Thứ Năm, 15 tháng 7, 2010

MỘT THẾ GIỚI HẬU HOA KỲ (THE POST-AMERICAN WORLD)

Nguyên tác: Fareed Zakaria
Người dịch: Lê Quốc Tuấn

(Tiếp theo)

Kỳ 3

Một loại kỹ nghệ nhà tranh vách đất về tung tin đồn nhảm nhí đã nở rộ ở phương Tây - đặc biệt là ở Hoa Kỳ - kể từ sau 9/11. Các giới chuyên gia đã loại suy tất cả những khuynh hướng nào họ không muốn, bỏ qua một bên những xem xét nghiêm túc về các dữ kiện. Nhiều nhà bình luận bảo thủ đã từng viết về tình trạng Hồi giáo hóa sắp xảy ra của Âu châu (họ đặt tên gọi là Eurabia để làm cho độc giả thêm bất an). Trừ những ước tính chính xác nhất từ tình báo Mỹ cho thấy là Hồi giáo chỉ chiếm khoảng 3 phần trăm dân số ở Âu châu hiện nay và chỉ tăng đến 5 hoặc 8 phần trăm vào năm 2025, sau đó có lẽ sẽ ở trong tình trạng ổn định không tăng giảm nữa. Giới theo dõi này cứ để ý đến vẻ trầm ngâm của từng lãnh tụ Hồi giáo lập dị, để cuối ngày đi sao lục những lưu trữ cho mỗi gợi ý, rồi thu lại và phát hình vào các chương trình truyền hình tối khuya những suy tưởng của những kẻ điên loạn muốn tuyên dương những kẻ tử đạo. Tất cả nổ ra cơn giận dữ khi một tài xế taxi ở đâu đó từ chối không chịu chở một thùng rượu trong xe mình, vì y xem đó như sự khởi đầu của luật đạo Hồi ở phương Tây. Nhưng những hồi kịch này không phản ánh các chỉ hướng căn bản của thế giới Hồi giáo. Thế giới đó cũng đang hiện đại hóa, dù có chậm hơn các thế giới khác, và thế giới ấy đang có những người muốn trở nên các lãnh tụ trong các bạo loạn chống lại nó. Những người phản động trong thế giới Hồi giáo thì đông đảo hơn và cực đoan hơn những người phản động ở các nền văn hóa khác – vì thế giới này có những tính cách bất thường của nó. Nhưng những người này chỉ còn là một thiểu số nhỏ của một thế giới hơn tỉ người Hồi giáo. Và sự khinh xuất không để ý đến nội dung phức tạp mà một số các phán xét giả tôn giáo này đã thực hiện – như cuộc đấu tranh trong nội bộ quyền lực của Iran giữa những tu sĩ và các giới không phải là tu sĩ - dẫn đến những tiên đoán dựng tóc gáy nhưng ngu ngốc, như lời khẳng định tự tin của Benard Lewia rằng Tổng thống Iran Mahmoud Ahmadinejad dự định đánh dấu một ngày tốt trong lịch Hồi giáo (ngày 22 tháng tám, 2006) là ngày tận cùng của thế giới. (Vâng, ông ấy thực sự có viết như vậy).

Những người canh giữ ý thức hệ đã bỏ rất nhiều thì giờ với các tài liệu thánh chiến đến nỗi họ đã không nhìn thấy các xã hội Hồi giáo thực sự. Nếu tỉnh táo lại, hẳn họ sẽ nhìn thấy môt sự phẫn nộ đối với những người chính thống, niềm ao ước cho một nền hiện đại (chắc chắn với một số nhân cách và tự hào văn hóa) và một cuộc truy tìm cho những giải pháp thực tiễn - chứ không phải chỉ một đòi hỏi lớn lao về sự bất tử sau khi chết đi. Khi người Hồi giáo đi ra nước ngoài, họ đi lũ lượt hàng triệu người để đến xem sự nhộn nhịp tưng bừng của Dubai, chứ không phải để xem các dòng tu ở Iran. Cái thiểu số muốn thánh chiến là có thật, nhưng họ chỉ hoạt động trong khuôn khổ những tầng lớp xã hội, nơi các hành vi ấy rất bất bình thường và không rõ ràng.

Ở phương Tây, ảnh hưởng của khủng bố tan dần với mỗi đợt tấn công. Sau ngày 11 tháng 9, thị trường tài chính đã sụp đổ và không thể trở lại với mức của ngày 10 tháng 9 trong suốt hai tháng. Đến vụ nổ bom ở Madrid năm 2004, thị trường Tây Ban Nha chỉ cần một tháng để phục hồi lại. Sau cuộc đánh bom ở London tháng Bảy năm 2005, chứng khoán Anh quốc đã trở lại mức giá trước sự cố ấy chỉ trong hai mươi bốn giờ. Bức tranh kinh tế rộng lớn hơn cũng tương tự. Sau 9/11, Hoa Kỳ mất hàng trăm tỉ mỹ kim trong các hoạt động kinh tế. Trong cuộc tấn công lớn thứ nhì, vụ đánh bom ở hộp đêm Bali năm 2002, đã tạo ra một ảnh hưởng tương tự trong kinh tế Indonesia, bằng sự vắng bóng các du khách cùng các đầu tư, giao thương bị khô cạn trong nhiều tháng. Một năm sau, sau một cuộc đánh bom khác ở Indonesia, lần này là ở khách sạn Marriott tại Jarkata, thị trường chỉ suy giảm ngắn hạn, và kinh tế Indonesia chỉ bị tổn hại nhỏ. Các cuộc đánh bom ở Morocco và Turkey năm 2003 cũng chỉ gây hậu quả nhỏ tương tự. Các cuộc đánh bom ở Spain, năm 2004 và ở Anh năm 2005 không hề làm ảnh hưởng gì đến kinh tế phát triển.

Dĩ nhiên, mọi sự sẽ hết sức là khác đi nếu như một tổ chức khủng bố lớn có được các vũ khí hủy diệt hàng loạt. Một cuộc tấn công bằng vũ khí hạt nhân sẽ tạo nên hoảng loạn rộng khắp và một sự đổ vỡ lớn. Nhưng những vũ khí như thế thật khó có thể thủ đắc được hơn là nhiều người tưởng, và một nỗ lực kiên trì hơn từ Washington sẽ khiến cho điều này trở nên gần như không thể nào đạt đến được ở bất cứ số lượng nào. Khủng bố bằng hóa học có lẽ là đáng lo lắng nhất bởi vì sự dễ dàng tìm đến các tố chất sinh học, nhưng phân tán, di chuyển các tố chất này một cách hiệu quả thì khó khăn và có thể làm nản lòng những nhóm khủng bố. Và, không một giải thích nào ở đây nhằm đưa đến nhận định là các hành động chống khủng bố là không cần thiết, nhưng để muốn nói rằng, các chính sách cẩn trọng hơn, khôn ngoan hơn, tính toán hơn sẽ đưa đến thành công nhiều hơn.

Từ một số cách hiểu thầm lặng, công chúng đã nhận thức được rằng chính sách tốt nhất chống lại khủng bố là sự linh động. Chủ nghĩa khủng bố là một thứ bất bình thường trong ý nghĩa nó mà một chiến thuật quân sự được xác định chính ngay từ phản ứng đáp trả nơi những người mục kích. Nếu chúng ta không bị khủng hoảng thì khủng bố không có kết quả gì hết. Và, từ New York và London đến Mumbai và Jarkarta, công chúng đã học hiểu được sự thật này từ thực tiễn và cứ tiếp tục đời sống của mình dù là một đời sống giữa bất ổn. Một kịch bản có thể xảy ra nhất – hàng loạt những ba lô sau lưng hay những chiếc xe chất đầy bom ở Hoa Kỳ - có thể là một sự kinh hoàng, nhưng trong một vài tuần lễ sau, các ảnh hưởng của chúng sẽ phai nhạt dần và những hậu quả lâu dài có thể chỉ là tối thiểu. Giữa những xã hội phức tạp. rộng lớn và khỏe mạnh – nền kinh tế Mỹ hiện nay là 13 trillion – các vấn nạn, khó khăn ở một vài nơi chốn không dễ lan tỏa đến. Có lẽ nền văn minh hiện đại vững chắc hơn là như chúng ta từng nghi ngờ.

Các thử thách từ những quốc gia ngỗ nghịch cũng là thực, nhưng chúng ta nên nhìn chúng trong một tổng thể. GDP của Iran bằng 1/68 của Hoa Kỳ, chi tiêu quân sự của họ bằng 1/110 của Ngũ Giác Ðài. Nếu bây giờ là năm 1938, như nhiều người bảo thủ từng tranh cãi, thì Iran chỉ là đáng Romania chứ không phải là Đức Quốc. Bắc Hàn còn khánh tận và bất bình thường hơn thế. Mối đe dọa chính của Bắc Hàn – cái mà khiến chính phủ Trung Quốc phải mất ngủ - là nó sẽ bùng nổ và những người tị nạn sẽ tràn ngập khu vực. Đấy là sức mạnh hay sao? Những quốc gia này có thể đem đến các khó khăn trong khu vực chung quanh láng giềng của họ và cần phải được kiểm tra và kiềm chế, nhưng chúng ta phải nhớ rằng họ chỉ là một phần tương đối nhỏ trong một thế giới rộng lớn hơn. Hãy nhìn vào khu vực Châu Mỹ Latin. Venezuela là một quốc gia gây rối, những điều ấy có ý nghĩa gì? Chiều hướng lớn trong vùng - được minh họa bằng chính sách của các nước lớn như Brazil, Mexico và Chile – đã hướng đến các quản lý, giao thương thị trường tự do, và định hướng nhắm đến thế giới bên ngoài. Và chính khuynh hướng ấy là tiêu biểu cho chiều hướng của lịch sử chứ không phải những lời cường điệu rỗng tuếch của Hugo Chavez.

Cuộc Bành Trướng Vĩ đại

Sự bình lặng tương đối của ngày hôm nay có nền tảng từ một cấu trúc sâu vững. Trên khắp thế giới, các nền kinh tế đang lướt thắng lãnh vực chính trị. Cái mà các nhà phân tích ở Wall Street gọi là “rủi ro chính trị” thực không hề hiện hữu. Chiến tranh, các cuộc đảo chính và chủ nghĩa khủng bố đã mất đi rất nhiều khả năng để có thể làm trật bánh xe kinh tế về lâu dài. Một lần nữa xin nhắc lại rằng, tình hình này có thể không tồn tại mãi (và lịch sử cũng đã cho thấy như thế), nhưng đã chính là hoàn cảnh mà thế giới chúng ta đã được sống (yên bình) tối thiểu là qua một thập niên.

Đây không phải là lần đầu tiên mà những xáo động chính trị và phát triển kinh tế đến gần được với nhau. Có hai giai đoạn trước đây tương tự như tình hình hiện nay của chúng ta: thời kỳ phát triển nở rộ mở màn của thế kỷ vào những năm 1890 và 1900, và thời kỳ bùng phát sau chiến tranh vào những năm 1950 và đầu năm 1960. Trong cả hai thời kỳ này, nền chính trị thì xáo trộn nhưng kinh tế lại phát triển mạnh. Hai giai đoạn này có chung một đặc điểm: những quốc gia lớn gia nhập vào thị trường kinh tế thế giới, làm lớn rộng và thay đổi dạng hình của thị trường. Chiếc bánh đã phình to lớn ra đến mức lấn át tất cả những lệch lạc thường ngày.

Vào cuối thế kỷ mười chín, đầu thế kỷ hai mươi, những nỗi lo sợ về một cuộc chiến tranh giữa các thế lực lớn ở Âu châu thì thường trực, lại bị khích động bởi những khủng hoảng ở vùng Balkans, bắc Phi và các điểm nóng khác. Nhưng kinh tế thế giới vẫn bùng phát bất chấp các cuộc chạy đua vũ trang và các điểm nóng báo động. Đây là thời đại của các cuộc chuyển dịch vốn đầu tư hết sức vĩ đại, từ Âu châu đến Tân thế giới. Khi Đức Quốc và Hoa Kỳ nhanh chóng kỹ nghệ hóa, họ trở thành hai trong ba nền kinh tế lớn nhất thế giới.

Những năm 1950 và đầu 1960, thường được xem như thời kỳ tĩnh lặng, nhưng thực tế vẫn có những lúc căng thẳng – xác định bởi những năm đầu của cuộc chiến tranh lạnh, các mối lo sợ về sự đối đầu giữa Liên Xô /Trung Quốc và cuộc chiến tranh ở Triều Tiên. Có những khủng hoảng giai đoạn – như ở eo biển Đài Loan, ở Congo, kênh đào Suez, vịnh con Heo, ở Việt nam - khiến đôi lúc đã lan rộng thành chiến tranh. Tuy nhiên, các nền kinh tế kỹ nghệ vẫn xuôi chèo mát mái vững vàng. Đây chính là thời kỳ vĩ đại thứ nhì của chuyển dịch tư bản, với tiền bạc của Hoa Kỳ rót vào Âu châu và Đông Á. Hậu quả là, Tây Âu đã tự tái thiết được từ đống tro tàn của thế chiến thứ Hai và Nhật Bản, một quốc gia đầu tiên không thuộc về Âu châu đã kỹ nghệ hóa thành công, tăng trưởng hơn 9 phần trăm một năm trong suốt hai mươi ba năm liền.

Trong cả hai giai đoạn, những "khủng hoảng thặng dư về cung cấp" (positive supply shock) này - một thuật ngữ kinh tế để chỉ sự gia tăng sản lượng trong một thời gian dài - tạo nên tình trạng tăng trưởng bền bỉ, kéo dài, khiến giá cả, lãi suất tụt thấp và sự gia tăng sản lượng trong ngày nơi các thị trường mới nổi (Đức, Hoa Kỳ và Nhật Bản). Ở khúc quanh của thế kỷ hai mươi, bất chấp sức nhu cầu tăng trưởng mạnh, giá lúa mì đã tụt giảm từ 20 đến 35 phần trăm ở Âu châu, nhờ các kho thóc ở Mỹ (tương tự, giá hàng hóa kỹ nghệ ngày nay tụt giảm bởi vì chi phí hạ ở Á châu, mặc dù nhu cầu vẫn tăng nhanh). Trong cả hai thời kỳ, những "tay chơi" mới tăng trưởng được nhờ xuất khẩu, nhưng ngay cả nhập khẩu cũng phát triển nữa. Giữa 1860 và 1914, nhập khẩu của Hoa Kỳ tăng gấp năm lần, trong khi xuất khẩu tăng đến bảy lần.

Chúng ta đang sống qua cuộc bành trướng lần thứ ba của nền kinh tế toàn cầu và là cuộc bành trướng lớn nhất từ trước đến nay. Trải qua hai thập niên qua, vào khoảng hai tỉ con người đã gia nhập vào các thị trường giao thương buôn bán - một thế giới vốn cho đến gần đây đã là một tỉnh thành của một câu lạc bộ nhỏ của các quốc gia Tây phương. Cuộc bành trướng đã được thúc đẩy bởi sự chuyển dịch của tư bản Tây phương vào Á châu và trải ra khắp thế giới. Kết quả, giữa những năm 1990 và 2007, kinh tế toàn cầu đã phát triển từ 22.8 trillion lên đến 55.3 trillion, giao thương quốc tế tăng 133 phần trăm. Các thị trường được gọi là thị trường mới nổi đã chiếm lĩnh hơn nửa sức tăng trưởng toàn cầu, và hiện nay họ được đánh giá như hơn 40 phần trăm của kinh tế toàn cầu căn cứ vào việc mua power parity (hoặc cao hơn 30 phần trăm mức giá chuyển đổi của thị trường). Sức phát triển không ngừng của những thành phần mới đang được thêm sức bởi thị trường của chính họ, không phải chỉ từ việc xuất cảng sang phương Tây - có nghĩa rằng đấy không phải là một hiện tượng chóng tàn.

Một số người đã xem nhẹ chiều hướng ấy bằng cách chú ý vào sự nổi dậy của Nhật Bản trong những năm 1980, khi người phương Tây lo sợ rằng người Nhật sẽ đến thống trị kinh tế thế giới. Điều ấy hoá ra là một sự lo lắng hão huyền. Nhật Bản thực ra là đã đi vào cuộc đình trệ mười lăm năm. Nhưng phép loại suy đã đánh lừa. Năm 1985, Nhật Bản đã là nền kinh tế lớn thứ nhì trên thế giới. Nhiều giới chuyên gia tin rằng Nhật Bản đã ở trên con đường thay thế được Hoa Kỳ để trở thành nền kinh tế lớn nhất thế giới, nhưng vì kinh tế của Nhật, các định chế và nền chính trị vẫn chưa hoàn toàn hiện đại hóa cho nên đất nước này đã không thực hiện được cú nhảy vọt cuối cùng. Ngược lại, Trung Quốc, vẫn còn là một quốc gia nghèo. Có thu nhập đầu người GDP chỉ $2500. Trung Quốc chắc chắn sẽ phải đối đầu với nhiều khó khăn trong khi (và cho đến) lúc trở thành một quốc gia hạng nhất thế giới. Nhưng, đối với một tương lai có thể nhìn thấy trước được, Trung Quốc chắc chắn sẽ lo liệu được để tăng trưởng nền kinh tế của họ gấp đôi chỉ bằng cách cứ tiếp tục sản xuất đồ chơi, quần áo và điện thoại di động. Ấn Ðộ, tuy khởi đầu ở mức thu nhập thấp hơn, cũng sẽ có khả năng phát triển trong vài thập niên trước khi chạm phải những thử thách khiến đã từng làm đình trệ Nhật Bản. Ngay cả nếu như Trung Quốc và Ấn Ðộ không bao giờ có thể vượt đến được tình trạng thu nhập lợi tức trung bình, họ cũng hầu như trở nên những nền kinh tế lớn thứ nhì và thứ ba trên toàn thế giới cho gần cả thế kỷ thứ hai mươi mốt.

Ấy là một sự tình cờ của lịch sử mà trong vài thế kỷ vừa qua, các quốc gia giàu nhất trên thế giới lại là những quốc gia có dân số thấp. Hoa Kỳ là nước có dân số cao nhất trong số đó, khiến đấy là lý do vì sao Hoa Kỳ đã là quân bài chủ. Nhưng sự thống trị ấy đã có thể có được chỉ trong một thế giới mà những quốc gia thực sự lớn rộng bị sa lầy trong sự nghèo khó, không thể hay không sẵn sàng đi theo được các chính sách có thể giúp họ phát triển. Hiện nay các nhà khổng lồ đang chuyển động, và tự nhiên, do có được sức vóc to lớn, họ sẽ có được những dấu ấn lớn mạnh trên bản đồ. Ngay cả nếu như một người trung bình ở những đất nước này vẫn còn như nghèo nàn so với các tiêu chuẩn Tây phương, thì tổng tài sản thịnh vượng của họ vẫn là hết sức lớn. Hay đặt vào các giải thích toán học: bất cứ con số nào, dù nhỏ đến đâu, sẽ là một con số lớn khi được nhân lên với 2.5 tỉ (ước lượng dân số của Trung Quốc và Ấn Ðộ cộng lại). Chính là hai nhân tố này - một khởi điểm nhỏ thấp và một dân số lớn lao - đã bảo đảm cho độ lớn và tính chất lâu dài của sự dịch chuyển quyền lực toàn cầu.

Ba lực lượng: Chính trị, Kinh tế và Kỹ thuật

Làm thế nào mà tất cả những điều này đã xảy ra? Để trả lời câu hỏi này, chúng ta phải trở lui một vài thập niên, đến những năm 1970, và nhớ lại phương cách mà hầu hết các quốc gia đã vận hành kinh tế của họ vào thời điểm ấy. Tôi còn nhớ không khí ấy một cách rõ ràng bởi vì tôi đã lớn lên ở Ấn Ðộ, một đất nước thực sự đã không nghĩ là mình đã có thể chơi cùng sân với Hoa Kỳ. Trong suy nghĩ của các bậc thức giả và chính sách của Ấn Ðộ, đã có một kiểu mẫu tư bản chủ nghĩa do Mỹ dẫn đạo ở một bên và một kiểu mẫu xã hội chủ nghĩa do Liên Xô dẫn đạo ở đầu bên kia. New Delhi đã cố gắng để mở được một con đường trung dung giữa hai cực ấy. Trong bối cảnh này, Ấn Ðộ không phải là một sự khác thường. Brazil, Egypt và Indonesia - và thực tế là cả phần lớn của thế giới - cũng ở trên lối trung dung này. Nhưng rồi lối đi này đã trở thành một lối không đưa đến đâu, và điều này đã trở nên rõ ràng với nhiều dân chúng ở các xứ sở này vào cuối những năm 1970. Khi họ bị dậm chân tại chỗ thì Nhật Bản và một số nền kinh tế Đông Á đã lập thành một tiến trình tựa như chủ nghĩa tư bản, đã thành công hiển hiện trước mắt, và do đó, các bài học bắt đầu thấm sâu vào.

Tuy nhiên cơn động đất từng khuấy động tất cả chính là sự xụp đổ của Liên Bang Xô Viết vào cuối những năm 1980. Với các kế hoạch trung ương hoàn toàn mất uy tín và một đầu kia của trục cân bằng chính trị bị tàn rụi, tất cả cân nhắc đã dịch đổi. Thình lình, chỉ còn có một lối tiếp cận căn bản để tổ chức kinh tế của một đất nước. Đấy là lý do vì sao Alan Greenspan đã mô tả sự xụp đổ của Xô Viết như một biến cố kinh tế hạt giống của thời đại chúng ta. Kể từ đấy, bất chấp tất cả những sự phiền phức về các kế hoạch giải phóng, thị trường hóa, một phương hướng chung đã chưa được thay đổi. Như Margaret Thatcher từng đưa ra nhận xét nổi tiếng là "không còn lựa chọn nào khác" trong những năm bà đang tái sinh nền kinh tế Anh Quốc.

Sự thay đổi ý thức hệ trong kinh tế đã từng được xây dựng lên trong những năm 1970 và 1980, ngay cả trước sự xụp đổ của bức tường Bá Linh. Các kiến thức kinh tế truyền thống, hiện thân trong những tổ chức như Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế và Ngân Hàng Thế Giới đã trở nên quá khó khăn cho những đất nước có con đường gần giống xã hội chủ nghĩa như Ấn Ðộ. Những chuyên viên thông thái như Jeffrey Sachs đã đi khắp thế giới để thuyết phục các chính phủ tự do hóa, tự do hóa và tự do hóa nền kinh tế. Sinh viên tốt nghiệp các chương trình kinh tế của Tây phương, như nhóm "Chicago boys" của Chile đã về nước triển khai những chính sách thị trường thân thiện. Một số quốc gia đang phát triển từng lo lắng về việc trở thành loại chủ nghĩa tư bản tham lam, Sach nhớ lại đã từng giải thích cho họ hiểu rằng họ cần phải cân nhắc hết sức kỹ càng để hoặc trở nên những nước như Thụy Điển, Pháp hay Hoa Kỳ. Nhưng, ông cũng đã nhớ lại thêm, là họ đã không phải lo nhiều đến việc quyết định lựa chọn: bởi vì hầu hết các nước ấy đều gần với Liên Xô hơn.

Lực lượng tài chính tăng cường sức mạnh cho thời đại mới là sự di chuyển đồng vốn tự do. Điều này cũng là một hiện tượng tương đối mới xảy ra. Thời kỳ hậu thế chiến thứ hai là một thời kỳ của trao đổi hối đoái không thay đổi. Đa số các nước Tây phương, bao gồm Pháp và Ý, có những khống chế đồng vốn giới hạn đến sự di chuyển đồng tiền ra vào biên giới. Giá trị đồng Mỹ kim trụ ở vàng. Nhưng khi giao thưong thế giới phát triển, các tỉ xuất cố định tạo nên các ma sát, các sự thiếu hiệu quả khiến ngăn cản việc đưa đồng vốn tư bản vào các sử dụng tối ưu. Hầu hết các nước Tây phương đã tháo gỡ những khống chế trong các năm 1970 và 1980. Kết quả là, một lượng cung ứng tư bản tăng trưởng không ngừng khiến có thể di chuyển tự do từ nơi này đến nơi khác. Ngày nay, khi nghĩ đến toàn cầu hóa, người ta vẫn còn nghĩ về nó trong ý nghĩa của những lượng tiền khổng lồ - lượng tiền bạc trao đổi qua lại là vào khoảng 2 trillion mỗi ngày - dốc chảy quanh thế giới, tạo nên phần thưởng cho một số nước này nhưng lại là hình phạt cho một số nước khác. Đấy chính là cơ chế có tính thiên đàng của toàn cầu hóa cho cuộc đấu trường.

Song song với sự di chuyển tư bản tự do còn đi theo một cuộc cách mạng về chính sách: sự lan rộng của các ngân hàng trung ương độc lập và sự chế ngự lạm phát. Siêu lạm phát là cơn bệnh kinh tế tệ hại nhất khiến có thể làm sụp đổ một nhà nước. Lạm phát siêu có thể xoá sạch giá trị đồng tiền, của cải tiết kiệm, tài sản và do vậy cả những công lao làm việc. Lạm phát siêu còn tệ hại hơn cả một cuộc suy thái nặng nề. Nó cướp đi tất cả những gì bạn đang dành dụm trong hiện tại, trong khi suy thoái chỉ cướp mất những gì bạn có thể có được (tiêu chuẩn sống cao hơn nếu như kinh tế phát triển). Đó là nguyên nhân vì sao lạm phát siêu thường làm đổ nhào các chính phủ hặc đưa đến cách mạng. Chẳng phải cuộc Đại suy thoái đã đưa Nazis lên ngôi mà chính là lạm phát siêu đã tiêu hủy thành phần trung lưu bằng cách khiến cho tài sản dành dụm của họ giá trị ít đi.

Hiếm người có thể nhìn lại một cuộc chiến tranh vốn đã thắng lợi một cách quá dứt khoát. Vào cuối những năm 1980, hàng chục những quốc gia quan trọng và lớn đã bị vây chặt bởi lạm phát siêu. Ở Argentina, mức lạm phát siêu là 3.500 phần trăm, Brazil là 1.200 phần trăm và ở Peru là 2.500 phần trăm. Trong những năm 1990, lần lượt hết nước này đến nước khác trong những quốc gia đang phát triển này di chuyển một cách lễ phép đến các nguyên tắc kỷ cương của tiền tệ và tài chính. Một số quốc gia chấp nhận nhu cầu thả nổi đồng tiền của mình; một số khác liên kết tiền tệ của mình với đồng Mỹ kim và Euro. Kết quả là, ngày hôm nay chỉ có mười hai quốc gia có mức lạm phát hơn 15 phần trăm, và hầu hết những nước này là những quốc gia thất bại như Haiti, Burma và Zimbabue. Tiêu chuẩn rõ rệt của tỉ lệ lạm phát thấp này là quan yếu đối với ổn định chính trị và cơ đồ kinh tế của các nước đang nổi lên.

(Còn tiếp)



i Theo Kevin H. O'Rpurke, "The European Grain Invasion, 1870-1913", Journal of Economic History 57 No. 4 (Dec., 1997): tr. 775-801.

ii Cho một cuộc bàn luận hay và có thể tìm đến được về "possitive supply shock" của cuối thế kỷ mười chín hãy đọc Gary Saxonhouse, "The Intergration of Giants inti the Global Economy", AEI: Asian outlook, no. 1 (31 Tháng Một , 2006).



Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét