trong một thế giới của sự phát triển toàn cầu một cách đồng bộ, đa phần là những tin tốt lành, nhưng đồng thời sự phát triển này cũng sinh ra một loạt những sự việc phức tạp và những tình huống khó khăn có tiềm năng chết người.

Phát triển toàn cầu là chủ đề lớn lao cho thời đại chúng ta. Sự phát triển này giải thích được sự tăng cao tính lưu chuyển của thị trường - các núi tiền không ngừng chất cao hơn đang di chuyển quanh thế giới - đã giữ cho tín dụng được thấp và tài sản (bao gồm bất động sản, chứng khoán và cổ phiếu) được cao. Cùng lúc ấy, sự nở rộ các nước lao động rẻ đã giữ cho lạm phát không tăng quá nhanh. Có một cách để nghĩ về Ấn Ðộ và Trung Quốc như là hai cỗ máy giải lạm phát vĩ đại, bơm hàng hóa (từ Trung Quốc) và các dịch vụ (từ Ấn Ðộ) ra cho một chi phí vốn sẽ tốn kém tương tự nếu phải sản xuất ra ở Tây phương . Đây là một trong những lý do chính mà các ngân hàng trung ương đã không lo lắng gì nhiều về lạm phát và đã có thể duy trì được mức lãi suất thấp trong gần hai thập niên, một thời gian tương đối dài một cách khác thường. Dĩ nhiên, lãi suất và tín dụng thấp cũng khiến con người hành động dại dột, tham lam, tạo nên những hiện tượng bấp bênh trong chứng khoán, nhà đất, nợ nhà dưới chuẩn hoặc sát nhập vốn thị trường - những bong bóng trước sau gì cũng sẽ nổ tung. Khi thế giới trở nên liên kết với nhau nhiều hơn và các công cụ tài chính trở nên quyến rũ hơn, nhiều nhà quan sát đã lo ngại rằng chu kỳ đoan chính của sự phát triển và lòng tin sẽ biến thành một chu kỳ xấu xa của hoảng loạn và suy thoái. Tuy nhiên, cho đến nay, dù việc tháo gỡ những cơn khủng hoảng là cực kỳ đau đớn, nhưng những nguồn phát triển mới khác nhau và những khối luợng tư bản khổng lồ đã mang lại cho hệ thống kinh tế toàn cầu khả năng phục hồi trên tổng thể.

Hãy xem giá dầu tăng. Cuộc khủng hoảng xăng dầu vô duyên (làm sao diễn tả khác hơn được thập niên 2000 đến 2010?) đã là một cuộc khủng hoảng khác hẳn những cơn khủng hoảng trước đó. Trong quá khứ, giá dầu tăng vì những nhà sản xuất dầu hỏa - OPEC - tạo nên các giới hạn giả tạo nguồn cung cấp dầu khiến giá xăng dầu tăng lên. Vào những năm qua, ngược lại, giá dầu tăng vì nhu cầu từ các nước như Trung Quốc, Ấn Ðộ và các thị trường mới nổi khác, cũng như nhu cầu khổng lồ không ngừng tăng lên từ thế giới các nước đang phát triển. Nếu giá tăng vì kinh tế tăng trưởng, có nghĩa là các nền kinh tế có được sức lực và khả năng mềm dẻo để chịu được giá tăng bằng cách gia tăng sản xuất lên (và, đến một giới hạn nhỏ hơn, là chuyển chi phí ấy qua người tiêu thụ). Kết quả là, những đợt tăng giá dầu vô duyên ấy đã được tiêu hóa một cách dể dàng. Nếu như chúng ta đã tham vấn nhà tiên tri của chúng ta từ năm 2001 để đánh giá các hậu quả của việc giá dầu hỏa tăng gấp bốn lần hơn, chắc hẳn ngài đã tiên đoán ngay một cơn khủng hoảng toàn cầu thê thảm sẽ phải xảy đến.

Không phải chỉ có dầu hỏa đã trở nên đắt đỏ. Các giá cả hàng hóa khác đang ở mức cao nhất trong suốt 200 năm qua. Tất cả các loại nguyên liệu thô cũng tăng giá. Sản phẩm nông nghiệp hiện nay đắt đến mức các quốc gia đang phát triển hiện đang phải đối đầu với một vấn nạn chính trị gia tăng của việc làm thế nào giải quyết nạn phá giá thực phẩm. Chi phí xây dựng cũng nổ tung ra suốt từ Nữu Ước đến Dubai và Thượng Hải. Ngay cả loại nhiên liệu khiêm tốn, khí helium, vốn được xử dụng không chỉ trong việc bơm bong bóng nơi các hội hè đình đám mà còn trong thiết bị quét sóng y học (MRI) và trong các nhà máy sản xuất microchip, cũng bị thiếu hụt trên toàn cầu - và đó vốn là loại nguyên tố phong phú đứng hàng thứ nhì trong vũ trụ. Những sức ép này chắc chắn đến lúc nào đấy sẽ kết thúc thời đại lạm phát thấp vốn đang nâng dậy cho thịnh vượng của toàn cầu.

Trong khi đó, sự phát triển quá mạnh mẽ cũng mang đến những điều bất bình thường. Trong khuôn khổ của một thế giới có kỷ luật và không ngừng toàn cầu hoá, một số quốc gia - những quốc gia vốn được phú cho các quặng mỏ nguyên liệu thiên nhiên, đặc biệt là nguyên liệu dầu hỏa và khí thiên nhiên - đang hưởng được những cuộc chơi miễn phí. Họ đang bay lượn theo cơn sóng của cuộc tăng trưởng toàn cầu, trở nên giàu có mà không phải tuân thủ hầu hết các lề luật đang điều phối nên kinh tế toàn cầu. Hiện tượng này thật lạ thường nhưng đã là sự phát triển thành công không tránh khỏi của mọi người. Những quốc gia này thực là các thiên đàng phi thị trường trong một thế giới thị trường.

Hãy thử nghĩ đến những thử thách chính trị có tính nguyên tắc đối với Hoa Kỳ và các tư tưởng phương Tây về nền trật tự quốc tế. Ở Trung Ðông, các thử thách này đến từ Iran, ở châu Mỹ Latin từ Venezuela và từ Nga từ vùng Đông Á. Tất cả các nước này đều có được các sức mạnh mới có được nhờ vào dầu hỏa. Khó có thể tưởng tượng ra năng lực thách thức thế giới của Sudan ở Darfur nếu không có trữ lượng dầu hỏa. Kỹ nghệ khai thác dầu mang đến một khối lượng tiền lòa mắt. Trong năm 2006 Iran đã kiếm được đến 50 tỉ mỹ kim - đủ để chia chác ban phát cho các thành phần ưa thích, mua chuộc quân đội, và duy trì được quyền lực mà vẫn còn dư ra để khiêu khích các bất ổn ở quốc ngoại. Tình hình này gần như không thể thay đổi. Chừng nào các quốc gia khác còn thịnh vượng phát triển, các quốc gia giàu có về trữ lượng thiên nhiên này sẽ còn phát đạt. Đấy là quy luật âm dương của nền toàn cầu hóa ngày nay.

Không phải tất cả các quốc gia giàu trữ lượng đều ma mãnh xỏ lá cả, và cái không khí cai quản kinh tế tốt đã đưa một số quốc gia đến việc sử dụng sự thịnh vượng của mình một cách khôn ngoan hơn trước đây. Canada đang trở thành một quốc gia quyền lực chính nhưng vẫn hành xử một cách hết sức có trách nhiệm. Vùng Vịnh, nơi tuôn chảy phần lớn các tài sản dầu hỏa, đang đầu tư nhiều lợi nhuận của mình vào kỹ nghệ và hạ tầng cơ sở, hơn là bỏ vào các ngân hàng Thụy Sĩ và các sòng bạc ở Monte Carlo (mặc dù chắc cũng có bỏ vào đấy ít nhiều). Dubai đã trở nên một trung tâm xuất nhập khẩu và phân phối dễ dàng, thoải mái, điều hành có hiệu quả, như một thứ Singapore của vùng Trung Ðông. Những quốc gia khác ở vùng Vịnh hiện đang cố gắng ganh đua với thành công của Dubai. Saudi Arabia, vốn có nhiều thập niên quản lý kém tài sản vĩ đại của họ, đang có kế hoạch đầu tư 70 tỉ mỹ kim vào các dự án hóa dầu (petrochemical), nhằm trở thành nhà sản xuất hóa dầu hàng đầu vào năm 2015. Các quốc gia vùng Vịnh đã đầu tư 1 ức (trillion) mỹ kim vào các loại đầu tư vốn tư bản trong năm năm vừa qua, và công ty McKinsey and Company đã ước tính rằng họ sẽ đầu tư 2 trillion nữa trong một thập niên sắp đến. Đây là hình thức nhà nước chỉ đạo trực tiếp của chủ nghĩa tư bản, khiến sẽ có khả năng dẫn đến hậu quả phát triển hạn hẹp và sẽ không mang lại được một nền phát triển tự lực (dù cũng đã có những môi trường nhà nước chỉ huy mạnh mẽ từ chủ nghĩa tư bản Á châu và Âu châu). Nhưng những hình thức này tương tự với hình thức tư bản toàn cầu hơn là hệ thống kinh tế ở những quốc gia này - từ Nga đến Saudi Arabia - vào thế hệ trước đây.

Vấn nạn gay gắt nhất của sự sung túc là tác động của phát triển toàn cầu về các tài nguyên thiên nhiên và môi trường. Thật hoàn toàn không phải là một sự cường điệu khi nói rằng thế giới đang cạn dần nguồn khí sạch, nước uống, sản phẩm nông nghiệp và nhiều loại sản phẩm có tính sống còn. Một số vấn nạn này có thể sửa chữa được - bằng cách gia tăng tính hiệu quả và khai triển các nguồn cung cấp mới - nhưng tiến độ quá chậm. Thí dụ như, sản phẩm nông nghiệp đang tăng lên. Nhưng để nuôi ăn một dân số toàn cầu vốn sẽ đạt đến 8 tỉ người vào năm 2025, trên các cánh đồng, chúng ta cần thu hoạch được 4 tấn cho mỗi hectare thay vì chỉ 3 tấn như hiện nay. Tương tự, khả năng bảo quản nước sạch của chúng ta không kịp với đà tiêu thụ. Dân số thế giới tăng gấp ba lần vào thế kỷ 20 trong khi nhu cầu nước dùng tăng 6 lần hơn. Người Mỹ sử dụng hơn bốn trăm lít nước mỗi ngày để uống, nấu ăn và tắm rửa. Ngày nay, dân chúng ở các nước nghèo may mắn có được bốn mươi lít, nhưng nếu các nước này trở nên giàu có hơn, nhu cầu của họ sẽ gây ra áp lực lớn hơn . Xung đột bằng bạo lực vì nước uống đã nổ ra ở Phi châu và Trung đông; nếu trong tương lai, nguồn nước bị khô cạn đi, hàng triệu con người sẽ buộc phải bắt đầu chuyển động.

Trong thập niên vừa qua, nhiều tiên đoán về các hậu quả của sự thay đổi khí hậu đã tỏ ra thiếu chính xác bởi vì sự phát triển toàn cầu đã vượt quá tất cả các dự án. Đánh giá gần đây nhất của Uỷ ban Liên chính phủ về thay đổi khí hậu được đưa ra vào giữa năm 2007. Các khoa học gia đã chỉ cho thấy rằng, đến cuối năm nay, vùng bắc cực sẽ tan chảy gấp hai lần hơn là bản đánh giá này đã đưa ra . Còn nhu cầu lớn về điện lực nữa, nhiều xe hơi, nhiều máy bay hơn là bất cứ ai có thể tưởng tượng ra vào mười lăm năm trước. Viện McKinsey Global Institution đã dự đoán, từ năm 2003 đến 2020, tổng số xe hơi ở Trung Quốc sẽ tăng từ 26 triệu chiếc lên đến 120 triệu chiếc. Và còn cả những nước còn lại như Ấn Ðộ, Nga và vùng Trung Ðông nữa.

Nhu cầu về điện lực được dự liệu là sẽ tăng hơn 4 phần trăm một năm trong nhiều thập niên. Và điện lực lại sẽ có được phần lớn từ nguồn than đá, loại nhiên liệu bẩn nhất từng sẵn có. Than đá thì rẻ và phong phú, do đó thế giới trông cậy vào đấy để làm ra hầu hết nguồn điện lực của mình. Để có thể hiểu được tác động của việc địa cầu bị hâm nóng, hãy suy nghĩ đến sự thật này. Giữa 2006 và 2012, Trung Quốc và Ấn Ðộ sẽ xây dựng tám trăm nhà máy điện chạy than nữa - với lượng khí thải CO2 là 5 lần hơn tổng số tiết kiệm được của thỏa ước Kyoto.

Sự xuất hiện của Chủ nghĩa Quốc gia

Trong một thế giới toàn cầu hóa, hầu như tất cả các khó khăn đều đổ tràn qua khỏi các biên giới của mỗi nước. Dù cho đấy là vấn nạn của chủ nghĩa khủng bố, phát triển hạt nhân, bệnh tật, hủy hoại môi trường, khủng hoảng kinh tế hay khan hiếm nước dùng, không một vấn đề nào có thể giải quyết mà không có sự hợp tác và phối hợp giữa các quốc gia với nhau. Tuy nhiên khi kinh tế, thông tin và ngay cả văn hóa có thể trở thành toàn cầu hóa thì quyền lực chính trị chính thức vẫn kết chặt vào quốc gia, dù cho các nhà nước-quốc gia có trở nên thiếu khả năng giải quyết những vấn nạn này một cách đơn phương. Và các nhà nước-quốc gia càng gia tăng sự thiếu thiện chí để cùng nhau giải quyết những vấn đề chung. Khi một số những thành phần tham dự - thuộc về các chính phủ hoặc không chính phủ - tăng lên và quyền lực cũng như sự tự tin của mỗi bên đều phát triển hơn thì các triển vọng của những hợp tác và hành động chung lại bị giảm đi. Đấy chính là thử thách quan trọng cho sự vươn lên của những thành phần còn lại - để ngăn cản sức mạnh của công cuộc phát triển toàn cầu không trở thành loại sức mạnh của sự tan rã và vô trật tự.

Cuộc vươn lên của lòng tự hào cùng niềm tự tin ở những quốc gia khác, đặc biệt là ở những quốc gia lớn nhất và thành công nhất thì rất rõ ràng. Đối với tôi, điều này đã được minh hoạ môt cách sống động tại một quán cà phê internet vào một vài năm trước ở Thượng Hải, khi tôi có dịp trò chuyện với một viên giám đốc trẻ tuổi. Ông ta đã diễn tả sự phát triển vô cùng tuyệt diệu đang xảy ra trên đất nước mình và một nền tương lai trong đó có một Trung Quốc thịnh vượng và hiện đại. Ông ta cư xử và trang phục hoàn toàn theo lối Tây phương, nói tiếng Anh xuất sắc và có thể nói chuyện rất tự tin, thoải mái về các chiều hướng thương mại mới nhất cùng những tin đồn đãi tầm phào về văn hóa Hoa Kỳ. Ông ta trông đúng là một sản phẩm tiêu thụ của nền toàn cầu hóa, một con người bắc cầu những nền văn hóa và tạo cho thế giới thành một nơi chốn quốc tế và nhỏ hẹp hơn. Nhưng khi chúng tôi nói chuyện về Đài Loan, Nhật Bản và Hoa Kỳ, phản ứng của ông đầy cáu gắt. Ông ta đã giải thích với một giọng nóng giận là Trung Quốc sẽ xâm lăng tức khắc nếu Đài Loan dám tuyên bố độc lập. Ông cho rằng Nhật Bản là một quốc gia gây hấn và không bao giờ có thể tin được. Ông tin chắc rằng chính Hoa Kỳ đã cố tình bỏ bom toà đại sứ Trung Quốc trong thời gian chiến tranh ở Kosovo năm 1999 nhằm đe dọa người Trung Quốc bằng sức mạnh quân sự của mình. Và còn tiếp tục nhiều chuyện khác nữa. Tôi có cảm giác như mình đang ở Berlin vào năm 1910, nói chuyện với một chuyên gia người Đức trẻ tuổi, người mà trong thời gian ấy vừa là một người hiện đại vừa là một người hoàn toàn quốc gia chủ nghĩa.

Các vận hội kinh tế xuất hiện, chủ nghĩa quốc gia cũng lên cao. Điều này có thể hiểu được. Thử tưởng tượng quý vị sống trong một đất nước từng nghèo khổ và bất ổn trong hàng trăm năm. Và rồi cuối cùng mọi chuyện thay đổi, đất nước mình đang trên đà đi lên. Chắc chắn quý vị phải tự hào và phấn khích mà chứng kiến. Nỗi khát khao được nhìn nhận, được tôn trọng đang trào dâng khắp thế giới. Trông có vẻ nghịch lý là công cuộc toàn cầu hóa hiện đại hóa kinh tế đang nuôi dưỡng loại chính trị có tính quốc gia chủ nghĩa, nhưng điều ấy đúng như thế nếu chúng ta nhìn chủ nghĩa quốc gia như một ý thức hệ lạc hậu nên đáng bị xoá bỏ đi bởi tiến trình của những nhịp bước tiến quân về phía trước.

Chủ nghĩa quốc gia đã luôn từng gây bối rối cho người Mỹ. Khi Hoa Kỳ tham dự phần mình vào thế giới bên ngoài, đất nước này luôn tin tưởng rằng mình thực sự chân thành muốn giúp các nước khác được tốt đẹp hơn cho chính họ. Từ Phi Luật Tân, Haiti đến Việt Nam và Iraq, các phản ứng đối với những nỗ lực của Mỹ từ người dân địa phương đã khiến người Mỹ ngạc nhiên. Người Mỹ có lòng tự hào chính đáng từ xứ sở của mình – chúng ta gọi đó là lòng yêu nước - để rồi lại giật mình sững người khi các dân tộc khác gìn giữ và tự hào về những điều chính đáng của họ.

(Còn tiếp)


i. Xem bản khảo sát từ báo Economist về "The New titans" trong số ngày 14 tháng Chín, 2006.
ii. Theo Michael Specter, "The Last Drop", The New Yorker, số ngày 23 tháng Mười, 2006.
iii. Theo Larry O'Hanlon, "Artic Ice Melt Gets Stark Reassessment", Discovery News, số ngày 6 tháng Chín, 2007, có sẵn tại http://dsc.discovery.com/news/2007/09/06/article_pla.html?category=earth.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét