Thứ Bảy, 24 tháng 7, 2010

Lựa chọn cách tổ chức xã hội

NGÔ NHÂN DỤNG

Những giá trị như tự do dân chủ có nhiều cách thể hiện khác nhau; ở mỗi quốc gia lại khác. Khái niệm Dân Chủ tương đối đơn giản hơn. Khi nào người dân được tham dự vào các quyết định chung của quốc gia, những quyết định ảnh hưởng tới đời sống tất cả mọi người, thì khi đó chúng ta có Dân Chủ. Tham dự theo cách nào, ai được quyền thay mặt người dân mà quyết định, chắc các nhà tranh đấu đã hình dung đầy đủ. Nhưng Tự Do là một vấn đề phức tạp hơn, cần xác định rõ hơn.

Không một quốc gia nào, kể cả nước Mỹ, coi tự do là một giá trị tuyệt đối cả. Mỗi quyền tự do đều đi kèm với những trách nhiệm tương ứng. Quyền tự do này trở thành giới hạn của quyền tự do khác, quyền của người này trở thành giới hạn quyền của người khác. Chưa hết, có những giá trị mà loài người tôn kính, cũng có thể đối nghịch, trở thành giới hạn của các quyền tự do. Nhiều khi chúng ta thấy muốn xã hội có bình đẳng thì phải bớt tự do. Tự do có khi xung khắc với Công lý. Bớt tự do bao nhiêu, để được bình đẳng như thế nào? Có rất nhiều lựa chọn căn bản được cái nọ mất cái kia. Nhân loại văn minh đều biết vậy, người ta bầy ra rất nhiều phương pháp lựa chọn. Cách tổ chức cuộc sống chung trong xã hội, ở mỗi quốc gia, tùy thuộc quan niệm sống mà người dân lựa chọn. Văn hóa phong tục khác nhau, lịch sử khác nhau, cách lựa chọn cũng khác nhau. Không có một cái mẫu nào là tốt nhất cho tất cả loài người. Nhưng một điều chúng ta cần xác định, là nếu không có dân chủ tự do thì người dân không thể lựa chọn. Chính vì vậy, việc tranh đấu đòi những quyền tự do cơ bản là việc đầu tiên người Việt Nam phải thực hiện bằng được. Chúng ta phải bàn về những lựa chọn chung, nhưng nếu không có các quyền tự do cơ bản thì không ai được thảo luận cả.

Ba nước chọn chính phủ

Trong tháng Chín năm 2005 có ba nước bầu lại chính phủ. Bắt đầu là Nhật Bản, dân chúng nhiều người vẫn tin tưởng ông thủ tướng Junichiro Koizumi. Ông được dân tái bổ nhiệm để tiếp tục việc cải tổ cơ cấu tài chánh nước Nhật; đảng Tự Do Dân Chủ thắng với đa số lớn trong Hạ viện. Một tuần sau đến lượt dân Đức đi bầu. Ở đó thì dân chúng phân vân, lưỡng lự. Hai đảng lớn nhất đều không đủ số ghế trong Hạ viện để lập chính phủ. Đảng Dân Chủ Xã Hội của đương kim thủ tướng Schroeder lại thua đảng Dân Chủ Thiên Chúa Giáo ba ghế. Chủ Nhật này, đến lượt dân Ba Lan đi bầu quốc hội. Hai tuần sau, họ sẽ bỏ phiếu chọn tổng thống.

Tức là trong một tháng Chín có gần 250 triệu người dân ở ba quốc gia lớn thi hành quyền lựa chọn những người sẽ cai trị họ trong bốn, năm năm sắp tới. Cả ba nước Nhật Bản, Đức, Ba Lan đều theo thể chế đại nghị, tức là đảng nào đạt nhiều ghế nhất trong Hạ viện sẽ thành lập chính phủ. Các vị tổng thống ở Đức, Ba Lan hoặc Thiên hoàng ở Nhật không cầm quyền. Khi dân đi bỏ phiếu, họ biết là họ sẽ chọn ai làm thủ tướng, cùng với ê kíp của người đó. Nhưng ở ba nước, chúng ta thấy dân chúng lựa chọn theo cách khác nhau; các chính trị gia cũng tranh cử theo cung cách khác nhau.

Dân Nhật Bản có vẻ quyết tâm muốn thay đổi cơ cấu kinh tế, tài chánh xứ họ, cho nên đa số ủng hộ ông Koizumi một cách nhiệt liệt. Ông qua mặt đảng đối lập, mà cả những người trong đảng Dân Chủ Tự Do ly khai vì chống ông cũng bị thua. Người Nhật quyết định phải “đổi mới kinh tế!” Có thể nói một phần vì nhiều người dân thấy cần phải thay đổi, sau khi kinh tế Nhật Bản trì trệ hơn 10 năm. Nhưng một phần cũng vì ông Koizumi rất giỏi trong việc vận động. Ông nêu ra một đề tài rất giản dị, nói rõ ràng cho người dân chú ý: Cải tổ hệ thống Bưu chính Nhật. Ông có thái độ cương quyết và can đảm khi tự giải tán chính phủ để mời dân chúng bỏ phiếu tín nhiệm ông. Và ông mời được nhiều người danh tiếng đứng ra tranh cử trong đảng ông, đánh bại các người ly khai.

Ở Đức thì khác. Dân chúng không tỏ ra quyết tâm muốn giữ ông thủ tướng lại, hay muốn thay thế ông. Nhiều người Đức vẫn tín nhiệm ông Schroder vì kinh tế Đức đang hưng vượng lại sau nhiều năm trì trệ, một phần nhờ ông Gerard Schroeder đã cải tổ, thí dụ, ông giảm thuế các xí nghiệp. Nhưng nhiều người không hài lòng với ông Schroeder vì ông chưa cải tổ một cách triệt để. Họ muốn thay đổi luật lao động thêm nữa. Ông Schroeder rụt rè, vì đảng Dân Chủ Xã Hội (SPD) của ông dựa vào các nghiệp đoàn; cải tổ nhiều hơn thì giới công nhân sẽ chống. Trước ngày bầu cử một tháng, bà Angela Merkel lãnh tụ đảng Dân Chủ Thiên Chúa giáo (CDU) dẫn trước 20 điểm, ai cũng nghĩ bà sẽ thành vị nữ thủ tướng đầu tiên của Cộng Hòa Liên bang Đức. Đảng bà đề nghị phải đổi mới kinh tế sâu và mạnh hơn nữa. Nhưng cuộc vận động tranh cử của bà Merkel yếu quá, không chinh phục được nhiều người. Bà Merkel, một giáo sư xuất thân từ Đông Đức, chưa có kinh nghiệm “giao đấu” trên chính trường. Nhất là khi vị giáo sư được coi như sẽ là bộ trưởng kinh tế của bà đưa ra những đề nghị “một suất thuế cho tất cả mọi người” (flat tax) nhưng chính bà không tỏ ra ủng hộ mà cũng không bác bỏ. Bà Merkel phải liên minh với một đảng nhỏ để có đa số mà lập chính phủ.

Câu chuyện ở Ba Lan phức tạp theo cách khác. Mười sáu năm kể từ khi đảng Cộng Sản Ba Lan can đảm trao lại quyền tự do cho dân chọn lấy người cai trị, chưa có một đảng nào cầm quyền được quá một nhiệm kỳ. Không đảng nào chiếm được đa số dân chúng ủng hộ mình một cách lâu dài cả. Bốn năm trước đây, một liên minh của những đảng viên cộng sản cũ, viết tắt là SLD, đã chiếm được số phiếu nhiều nhất (41 phần trăm) để lập chính phủ mới. Chính phủ cũ lúc đó mất quyền thì tan ra thành nhiều đảng nhỏ. Năm nay SLD chưa được 10 phần trăm dân tín nhiệm. Một đảng mới đang lên, Diễn đàn Công dân (PO, viết tắt tên Platforma Obywatelska) đang hy vọng chiếm đa số, nhưng có thể phải liên kết với đảng mạnh thứ nhì mới đủ phiếu lập chính phủ. Nhưng sau khi một vị cựu thủ tướng, lãnh tụ một đảng cựu đảng viên cộng sản tuyên bố rút lui vì biết sẽ thua, thì hai đảng mạnh nhất quay ra chỉ trích lẫn nhau, cho nên liên minh sẽ khó thành hình.

Các đảng phái ở Ba Lan khác với các đảng bên Đức hay bên Nhật, là họ còn mới quá và lại thay đổi luôn luôn suốt 16 năm qua. Họ chưa thu hút được những cử tri một mực trung thành với chủ trương đường lối của đảng, mà chính họ cũng chưa xác định được các chủ trương riêng nổi bật. Nhiều người sẽ lo ngại: Nếu như vậy thì nước Ba Lan cứ thay đổi chính phủ soành soạch, làm sao có “ổn định” được? Làm sao tiến bộ được?

Nhưng mà suốt 16 năm qua, nước Ba Lan vẫn tiến bộ. Bởi vì dù đảng nào cầm quyền, họ đều đồng ý với nhau là nước Ba Lan phải đổi mới kinh tế một cách mạnh bạo, toàn diện; phải thay đổi cơ cấu, xóa bỏ các tàn tích do thời cộng sản để lại. Ba Lan, Cộng Hòa Tiệp, Hung ga ri, Cộng Hòa Slovak là những nước phát triển kinh tế nhanh và vững vàng nhất ở Đông Âu, kể từ khi chế độ cộng sản sụp đổ.

Một kinh nghiệm mà Đông Âu học được của Tây Âu là dù có thay đổi chính phủ nhiều lần chăng nữa, nếu người dân được tự do làm ăn và quốc gia đặt ra được những định chế bảo vệ các quyền tự do, thì người dân sẽ tự lo lấy việc phát triển kinh tế. Dân chúng Ba Lan không trung thành với một đảng chính trị nào, thay đổi luôn luôn. Một phần vì chính họ đang phân vân. Phần khác là vì các chính đảng cũng đang mò mẫm, chưa quen với các thủ tục dân chủ, sau gần nửa thế kỷ sống dưới ách độc tài. Nhưng sau khi đảng Cộng Sản Ba Lan tự giải phóng, trả lại quyền quyết định cho dân, người ta đã lựa chọn những thể thức sống chung căn bản, là phải có dân chủ, tự do. Cứ theo luật giao đấu như thế, đi trên con đường đã quyết định đó, người dân cũng bớt lo.

Khi nghe kết quả cuộc bầu cử ở Đức, nhiều người cũng lo ngại. Một số lo rằng kinh tế Đức mới hưng khởi được một năm, nay không biết đảng nào sẽ lên nắm quyền, thì kinh tế có khựng lại hay không? Lại có người lo là nếu hai đảng lớn nhất liên minh, họ có đường lối khác hẳn nhau, thì ai sẽ “lèo lái” con thuyền quốc gia? Lo như vậy là lo con bò trắng răng. Đó không phải là ý kiến của chúng tôi. Chính ông chủ nhiệm báo Die Zeit (Thời báo) ở Hamburg nói như vậy. Và muốn cho dân Đức tin mình, ông nói: “Hãy coi gương nước Ý. Từ sau Đại chiến Thứ Hai, chính phủ Ý thay đổi nhanh, nhanh hơn cả tin khí tượng, nhưng kinh tế nước Ý vẫn chạy, nước này vẫn được xếp vào hàng 7 quốc gia tiến bộ kinh tế nhất thế giới.” Chưa bao giờ lại có người khuyên dân Đức hãy coi gương dân Ý – mà người đó lại là người Đức gốc Ý nữa!

Nhưng nói như vậy không có nghĩa là các chính phủ không đóng vai trò nào hết. Đảng cầm quyền vẫn ấn định chính sách quốc gia. Ấn định những thể lệ cho cuộc sống chung. Khi kiểm soát ngành lập pháp, họ có thể đưa ra các dự luật thay đổi cách tổ chức các ngân hàng, như ở Nhật. Người dân sẽ tiết kiệm và đầu tư theo cách mới. Họ có thể thay đổi các thứ luật lao động, hoặc để bảo vệ việc làm của người công nhân, hoặc cho các xí nghiệp nhiều tự do hơn khi muốn sa thải công nhân, như ở Đức. Họ có thể quyết định tăng hay giảm thuế cho các xí nghiệp hay cho cá nhân. Ở nước nào cũng vậy, công việc của chính quyền là đưa ra những quyết định. Những thể lệ sống chung đó ảnh hưởng tới đời sống mỗi người mà cũng ảnh hưởng tới sự tiến bộ chung của quốc gia. Khi bỏ phiếu chọn một chính phủ mới, dân chúng mỗi nước chọn các chính sách, các chương trình kinh tế, xã hội của chính phủ. Đó là quy tắc sống dân chủ. Khi nào dân chưa dứt khoát, chúng ta cũng thấy tâm lý đó hiện ra trong kết quả bầu cử.

Khi đa số dân chúng Nhật ủng hộ ông Koizumi, ông biết chắc là đã nhận được một “sứ mệnh” thay đổi cơ cấu tài chánh nước Nhật, bắt đầu với việc giải tư công ty Bưu Chính. Ông sẽ tách hai ngành ngân hàng và bảo hiểm ra khỏi Bưu Điện, lập thành các đơn vị riêng, rồi sẽ đem bán cổ phần cho công chúng. Lựa chọn của dân Nhật, do quy tắc đa số thắng thiểu số, cho thấy người dân muốn thay đổi. Ông Koizumi được dân trao cho sứ mệnh thay đổi. Dân Đức, khi bầu cho bà Merkel nhiều hơn ông Schroder, cũng cho thấy là họ muốn thay đổi cơ cấu kinh tế. Nhưng ý nguyện đó chưa đủ mạnh, đảng CDU chỉ hơn có 3 ghế. Các nhà chính trị sẽ lựa theo ý dân, bầy tỏ trong cuộc bỏ phiếu, nếu dân chúng chưa dứt khoát thì họ cũng phải từ từ. Nếu vì họ không thay đổi nhanh mà kinh tế Đức không tiến nhanh hơn (nhanh như Mỹ chẳng hạn) thì đó là do dân lựa chọn. Khi dân chưa muốn thay đổi nhanh, tức là họ bằng lòng hy sinh tốc độ phát triển kinh tế để bảo vệ những giá trị khác, những giá trị chung đã thấm nhuần trong một dân tộc. Ở nước Đức, đó là công bằng xã hội.

Từ thời thủ tướng Bismark, tức là từ khi lập quốc cuối thế kỷ 19, nước Đức đã dẫn đầu trong các nước công nghiệp hóa tư bản về việc bảo vệ người lao động, người thất nghiệp; nói chung, những lớp người yếu thế về kinh tế. Vì vậy, từ sau Thế Chiến Thứ hai, các nghiệp đoàn Đức rất mạnh; luật pháp cho họ cử đại diện ngồi trong Hội đồng Quản trị các công ty. Mạng lưới an toàn xã hội bảo đảm không có người nào chịu cảnh nghèo khổ. Không nhà chính trị nào dám nghĩ tới việc xóa bỏ mạng lưới an toàn xã hội đó; các đảng khi đề nghị cải tổ cũng vẫn tôn trọng tinh thần xã hội đó. Nay họ đều đồng ý là một mạng lưới an toàn quá thì sẽ làm kinh tế chậm phát triển, nên phải sửa đổi. Họ chỉ khác nhau ở chỗ nên sửa đổi những gì, sửa những nơi nào, bao giờ sửa. Và đó là những điểm phân biệt đảng này với đảng khác, để cho dân lựa chọn.

Ở bên Nhật cũng vậy. Nền kinh tế Nhật dựa trên sự liên kết giữa các đại công ty và các ngân hàng, với guồng máy nhà nước đóng vai trọng tài và mai mối tích cực. Trước đây, nước Nhật nổi tiếng là không một công ty nào bị phá sản, vì các công ty và các ngân hàng “bao cấp” lẫn nhau. Khi cần, chính phủ sẽ can thiệp cứu giúp. Nhân viên các công ty không lo bị đuổi, gần như được bảo đảm công việc suốt đời. Trên bảo dưới nghe, gia đình hòa thuận. Có lẽ vì vậy, một đảng chính trị cứ thế nắm quyền ở Nhật suốt nửa thế kỷ, chỉ bị ngắt quãng mất 11 tháng. Một vị thứ trưởng tài chánh Nhật, ông Eiseku Sakakibara 1990 đã xuất bản cuốn “Vượt trên Chế độ Tư bản” (Beyond Capitalism) để trình bầy quan niệm kinh tế của xứ ông. Họ chú trọng tới sản xuất hơn là tiêu dùng, đó là điểm then chốt; khác hẳn kinh tế tư bản kiểu Mỹ. Ở Pháp thì có ông Michel Albert, năm 1991 in cuốn “Tư bản đọ với Tư bản” (Capitalisme contre Capitalisme) đề cao mô thức kinh tế miền sông Rhine, chú trọng tới vai trò của ngân hàng nhiều hơn thị trường chứng khoán, và phần lợi tức đóng góp cho xã hội (tức là đánh thuế) cao hơn mô thức Anh - Mỹ. Dù đảng CDU hay đảng SPD cầm quyền thì bản “hợp đồng xã hội” của nước Đức vẫn không thay đổi. Dân chúng nước họ đã lựa chọn như vậy.

Nhưng từ thập niên 1990 đến nay, thế giới đã thay đổi nhiều. Nhật trì trệ vì người dân ít tiêu thụ, kinh tế quá lệ thuộc xuất cảng. Kinh tế Đức cũng chậm lại vì giá thành cao, do chi phí lương bổng và xã hội. Nhưng khi công nghiệp tin học phát triển, điều làm cho hai vùng kinh tế lớn thứ nhì và thứ ba trên thế giới đó bị qua mặt là vì họ không huy động được những thứ “vốn khai phá mạo hiểm” (venture capital) như ở Mỹ. Xí nghiệp của họ không đủ sức cạnh tranh trong nền kinh tế toàn cầu hóa vì giá thành cao quá. Bây giờ từ năm 2000 chính họ cũng đang lo thay đổi cơ cấu kinh tế.

Lựa chọn của toàn dân

Nhưng quyết định thay đổi được đặt trong tay dân, chứ không phải chỉ có một nhóm người định đoạt, nhân danh quyền “lãnh đạo toàn dân.” Người dân Nhật Bản trao cho ông Koizumi sứ mạng thay đổi hệ thống phân bố tài nguyên quốc dân. Việc chuyển tiền tiết kiệm của dân qua các trung gian tài chánh, hoặc ngân hàng, hoặc quỹ đầu tư, thị trường chứng khoán, hay qua quỹ tiết kiệm và bảo hiểm của Bưu Điện tại Nhật Bản; đó là một quyết định ảnh hưởng tới kinh tế quốc dân. Nước Nhật cần cải tổ nhiều hơn nữa, và ông thủ tướng Koizumi nhận được sứ mạng đó. Người Đức đang phân vân, và các lãnh tụ chính trị đảng phái chấp nhận hậu quả, là chính họ cũng phải thương thảo với nhau về việc cải tổ cơ cấu.

Tuy nhiên, xin đừng nghĩ rằng các nhà lãnh đạo và dân chúng các nước trên sẽ ... đi theo lối Mỹ. Còn lâu. Khi nhìn thấy những nhược điểm trong cách tổ chức xã hội của mình khiến mình thành chậm lụt, thì phải thay đổi. Nhưng dù thay đổi người ta sẽ vẫn giữ những bản sắc của dân tộc, không cách nào nước này giống hệt nước khác được. Những ông Sakakibara, Albert không bao giờ phải từ bỏ những tư tưởng chính của họ đâu. Bởi vì mỗi dân tộc có những sắc thái văn hóa, hoàn cảnh lịch sử khác nhau, họ tự nhiên đi tìm con đường nào thích hợp nhất. Miễn là người dân được tự do nghe đủ thứ ý kiến, tự do lựa chọn các ý kiến đó theo thể thức dân chủ.

Lựa chọn một giải pháp chung bao giờ cũng có thể gây thiệt hại cho một số người. Cho nên phải đặt ra các thể thức dân chủ, coi như “luật giao đấu;” giống “luật chơi” khi đá bóng vậy. Trong các nhà tu người ta có thể nhất trí, đồng thuận theo tinh thần lục hòa. Dân Chủ không cần phải nhất trí hay đồng thuận, vì không thể đạt được nhất trí hay đồng thuận. Trong khuôn khổ các luật giao đấu dân chủ, người dân sẽ lựa chọn cách sống chung với nhau như thế nào, một cách công bằng.

Cho nên không thể nói cứ ai đòi tự do, dân chủ là đòi bắt chước như lối Mỹ. Đó là luận điệu của những kẻ cố tình vu vạ, hay là vì thiếu học cho nên nói mò. Nước Mỹ không phải là nước duy nhất sản xuất món Dân Chủ, như họ đang sản xuất Coca Cola!

Xin nhắc lại: Dân Chủ chỉ là hình thức. Nội dung chính là Tự do. Có Dân Chủ chúng ta mới có khung cảnh pháp lý để sử dụng các quyền tự do của mình. Tự do nhất thiết là tự do lựa chọn. Nếu không thì tự do để làm cái gì? (Ngay cả những thiền sư thoát vòng tục lụy, hoàn toàn tự do không cần gì nữa, thì họ cũng đang sử dụng quyền tự do không lựa chọn, đó cũng là một lựa chọn.) Khi các quyền tự do được tôn trọng, thì dù hình thức tổ chức xã hội chưa hoàn toàn dân chủ, người dân cũng được sử dụng các quyền tự do để chọn hướng đi chung cho tất cả mọi người. Muốn cho người dân lựa chọn, họ phải được thông tin đầy đủ những vấn đề, và biết những giải pháp khác nhau. Người ta không thể lựa chọn tự do nếu bị bưng bít. Cho nên nếu ngày mai đảng Cộng Sản Việt Nam tuyên bố cho dân chúng tự do bầu cử, ứng cử, cho một vài đảng chính trị hoạt động, mà nếu họ vẫn hạn chế không cho tự do ngôn luận, tự do tư tưởng, thì đó vẫn là dân chủ giả hiệu.

Hiện nay đảng Cộng Sản Việt Nam từ chối không cho người dân được lựa chọn tự do, mọi quyết định chung của đất nước đã được một đảng đấu thầu lựa chọn giúp! Có khi chỉ một nhóm nhỏ trong Bộ Chính trị lựa chọn; hay chỉ có một người lựa chọn rồi bắt cả nước phải theo. Đó là nguyên nhân tình trạng chậm tiến về kinh tế, xã hội, giáo dục, tình trạng tham nhũng, thối nát, vân vân.
Câu chuyện còn dài, vì câu hỏi chính yếu là nếu như dân Việt Nam được tự do lựa chọn thì chúng ta nên đề nghị đồng bào ta lựa chọn về những vấn đề gì, lựa chọn như thế nào. Chắc còn lâu đồng bào ta mới được hưởng món hàng xa xỉ hiện nay dành riêng cho các đảng viên cộng sản cao cấp. Nhưng ngay bây giờ ta phải bàn ngay những vấn đề đó. Phải lo lắng trước mối lo chung của đồng bào, như Phạm Trọng Yêm đã khuyến cáo từ 10 thế kỷ trước.

Lựa chọn giữa những giá trị đối nghịch

Ai cũng yêu Tự do và Bình đẳng, hai trong ba mục tiêu được cuộc cách mạng Pháp đề cao, mà bây giờ nước Pháp vẫn giữ làm khẩu hiệu chung của quốc gia. Nhưng ai cũng thấy có lúc phải lựa chọn giữa hai giá trị đó, được cái này thì mất cái kia. Mà ngay giữa các quyền tự do, quyền này cũng hạn chế quyền khác, chúng cũng có các giá trị đối nghịch với nhau. Cụ Hoàng Minh Chính đã đứng đầu một học viện dậy lý thuyết Mác xít, cụ thừa biết những ý kiến nói rằng các quyền tự do dân sự (ngôn luận, hội họp), quyền chính trị (bầu cử, lập đảng) không có nghĩa lý gì khi người ta đói triền miên. Các nhà lý luận Mác xít Đông và Tây đã phân tích, họ đồng ý rằng ngoài những quyền dân sự và quyền chính trị, con người còn phải được hưởng những quyền về kinh tế, xã hội nữa. Tôi với anh đều có quyền tự do kinh doanh, tự do ứng cử, nhưng anh không thể sử dụng những quyền đó một cách tàn bạo đến mức tôi không đủ sống, nhất là khi các định chế chính trị và xã hội do các anh tạo ra khiến tôi không đời nào ngóc đầu lên nổi. Tự do là tự do lựa chọn. Tự do trở thành vô ích, vô duyên khi tôi thấy chả có cái gì để mình lựa chọn cả! Khái niệm “quyền xã hội” (social rights) được đề cao ngang với các quyền dân sự (civil rights) và quyền chính trị (political rights), ở ngay trong các nước tư bản từ thế kỷ trước. Đó là một đóng góp của nhiều nhà lý luận Mác xít.

Ngày xưa ở nước ta chế độ cộng sản muốn thi hành chủ trương “cào bằng” để thực hiện một tình trạng bình đẳng trong xã hội. Phá cái nhà anh địa chủ đi, chia cho các anh chị bần cố nông, người lấy cái giường, người lấy cái mái ngói, người được chia cái bàn thờ, mọi người sẽ bình đẳng hơn. Trong xã hội cũ đó, cũng có người lợi tức và tài sản cao hơn người khác (nhân dân làm việc bằng hai, để cho thủ trưởng mua đài mua xe) nhưng khi mọi người cùng nghèo cả thì sự chênh lệch không quá trối tai gai mắt. Cái “phản xạ cào bằng” đó ăn sâu, bám rễ trong các lãnh tụ. Hồ Chí Minh cảnh cáo những cán bộ “đã có xe rồi lại muốn có xe tốt hơn.” Ông Đoàn Duy Thành kể dưới thời ông Lê Duẩn có chỉ thị Z30 tịch thu tất cả những ngôi nhà hai tầng trở lên, được ông Đỗ Mười đem thực hiện một cách hăng hái.

Đến khi đảng Cộng Sản đổi mới, họ chịu đánh đổi một phần bình đẳng để lấy một tí tự do. Ông Đỗ Mười chúc đồng bào “Làm ăn phát tài.” Trung Quốc có khẩu hiệu mới: “Làm giầu là vinh quang.” Quyền tự do làm ăn được đề cao. Công bằng xã hội giảm. Chênh lệch giầu nghèo ngày càng hiển nhiên và chướng mắt. Đảng Cộng Sản đã chọn; nhưng họ chưa “cân đo” được, tới mức nào thì quyền tự do bị hạn chế, hạn chế ra sao, để bảo vệ giá trị bình đẳng và công bằng xã hội. Mặt khác, càng có thêm người làm ăn phát tài thì các quan chức càng được hối lộ nhiều hơn, chính giai cấp thống trị cũng không có “động cơ tự nhiên” để thay đổi xu hướng mới. Không ai cân đo, gia giảm hai thứ giá trị Tự do và Công bằng, vì không tìm ra chính sách tạo thế cân bằng giữa hai giá trị đó, vì chưa biết cách gia giảm thế nào. Người ta bận làm giầu và bận tiêu tiền. Nhưng người dân nhìn thấy cảnh bất công chịu không nổi. Bao nhiêu người làm đầu tắt mặt tối cả ngày chỉ hy vọng kiếm được vài ba chục nghìn đồng, một hai đô la Mỹ. Một cậu ấm con quan có thể chi cả ngàn đô la trong một đêm vui chơi! Ngày xưa, sự chênh lệch chỉ là cái radio, cái xe đạp. Bây giờ là cả núi tiền.

Nhưng mối bận tâm của chúng ta bây giờ không phải là những sai lầm của chế độ cộng sản mà thôi. Các anh em cộng sản tỉnh táo cũng nhìn ra cả rồi. Bây giờ chúng ta hãy lo tìm hiểu việc xây dựng đất nước trong tương lai như thế nào. Thế thì giữa hai giá trị có lúc đối nghịch, tự do và bình đẳng, tự do và công bằng xã hội, thế giới loài người họ đã thử các giải pháp nào? Chúng ta cần thông tin cho đồng bào ta biết những giải pháp đó, để mai sau họ sẽ lựa chọn, khi có quyền tự do lựa chọn. Và cứ coi gương các nước, thử kể Đức, Nhật, Mỹ, Ấn Độ, Singapore, một khi lựa chọn rồi, muốn thay đổi phải mất hàng thế hệ, hoặc lâu hơn.

(Còn tiếp)

Ghi chú:
Bài này viết khi cụ Hồng Minh Chính đang thăm Mỹ. Một số đoạn nêu tên cụ được giữ lại để bầy tỏ lòng tưởng nhớ một nhà tranh đấu cho dân chủ tự do.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét