Thứ Tư, 21 tháng 7, 2010

Mấy hiểu lầm về Nho giáo Tam Cương với Ngũ Luân (2)

Quyền hành do Phân Công trong Xã hội

Mạnh Tử đã đặt nhiều câu hỏi với Trần Tương về Hứa Hành, để nhấn mạnh là trong xã hội thế nào cũng phải có sự phân công: Ông giải thích là mỗi người không thể tự mình vừa làm ruộng, vừa dệt vải, tự làm lấy mũ đội, cũng không thể tự mình làm các dụng cụ bằng kim loại và đất nung cho mình dùng được. Ông nói tiếp đến sự phân công giữa người “lao tâm” và “lao lực.” Từ đó, ông dẫn tới sự phân công giữa người làm công việc cai trị, giáo hóa, so với những người dân bị trị (Hoặc lao tâm, hoặc lao lực. Lao tâm giả trị nhân; lao lực giả trị ư nhân). Cho nên, ông giải thích, vua Nghiêu phải đi tìm ông Thuấn để giao cho việc cai trị dân giúp mình, rồi nhường ngôi vua cho Thuấn; ông Thuấn lại giao cho ông Ích trách nhiệm điều khiển dân đốt rừng trồng rẫy, giao việc điều khiển công tác khai sông tránh lụt lội cho ông Vũ; rồi sau đó Thuấn nhường ngôi cho Vũ. Mạnh Tử viết: “Vua Nghiêu, vua Thuấn cai trị thiên hạ, chẳng phải đã dùng hết tâm lực của họ hay sao? Cho nên không thể dùng vào việc cầy ruộng được!” (Nghiêu Thuấn chi trị thiên hạ, khởi vô sở dụng kỳ tâm tai? Diệc bất dụng canh nhĩ!)


Vấn đề chính trị từ cổ tới kim chỉ nằm trong câu hỏi: Tại sao người này nói khiến người khác phải nghe theo? Khi chúng ta biết quan niệm Ngũ Luân được trình bầy trong khung cảnh bàn về sự phân công trong xã hội, thì sẽ hiểu rằng Mạnh Tử nhắc đến nhân luân trong lúc bàn về nguồn gốc chính quyền: Cái gì biện minh cho quyền hành của ông vua, cái gì là căn bản để người này có thể nói mà người khác phải làm. Mạnh Tử giải thích quyền hành của ông vua, Nghiêu Thuấn, là do sự phân công trong xã hội. Quyền hành không phải do một vị thần linh nào ban cho ông vua cả. Hai ngàn năm sau, những triết gia tây phương như Hobbes, Rousseau đề cập tới quan niệm “hợp đồng xã hội” cũng chỉ nói rõ ràng, phân minh đến như thế mà thôi.

Cho nên năm điều Nhân Luân mà Mạnh Tử nêu lên có tính cách những hiện tượng khách quan như khi các nhà xã hội học tìm hiểu và mô tả; chứ không phải mang tính chất quy phạm, không nói đến thứ bậc cao hay thấp, ai trên ai dưới, ai có quyền đối với ai. Đặc tính của năm mối quan hệ Nhân Luân là gì? Đó là Thân, Nghĩa, Biệt, Tự, và Tín (Phụ tử hữu Thân, Quân thần hữu Nghĩa, Phu thê hữu Biệt, Trưởng ấu hữu Tự, Bằng hữu hữu Tín).

Mạnh Tử không hề nói người làm bầy tôi phải vâng lệnh người làm vua, mà chỉ nói giữa hai bên Vua và Tôi có “Nghĩa.” Nghĩa, tức là những bổn phận, các bổn phận dựa trên lẽ phải, do lý trí mà thấy, chứ không dựa trên uy quyền. Theo mạch văn của câu “Quân thần hữu Nghĩa” thì cả hai bên, vua và bầy tôi đều liên hệ với nhau trên căn bản Nghĩa. Bổn phận của mỗi người đối với người kia có tính cách hỗ tương chứ không là quan hệ trên dưới, một chiều. Bầy tôi có nghĩa thì vua cũng phải có nghĩa, cũng giống như giữa bằng hữu thì hai bên đều phải giữ chữ tín. Sau này người ta hay bầy ra thuyết Tam Cương đề cao quyền của vua, hoặc vì thiện chí muốn giữ trật tự xã hội, hoặc chỉ vì muốn xiểm nịnh các ông vua.

Cũng vậy, Mạnh Tử không nói con lúc nào cũng phải vâng lời cha, mà chỉ nhấn mạnh giữa cha và con có tình thân yêu. Giữa anh và em có thứ tự trước sau; giữa bạn bè có lòng tín nhiệm; trong đạo vợ chồng có sự phân biệt (nam nữ) để phân chia công việc gia đình, giữ trật tự xã hội qua định chế hôn nhân. Ngay câu “Phu thê hữu biệt” không hề nói là người chồng có quyền tuyệt đối trên người vợ.


Cương và Kỷ

Trở lại những điều Ban Cố viết về Tam Cương trong Bạch Hổ Thông. Sau khi hiểu Mạnh Tử, chúng ta cũng có thể thấy Ban Cố nhìn các quan hệ Tam Cương với con mắt quan sát khách quan chứ không mang tính cách mô phạm. Khi Ban Cố viết về Tam Cương, Lục Kỷ, trước hết ông trình bầy như đó là những tương quan xã hội. Trong câu đầu của đoạn 4, quyển 7, Ban Cố giải thích Cương và Kỷ, từ câu trong Kinh Thi, “Vỉ vỉ ngã vương, Cương Kỷ tứ phương” Vua ta cố gắng, bốn phương có Kỷ Cương (Có nơi chép là Vỉ vỉ Văn Vương). Sau Ba Cương gồm các mối quan hệ chính của con người, Ban Cố viết về Sáu Kỷ, bàn những quan hệ phụ, nhỏ hơn. Đó là những tương quan đối với anh em, với người trong họ, các cậu bên mẹ, với sư trưởng, bằng hữu.

Ban Cố giải thích căn bản của các mối tương quan đó. Chẳng hạn đối với các cậu thì có Nghĩa, trong họ thì có Thứ Tự, anh em có tình Thân, sư trưởng có lòng Tôn trọng, bằng hữu thì dựa trên mối quen biết lâu ngày. Mối quan hệ lớn gọi là cương, quan hệ nhỏ gọi là kỷ (đại giả vị cương, tiểu giả vị kỷ; 大者為綱,小者為紀).Đọc lại đoạn văn này chúng ta thấy Ban Cố đóng vai một nhà quan sát, tìm hiểu và xếp loại các quan hệ xã hội nhiều hơn là một nhà mô phạm truyền bá một lý thuyết đạo đức hoặc chính trị với mục đích đề cao thứ bậc trên dưới.

Tại sao gọi là Cương, Kỷ? Ban Cố đặt câu hỏi. Và ông trả lời: “Cương mở những quan hệ xã hội rộng hơn; Kỷ giữ cho xã hội theo đúng lý lẽ (có trật tự)” (Cương giả, trương dã, Kỷ giả, lý dã 綱者,張也;紀者,理也). Ông giải thích tiếp: “Ngũ thường là tính tự nhiên mọi người đều có. Ai cũng có tấm lòng yêu người thân. Vì thế Cương và Kỷ giáo hóa xã hội giống như cương kết nối vởi kỷ.” (人皆懷五常之性,有親愛之心,
是以綱紀為化)

Cho nên khi Ban Cố viết “Quân vi thần cương, phụ vi tử cương, phu vi phụ cương” (君為臣綱, 父為子網,2夫為妻綱)thì câu này có thể hiểu là: Những mối quan hệ giữa vua với tôi, cha với con, chồng và vợ, là những sợi dọc, sợi dây chính (cương); dựa trên các sợi dọc đó người bầy tôi, người con, người vợ sẽ đan thêm những sợi dây ngang; dệt thành tấm lưới (hoặc tấm vải) của các quan hệ xã hội. Theo nghĩa đó, vua, cha, chồng dù có thứ bậc và ở địa vị cao hơn bầy tôi, con, và vợ; nhưng không nhất thiết là có quyền hành tuyệt đối khiến người dưới phải phục tòng người trên.

Cũng như vậy, căn cứ vào những lời Mạnh Tử nói về Ngũ Luân trong khung cảnh ông bàn vấn đề phân công trong xã hội, thì chúng ta thấy ông không hề nói tới bổn phận tuyệt đối của người con đối với cha, hay bầy tôi đối với vua.

Hiểu thiên lệch hai chữ Trung Quân

Các nhà nho sau này “nhìn thiên lệch” mỗi khi nói đến Vua thì phải nói ngay đến chữ Trung, nói đến cha là phải nhắc đến đạo Hiếu. Nhưng trong sách Mạnh Tử ông không nhắc đến hai bổn phận Trung và Hiếu nhiều như vậy. Có phải vì ông đã quên và bỏ sót hay không? Có thể trả lời là không, vì cuốn sách Mạnh Từ được soạn ra rất thận trọng. Không nhấn mạnh đến Trung, Hiếu bất cứ lúc nào, bởi vì lối suy nghĩ tự nhiên của Mạnh Tử vốn không nhấn mạnh về các vấn đề đó. Chúng ta có thể tìm lại trong những lời nói của Khổng Tử và Mạnh Tử để thấy quan điểm Nho giáo không chủ trương những bổn phận của bầy tôi hay của con là tuyệt đối, vô điều kiện. Có thể thấy những bổn phận xã hội, đặc biệt là giữa bầy tôi đối với ông vua, đều có tính cách hỗ tương hai chiều cả.

Hãy lấy một thí dụ trong Luận Ngữ, thiên 12 (Nhan Uyên), câu thứ 11, Tề Cảnh Công hỏi Khổng Tử về chính trị Khổng Tử đáp: “Quân quân, thần thần, phụ phụ, tử tử.” Trong mỗi cặp trên, chữ thứ nhất là danh từ, chữ thứ hai là động từ: Vua làm đúng việc ông vua; tôi làm đúng việc bầy tôi; vân vân. (Luận Ngữ, 12, 11: 齊景公問政於孔子。孔子對曰:
“君君,臣臣,父父,子子;) Nghĩa là Vua làm hết đạo, hết bổn phận của vua, và bầy tôi làm hết đạo bề tôi; giữa cha và con, vợ và chồng cũng như vậy. Trong câu nói này chúng ta thấy Khổng Tử nói tới những trách nhiệm hỗ tương, trong hai vế mỗi bên phải làm hết bổn phận của mình, chứ không phải chỉ bên dưới có bổn phận còn bên trên thì không.

Ngoài ra, câu trên còn hàm ý các bổn phận trên đều có điều kiện. Thí dụ trong quan hệ giữa vua với bầy tôi, một bên sẽ làm hết bổn phận (quân quân) nếu bên kia làm đủ bổn phận của mình (thần thần); hoặc ngược lại. Các nhà Nho trong 800 năm sau cùng trước thế kỷ 20 đã không chịu hiểu tính chất hỗ tương và hai chiều, vì đời sống và nếp suy nghĩ của họ bị ép trong chế độ quân quyền.

Chính Pháp gia mới đề cao quyền hành tuyệt đối của ông vua; một chủ trương rất thích hợp cho những chế độ kiểu Tần Thủy Hoàng. Dưới chế độ phong kiến và quân chủ ở Trung Quốc, nhiều nhà Nho cũng biết theo đúng tư tưởng nguyên thủy của Khổng, Mạnh; họ không mù quáng trung thành với các vị hoàng đế; nhiều lúc đứng lên phản đối khi ông vua làm sai; không khác gì Phan Châu Trinh lên án vua Khải Định ở nước ta trong thế kỷ trước. Trong thời Ngũ Đại (907 – 960) ở Trung Quốc, một nhà Nho như Phùng Đạo, người đầu tiên trông coi việc ấn hành Tứ thư, Ngũ kinh (năm 932), đã làm những chức ngang với tể tướng cho 10 ông vua thuộc 5 triều đại khác nhau. Mặc dù Phùng Đạo sau này bị phần lớn các nhà nho chỉ trích do ảnh hưởng của Âu Dương Tu (1007 – 1072) và Tư Mã Quang (1019 – 1086), nhưng trước và sau họ cũng có nhiều sử gia khen ngợi ông; điều này cho thấy trước đời Tống (960 – 1279) quan niệm về “trung với vua” được hiểu khác với đương lối tôn quân quyền sau này.

Ai cũng tôn trọng đức trung tín, là những đức tính được Nho giáo đề cao. Nhưng nếu hiểu đúng quan niệm của Khổng Mạnh thì người ta thấy Nho giáo từ đầu vẫn có tinh thần tôn trọng người dân và coi nhẹ người cầm quyền, hơn các thế hệ Nho gia từ thế kỷ 11 về sau. Tinh thần “Dân vi quý” có thể là mầm mống để xây dựng xã hội công dân và thể chế tự do dân chủ trong thời đại bây giờ. Trong bài trên chúng tôi chỉ nêu lên những hiểu lầm về khái niệm Tam Cương cần được xóa bỏ; sẽ tiếp tục bàn thêm về những vấn đề khác để thấy rõ quan niệm của Khổng Tử và Mạnh Tử về tương quan giữa vua, người nắm quyền, và người dân như thế nào.

Đỗ Quý Toàn


1   2

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét