Thứ Năm, 1 tháng 7, 2010

HỒ CHÍ MINH VÀ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI (2)

2) Khía cạnh kinh tế của “TTHCM”

Về vấn đề này thì chúng ta cần trở lại chủ trương “tiến thẳng lên CNXH” của ông Hồ để có thể hiểu rõ hơn. Ðiều đáng chú ý là ý đồ “tiến thẳng lên CNXH” từ một nước nông nghiệp lạc hậu, lại vừa ra khỏi chiến tranh chống thực dân Pháp, là vừa không phù hợp với hoàn cảnh cụ thể của đất nước vừa đi ngược lại quan điểm của Mác. Bởi vì như một đảng viên cao cấp đã nhận xét “theo Mác và Ănghen, CNXH chỉ có thể thành công ở những nước có nền công nghiệp phát triển, nghĩa là đã qua giai đoạn cao của chủ nghĩa tư bản”(43). (Quan điểm này của Mác cũng là lý thuyết suông thôi vì cho đến nay dự đoán này chưa bao giờ được cụ thể hóa cả!)

Thẳng thắn mà nói thì chủ trương “tiến thẳng lên XHCN” nói trên là sai lầm to lớn nhất và tai hại nhất trong lĩnh vực kinh tế. Chính xuất phát từ đó mà, trong “Báo cáo về dự thảo Hiến Pháp sửa đổi” năm 1959, ông Hồ khẳng định “chế độ ta [phải] xóa bỏ các hình thức sở hữu không XHCN [tức là sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất của người lao động riêng lẻ và của nhà tư sản VNT] làm cho nền kinh tế gồm nhiều thành phần phức tạp trở nên một nền kinh tế thuần nhất dựa trên chế độ sở hữu toàn dân [tức là sở hữu quốc doanh] của nhà nước - VNT] và sở hữu tập thể [tức là của các hợp tác xã VNT]”. (Chúng tôi nhấn mạnh - VNT). Và ông Hồ còn nói thêm: “... Kinh tế quốc doanh là hình thức sở hữu của toàn dân, nó lãnh đạo nền kinh tế quốc dân, và nhà nước phải bảo đảm cho nó phát triển ưu tiên; chúng ta phát triển thành phần kinh tế quốc doanh để tạo nền tảng vững chắc cho CNXH và thúc đẩy việc cải tạo XHCN.” (44)

Hồi tưởng lại quá khứ, một đảng viên cao cấp đã thừa nhận là “vào giai đoạn trước đổi mới, chúng ta [ÐCSVN] đã phạm sai lầm là rập khuôn mô hình cứng nhắc [của Stalin và Mao - VNT] về CNXH, thuần nhất thành phần kinh tế XHCN dưới hai hình thức: quốc doanh và tập thể, ... thủ tiêu các thành phần khác. Những sai lầm này diễn ra ở nước ta trong một thời gian dài, và chúng ta phải trả giá quá đắt”(45).

Trong những năm 80, ông Trường Chinh(46) và ông Nguyễn Văn Linh(47) đều thừa nhận là việc xóa bỏ các khu vực kinh tế tư nhân theo chủ trương của ÐCS [và ông Hồ] lúc đó là một trong những sai lầm “ấu trĩ tả khuynh,” “duy ý chí,” bởi vì các thành phần kinh tế đó còn rất cần thiết cho sự phát triển kinh tế quốc dân.

Chính xuất phát từ chủ trương xóa bỏ các thành phần kinh tế tư nhân cho nên ông Hồ thúc giục thực hiện khẩn trương kế hoạch ba năm (1958-60) ở miền Bắc nhằm “thực hiện cải tạo XHCN đối với nông nghiệp, thủ công nghiệp, và công thương nghiệp tư bản chủ nghĩa tư doanh [mà] khâu chính là cải tạo... nông nghiệp” (chúng tôi nhấn mạnh VNT) (48). Không những tán thành chung chung thôi mà ông Hồ, theo một tài liệu của Ủy ban nghiên cứu lịch sử ÐCS, còn “theo dõi và chỉ đạo sát sao công cuộc cải tạo XHCN” đó nữa. (49)

*

Về vấn đề cải tạo XHCN đối với nông nghiệp tức là hợp tác hóa nông nghiệp, ông Hồ đã chỉ thị như sau: “... Ðường lối cải tạo XHCN... đối với nông nghiệp là đưa nông dân làm ăn riêng lẻ đi dần [nhưng trong thực tế thì thúc ép họ - VNT] từ tổ đổi công... tiến lên hợp tác xã cấp tiến... rồi tiến lên hợp tác xã cấp cao”; “các hợp tác xã, dưới sự lãnh đạo của đảng phải trở thành những đội quân vững mạnh của ... nông dân lao động trong cuộc phát triển sản xuất”; “Yêu hợp tác xã như nhà, chống tư tưởng làm ăn riêng lẻ và những tư tưởng ... có ảnh hưởng xấu cho việc củng cố và phát triển hợp tác xã”(50). Ông Hồ còn theo dõi và chỉ đạo cụ thể việc biên soạn điều lệ hợp tác xã nông nghiệp, và tự tay viết lời giới thiệu bản điều lệ đó (51). Ðiều này nói lên tầm quan trọng của phong trào hợp tác hóa nông nghiệp đối với ông Hồ.

Trong bài diễn văn đọc tại hội nghị trung ương ÐCS lần thứ 5 bàn về nông nghiệp (tháng 7/61) ông Hồ đánh giá phong trào hợp tác hóa nông nghiệp như sau: “Chúng ta nhất trí nhận định rằng phong trào hợp tác hóa nói chung là tốt” (tác giả nhấn mạnh - VNT) (52), chính trong lúc đang xảy ra “những biểu hiện ... nóng vội, gò ép [tức là thúc ép một cách thô bạo nông dân chuyển từ tổ đổi công lên hợp tác xã trong một thời gian rất ngắn - VNT], và các lệch lạc khác” như một đảng viên đã thú nhận (53).

Năm 1965, trong một bài báo tổng kết 20 năm cách mạng Việt Nam, ông Hồ đã khẳng định: “Với các hợp tác xã, nông nghiệp đã phát triển vững chắc” (54) trong lúc mà các số liệu chính thức cho thấy là sản lượng lương thực trong suốt thời kỳ 1960-64 chưa vượt qua nổi mức đạt được hồi năm 1954, năm mà ông Trường Chinh chỉ thị phải thúc đẩy phong trào hợp tác hóa lên mạnh hơn nữa (55).

Một điều quan trọng cần nhắc lại ở đây là, trong một thông điệp đề ngày 01/05/69, ông Hồ đã đứng hẳn về phía Trường Chinh chống lại kinh nghiệm khoán hộ “chui” do Kim Ngọc, bí thư tỉnh ủy Vĩnh Phú đề xướng hồi năm 1968 (56), nhằm kích thích lợi ích của xã viên để họ hăng hái tham gia sản xuất. (Lúc đó ÐCSVN cũng bắt chước ÐCS Trung Quốc phê phán việc khoán hộ “chui” trước đó vài năm). Phải đợi tới 13 năm sau thì kinh nghiệm khoán hộ đối với hợp tác xã nông nghiệp mới được ÐCSVN chấp nhận chính thức, và được áp dụng toàn quốc với chỉ thị 100 CT/TU nổi tiếng của Ban bí thư trung ương Ðảng (tháng 1/81)(57).

Nhìn lại quá khứ, một số nhà kinh tế học Việt Nam, trong một tài liệu nội bộ, thừa nhận: “Phân tích diễn biến tình hình và hệ quả của 30 năm [từ năm 1958 trở đi VNT] đối với tình hình kinh tế - xã hội nông thôn nước ta... [ta thấy]... Khuyết điểm và sai lầm trong nhận thức, trong chủ trương, trong chỉ đạo thực hiện, nhất là bước đi của phong trào hợp tác hóa nông nghiệp, là thực tế, rõ ràng. Những sai lầm, khuyết điểm đó đã và đang gây hậu quả nặng nề đối với thực trạng kinh tế - xã hội của đất nước... Trong 30 năm hợp tác hóa nông nghiệp bằng những cuộc cải tạo vội vàng và bất chấp quy luật, dẫn đến tập thể hóa mà thực chất là tước đoạt một cách rộng khắp và mau lẹ quyền sở hữu ruộng đất của nông dân. Chính sách đó đã biến ... nông dân từ những người sản xuất tự do thành những người làm thuê ăn điểm cho những ông chủ tập thể vô hình [tức là chủ nhiệm hợp tác xã VNT]. Ðó là sai lầm lớn nhất của 30 năm hợp tác hóa nông nghiệp mà đến nay hậu quả còn nặng nề...” (tác giả nhấn mạnh - VNT) (58). Một nhà kinh tế học khác ở Hà Nội cũng nhận xét: “Người nông dân... thực chất biến thành người lao động... [cho] hợp tác xã. Kiểu kinh tế này... đối lập với hoạt động sản xuất nông nghiệp, vì thế nông nghiệp và kinh tế nông thôn đi tới chỗ đình đốn, suy thoái và khủng hoảng.” (59)

*

Song song với chủ trương cưỡng bách nông dân cá thể đi vào con đường hợp tác hóa nông nghiệp, ông Hồ (và ÐCSVn) còn chủ trương “cải tạo XHCN” đối với giai cấp tư sản trong công, thương nghiệp [một uyển ngữ để nói việc đánh giai cấp tư sản tơi bời - VNT] theo mô hình của Lê-nin và nhất là của Mao.

Trong bản “Báo cáo về dự thảo Hiến Pháp sửa đổi” hồi năm 1959, ông Hồ đã viết: “Hiện nay chúng ta có điều kiện để cải tạo họ [giai cấp tư sản VNT] theo con đường XHCN... Nhà nước khuyến khích họ [trong thực tế là ép buộc họ - VNT] cải tạo theo XHCN bằng hình thức công-tư hợp doanh và những hình thức cải tạo khác” (60). Năm 1960, ông Hồ nhấn mạnh một lần nữa: “Một việc cần kíp là cải tạo... giai cấp tư sản dân tộc. Do bản chất của họ, họ vẫn luyến tiếc cách bóc lột và muốn phát triển theo chủ nghĩa tư bản. Nhưng trong điều kiện miền Bắc tiến lên CNXH, ý nguyện của họ không thể nào thực hiện được.” (tác giả nhấn mạnh VNT) (61).

Ðể hồi tưởng lại cuộc “phát động quần chúng cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh, chúng tôi xin trích sau đây một đoạn trong quyển sách của Thành Tín: “Cuộc cải tạo công thương nghiệp, loại bỏ giai cấp tư sản dân tộc [trong thời kỳ 1958-60 ở miền Bắc -VNT] vẫn là theo kinh nghiệm của [Trung Quốc]..., vẫn là theo sự “giúp đỡ” của các... phái viên đặc biệt của Mao... về cải tạo công thương nghiệp... về tận diệt nền sản xuất tư doanh (...) Các cuộc tố khổ, tính sổ bóc lột của tư sản, kể lể những thủ đoạn bóc lột, hà hiếp lao động, buôn gian bán lận, cân đo gian dối, buôn lậu... tham tiền bất nhân... được phơi bày. Những hóa đơn, giấy tờ kinh doanh quan hệ với các hãng, công ty ở Pháp, Hồng Kông... bị coi là tài liệu liên hệ với giai cấp tư sản đế quốc, cấu kết với bọn phản động quốc tế.” (62). Trong đợt “cải tạo” này có trường hợp một cơ sở sản xuất trình độ thủ công với 10 người thợ, phần đông là con cháu họ hàng, cũng bị quy thành tư sản và cứ thế là bị kiểm thảo, truy bức, truy thu. Ðáng thương hại là con cháu của các gia đình bị xếp vào loại tư sản thì không bao giờ có thể vào đại học, dù là khi thi vào thì được điểm rất cao; và khi đã tốt nghiệp rồi xin đi làm cho cơ quan nhà nước thì cũng bị khước từ. Thành phần lý lịch tư sản trở thành một cái bướu dính vào suốt đời họ.

Một nhân vật xuất hiện trong chiến dịch đánh tư sản từ cuối năm 1956 là ông Ðỗ Mười. Ông này đã lập công lớn ở Hải Phòng, Hà Nội và Nam Ðịnh. Trong một hội nghị cán bộ toàn thành phố Hà Nội, ông Mười đã dặn dò cán bộ như sau: “bọn tư sản” giống như là chuột cống; khi thấy nó lú ở đâu thì đập cho nó chết ngay! (Chúng tôi không nhớ rõ nguyên văn, nhưng đại ý là như vậy). Nhờ “thành tích” đánh tư sản ở miền Bắc mà ÐCS liền xuất tướng ông này vào miền Nam sau 1975 để chỉ huy công cuộc “cải tạo XHCN” đối với công thương nghiệp tư doanh ở Sài Gòn.

Hậu quả của công cuộc “cải tạo XHCN” ở miền Bắc là, như nhà lão thành cách mạng Nguyễn Văn Trấn đã nhận xét:“Cải tạo tư sản... làm cho [nền] kinh tế... miền Bắc cứ nghèo, nghèo, nghèo!” (67). Nhìn lại quá khứ, các nhà sử học Việt Nam cho rằng việc “cải tạo XHCN” ở miền Bắc đã phạm sai lầm “chủ quan, nóng vội” (64). Và cựu ủy viên Bộ chính trị Nguyễn Ðức Bình cũng thừa nhận là: “Chúng ta [ÐCSVN] đã phạm sai lầm..., nóng vội trong cải tạo XHCN, [muốn] xóa bỏ ngay nền kinh tế nhiều thành phần...” (65).

*

Ngoài chủ trương “cải tạo XHCN” nói trên, ông Hồ còn “luôn luôn nhấn mạnh tầm quan trọng của nhiệm vụ công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa nước nhà” [lẽ dĩ nhiên là theo mô hình công nghiệp hóa của Stalin - VNT](66). Tại hội nghị trung ương lần thứ bảy (tháng 04/62) bàn về công nghiệp hóa miền Bắc, ông Hồ đã chỉ thị: “Ðể đạt mục đích công nghiệp hóa XHCN, toàn Ðảng, toàn dân ta phải ra sức thực hiện đầy đủ nghị quyết của hội nghị thứ bảy của Trung ương” (67), tức là thực hiện chính sách ưu tiên phát triển công nghiệp nặng dù ở miền Bắc không có đủ điều kiện để làm việc đó- nhằm biến nền kinh tế miền Bắc thành một nền kinh tế hiện đại trong vòng 10 năm (68). Sau đó, năm 1964, trong một bài nói chuyện tại Bộ công nghiệp nặng, ông Hồ nhấn mạnh một lần nữa: “để xây dựng thắng lợi XHCN, chúng ta phải quyết tâm phát triển tốt công nghiệp nặng.” (69)

Phải chờ tới tháng 10 năm 1986 ông Trường Chinh mới thừa nhận rằng việc ÐCSVN thiên về phát triển công nghiệp nặng ở miền Bắc từ năm 1962 trở đi vượt quá khả năng thực tế của đất nước là một trong những “sai lầm ấu trĩ tả khuynh” (70) của ÐCSVN; và ý kiến này được nhấn mạnh một lần nữa trong Báo cáo chính trị của ông Trường Chinh tại Ðại hội 6 của ÐCSVN hồi tháng 12/86 (71).

Tiếp theo đó, ông Nguyễn Văn Linh, lúc đó là Tổng bí thư đảng, cũng thừa nhận, trong một bài diễn văn đọc tại hội nghị trung ương lần thứ 5 (tháng 6/88) rằng một trong những sai lầm có tính cách chiến lược của ÐCSVN trước đó là quá chú ý đến phát triển công nghiệp nặng trên quy mô rộng lớn, đồng thời bị coi nhẹ phát triển nông nghiệp và công nghiệp nhẹ (72).

*

Nhìn chung, chúng ta thấy nội dung kinh tế trong “TTHCM” như đã nói bên trên không khác gì lắm so với khía cạnh kinh tế trong tư tưởng của Mao Trạch Ðông (73). Ðiều này không có gì là lạ vì chính ông Hồ (dưới bút danh Trần Lực) đã từng hô hào Việt Nam nên áp dụng kinh nghiệm xây dựng kinh tế XHCN của Trung Quốc (74).

Sở dĩ chúng tôi phân tích khá chi tiết các khía cạnh kinh tế của “TTHCM” liên quan tới XHCN là để bù lại phần nào sự thiếu sót về phương diện này trong các quyển sách xuất bản ở trong nước. Trong những sách đó người ta thường chỉ nêu lên mục tiêu chung mà ông Hồ đã vạch ra cho CNXH ở Việt Nam như là “mọi người được ăn no, mặc ấm, sung sướng tự do” (75) mà cố ý không nhắc lại các chủ trương và chính sách cụ thể mà ông Hồ đã đề ra nhằm thực hiện mục tiêu nói trên. Hơn nữa, trong các quyển sách xuất bản trong nước, người ta tránh đối chiếu các chính sách của ông Hồ với hậu quả tai hại của nó cho đất nước, cho dân tộc. Và hậu quả tổng quát về mặt kinh tế là, như ông Võ Nguyên Giáp đã thừa nhận trong một hội nghị quốc tế về “TTHCM” tại Hà Nội năm 1990 là “nền kinh tế - xã hội [của Việt Nam] đang ở trong tình trạng trì trệ, nghèo khổ. Ðời sống của nhân dân cũng như năng suất lao động ... đang ở trong tình trạng thấp kém và lạc hậu hàng mấy thế kỷ, không những so với các nước phát triển mà so với cả những nước trong khu vực [Ðông Nam Á - VNT] (76).

Tình hình thực tế này hoàn toàn bác bỏ luận điệu lừa bịp của bộ máy tuyên truyền của ÐCS khi họ khẳng định rằng ông Hồ “là một vĩ nhân..., là người mở đường cho nước ta xây dựng phồn vinh (?) của đất nước.” (77)

1   2   3

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét