Thứ Tư, 7 tháng 7, 2010

Hạnh phúc trong tác phẩm Nhất Linh

Ðặng Tiến

(Tiếp theo và hết)

Nhất Linh yêu cuộc sống như yêu một nhân vật thân thiết, khi biết rằng sắp mất, hay yêu một tình nhân vì biết rằng sắp sửa phải xa nhau. Trong một trần gian không trọn vẹn, Nhất Linh tìm yêu những giấc mơ dang dở. Nhất Linh tạo một quan niệm hạnh phúc vừa tầm với kiếp người. Quan niệm đó bắt nguồn từ căn bản thực tế và bình dị trong tư tưởng dân gian Việt Nam, pha một ít huyền giải của Lão Trang; và không theo cái siêu việt, khô khan và tàn nhẫn của đạo giáo xem cuộc sống ngang với cõi chết. Nhất Linh bình thường và nhân đạo hơn, vẫn quý cuộc sống hơn hư vô, cho dù không tỏ ra say mê và tha thiết.

Trên một cây bàng nhỏ, những lộc non mới đâm, màu xanh non hơi phớt hồng. Chàng nghĩ cây bàng năm nào cũng nhớ đâm lộc, đã bao lần rồi vẫn chỉ như thế mà không chán. Chàng thấy cây cỏ cũng như người, khao khát được sống, tuy đời bao giờ cũng giống như bao giờ (18).

Đi từ nhận xét thông thường này, Trương trong Bướm Trắng không ham sống mà cũng không chán sống; biết rằng sắp chết, Trương xây dựng một thứ hạnh phúc vừa dung dị vừa siêu thoát. Trương sống vừa như là sẽ không bao giờ chết, và vừa như là mình không còn sống được bao lâu. Đây là điểm thâm trầm của tác phẩm và cũng là điểm sâu sắc nhất trong nghệ thuật sống của Nhất Linh. Kẻ trồng cây nếu biết rằng mình sẽ chết thì không bao giờ trồng cây, nhưng biết rằng mình sống đến thiên thu thì cũng không cần trồng cây: biết rằng mình chết mà vẫn làm như là mình sống đến thiên thu, đó là tâm trạng của Trương khi tìm cách chiếm hữu tình yêu của Thu.
Chàng chắc chắn sẽ chết, nên một cử chỉ ân cần cỏn con của Thu đối với chàng có cái huy hoàng ảo não của một thứ gì đó rất mong manh, nó xui giục chàng mở hết tâm hồn mà nhận lấy ngay trước khi nó tan đi mất (19).

Điều huy hoàng ảo não kia là sự dung dị thâm trầm trong tư tưởng Nhất Linh, niềm thâm u dễ bị hiểu lầm nhất. Hiểu một cách hời hợt thì là: Trương vị kỷ, muốn chiếm đoạt tâm hồn người đàn bà trước khi chết. Cử chỉ chiếm đoạt không phải là thái độ của một người yêu. Ở đây, Trương thật sự yêu Thu nồng đậm và tha thiết đến mức không ngờ tới; tình yêu mang đủ tính cách thu phục và dâng hiến, là một sự sáng tạo các giá trị, dù chỉ là sáng tạo trên những tâm hồn tự biết mong manh. Huy hoàng là phần của vĩnh cửu, ảo não là phần của mong manh, huy hoàng là tự quên trong mối tình của Thu ; và ảo não là tự quên trong các cuộc vui trác táng.
- Em...
- Anh!
Rồi hai người yên lặng hôn nhau, mê man trong cái thú thần tiên, bỡ ngỡ của cái hôn trao yêu thứ nhất trên đời. Hai mắt Thu mở to; Trương thấy trong và đẹp long lanh như thu hết ánh sáng của vùng trời cao rộng. Thu níu thật mạnh lấy hai vai Trương và nàng nói mấy tiếng rất nhỏ, nhỏ quá Trương không nghe thấy nhưng cũng đoán hiểu là nàng định nói:
- Em yêu anh.
Trương nhìn rất sâu vào hai con mắt Thu và đột nhiên chàng thấy đau khổ, có cái cảm tưởng rằng mình đã là người của một thế giới khác cách biệt, và Thu như đứng bên kia đường nhìn sang, mấp máy môi thầm gọi chàng một cách tuyệt vọng (20).
Hai lần nhìn vào đôi mắt người yêu trong khoảnh khắc một cái hôn, Trương đã thấy hai khuôn mặt của một chân lý, hai khuôn mặt tương phản mà trong Giao Cảm (Noces, 1938), Camus gọi là mặt trời và cõi chết. Trong đời Nhất Linh, ông tâm đắc nhất với tác phẩm Bướm Trắng nhưng chưa bao giờ ông giải thích được rõ ràng cảm tình đặc biệt của ông đối với tác phẩm. Ông cho rằng vì giá trị tâm lý; không hẳn thế vì bất cứ người nào đã bị bệnh một lần đều thấy cái tâm lý này rắc rối, không có gì sâu sắc. Nhưng trong thâm tâm, có lẽ Nhất Linh chuộng Bướm Trắng vì tác phẩm đã hô hấp nhiều hơi thở của tâm hồn ông nhất.
Nhất Linh trong sinh thời, đã tập yêu cái chết trong cuộc sống, để khi chết, có thể yêu cuộc sống trong cái chết; đó là đỉnh cao của nội tâm.
Mắt chàng vừa nhìn vào cửa sổ hé mở để lộ ra một khu vườn nắng. Chắc không bao giờ chàng quên được cái cảnh vườn nắng lúc đó những chòm lá lấp lánh ánh sáng và màu vàng của một bông hoa chuối tây nở ở góc giậu. Hình như trời nắng bên kia thế giới (21).
Bên kia thế giới trời nắng hay trời mưa? Ở đây Nhất Linh đã chọn hơi mưa phùn lất phất trên bến đò, cơn gió hay màu sương vàng lãng đãng bên kia mấy rặng soan thưa lá của dòng sông Nhị thấp thoáng như một giải lụa đào...
Giữa cuộc sống và cõi chết, biên giới tâm lý mong manh, trong suốt; cái nhìn trầm tĩnh của Nhất Linh xô động nhẹ nhàng trong môi giới mong manh, trong suốt đó: đạt tới một sự tâm giao nào đó giữa sống và chết, Nhất Linh không còn biết rằng mình đang chết trong cuộc sống hay đang sống trong cõi chết.
Khi ra đường nhựa, Trương thấy một đám ma ở phía trên đi đến. Chàng ngừng lại, đứng đợi thấy hay hay...
Bỗng Trương chớp mắt cố nhìn trong bọn người đi đưa; Trương tưởng mình đang nằm mơ và thoáng trong một lúc, chỉ mấy giây đồng hồ, chàng có cái cảm tưởng mình đã chết rồi; chàng nằm chết trong áo quan và sau áo quan là các bạn cũ của chàng đang đi kia.
- Một người chết vì ho lao lại có đủ trăm thứ bệnh thế là mình rồi còn gì? Hay là đám ma mình thật, chính mình nằm trong áo quan (22).
Soi khuôn mặt vào thời gian mà không biết mình đang ở trong hay đứng ngoài thời gian. Bướm mơ mình là Trang Tử hay Trang Tử mơ mình là bướm. Và Bướm Trắng có còn là bướm nữa không? Hay chỉ là một loài Ngựa Trắng không phải là ngựa thấp thoáng bên ngưỡng cửa Kiên Bạch của tư tưởng đông phương? Trang Chu mơ mình là bướm thì vui làm bướm mà không biết là Chu; đến khi biết là Chu thì vui làm Chu mà không biết mình là bướm. Trương cũng vậy, lúc biết mình sắp chết chàng không buồn, khi biết qua khỏi chết, Trương vẫn không vui. Niềm thanh thản khi được tình yêu, và khi mất tình yêu, vẫn là một bầu trời không có màu nên không đổi sắc.
Giờ thì chàng được sống và mất hẳn tấm ái tình đó nhưng chàng không thấy khổ lắm vì mất hẳn tình yêu của Thu và cũng không thấy vui lắm vì còn được sống ở đời... (23).
Các triết gia khi phân tích quan niệm hạnh phúc đông phương, thường nói đến một hạnh phúc tương đối. Đó là mâu thuẫn của danh từ, vì không làm gì có cái hạnh phúc tương đối, vì hạnh phúc chỉ là một sự yên tĩnh. Ngay chữ tương đối đã là một danh từ hàm hồ, vì nói mọi việc đều tương đối là đã chấp nhận một cái tuyệt đối: tuyệt đối của cái tương đối. Bao nhiêu băn khoăn đầu độc cuộc sống đã bắt nguồn từ một kiếp người hữu hạn. Hạnh phúc của Nhất Linh tạo cảm giác vô cùng trong phạm vi hữu hạn, là trồng một loài hoa đẹp trên một mảnh đất xấu. Nói khác đi, Nhất Linh không sống trong một thời gian, thì dĩ nhiên cũng không sống trong cái giới hạn của thời gian; ông làm sống thời gian trong lòng mình, và lòng Nhất Linh là một vô hạn, ông làm sống thời gian trong sự đợi chờ; và điểm tinh vi trong nghệ thuật sống của nhân vật Nhất Linh là chờ mà không đợi. Nhất Linh chờ một đối tượng, không phải vì cái đối tượng đó, mà vì cái thú đợi chờ.
Trương tẩn mẩn ngồi đợi cho gió im và bóng lá dần dần trở lại rõ hình (24).
Còn Dũng thì lại: sung sướng cái sung sướng vẩn vơ của một người đón chờ những sự vui mừng rất êm ái chưa đến nhưng biết chắc thế nào cũng đến (25).
Hạnh phúc không phải ở cơn gió hay chiếc lá, hay sự vui mừng kia; mà hạnh phúc là ở thái độ tẩn mẩn, vẩn vơ của sự chờ đón. Không gian chỉ là cái cớ, thời gian chỉ là phương tiện. “Nathanael, je te parlerai des attentes. J’ai vu la plaine pendant l’été, attendre; attendre un peu de pluie.
J’ai vu le ciel frémir de l’attente de l’aube; une à une les étoiles se fanaient.
J’ai vu d’autres aurores encore. - J’ai vu l’attente de la nuit...
Nathanael, que chaque attente en toi ne soit même pas un désir, mais simplement une disposition à l’accueil...
Nathanael, tôi sẽ nói với anh về những nỗi đợi chờ. Tôi đã thấy cánh đồng mùa hạ đợi chờ; đợi chờ dăm bảy hạt mưa.
Tôi đã thấy bầu trời xao xuyến đợi chờ buổi sáng; từng vì sao mờ phai dần dần.
Tôi còn thấy bao nhiêu bình minh khác. Tôi thấy niềm chờ đợi hoàng hôn.
Nathanael, mỗi niềm chờ đợi trong anh, hãy khoan là một ý muốn, mà chỉ là sự mở lòng đón tiếp.” (26).
Gide đã nói với Nathanael về những sự đợi chờ. Nhất Linh đã nói với Dũng, với Trương, với Ngọc, với chúng ta về những sự đợi chờ xao xuyến thời gian. Tâm hồn Nhất Linh vừa yên tĩnh vừa mãn nguyện như tia nắng trong vườn. Niềm mãn nguyện mênh mông trong không gian và thời gian, trước hết là một lối nhìn, thứ đến là sự tiếp đợi. Trương lim dim hai mắt nhìn quãng đê vắng tanh tưởng như con đường đưa người ta đến một sự xa xôi và yên tĩnh lắm (27).
Con đường không phải một người đi, mà Chi bộ hai người, ba người bộ hành cùng đi, người ta cùng đi. Con đường của nhân gian...

Hạnh phúc, cuối cùng là niềm mãn nguyện trong một nhân gian không toàn thiện.
Nếu Đôi BạnBướm Trắng đặt hạnh phúc trên tương quan giữa con người với không gian và thời gian, thì Giòng sông Thanh Thủy đặt hạnh phúc trên quan hệ giữa con người với kẻ khác. Câu chuyện xảy ra tại Côn Minh khoảng năm 1945, giữa những kẻ đấu tranh chống Pháp, lưu lạc sang biên giới Trung Quốc. Chủ đề ở đây, là hạnh phúc của con người dấn thân vào chính trị. Nói chuyện chính trị, Nhất Linh có thẩm quyền, vì đã hoạt động nhiều năm trong chính trường, cũng như khi qua đời ông đã tự chọn cái chết cho lý tưởng chính trị...
Nói chuyện hạnh phúc, Nhất Linh cũng có quyền hơn ai cả, vì như ta đã thấy, suốt đời Nhất Linh vẫn đi tìm hạnh phúc, từ trong cuộc sống đến trong cõi chết.
Như vậy những động thái trong tác phẩm có giá trị thực nghiệm: sự thật của lịch sử và sự thật của trái tim. Và thực chất của hạnh phúc con người chính trị là gì? Nhà chính trị trả lời: là hạnh phúc của kẻ khác, kẻ mà mình đang tranh đấu để phục vụ, giải phóng. Ở đây, Nhất Linh ngừng lời. Để người nghệ sĩ trong con người chính khách thong thả nói thêm: và đó cũng là niềm vui của tâm hồn, bên ngoài mọi giá trị của xã hội và lịch sử.
Dung hoà được hai cảm giác thường trái ngược ấy về hạnh phúc, là nhờ tâm trạng đặc biệt của con người đi vào đấu tranh chính trị. Nhân vật tiểu thuyết Nhất Linh đi vào chính trị mà không lý luận; không thấy họ dùng lý trí xét như thế là đúng, là cần thiết, cũng không phải vì tình cảm thúc đẩy chọn lựa con đường ấy. Nhân vật hư cấu của Nhất Linh (khác với chính khách Nhất Linh Nguyễn Tường Tam) thoát ly đi đấu tranh một cách tự nhiên, không phân tích, không lý luận, nhất là không tuyên truyền. Dũng tham gia chính trị vì chán sống cảnh gia đình, Ngọc tham gia vì buồn khi người yêu chết, Thanh vì giận chồng phụ bạc, Tứ vì bực mình gia đình vợ, Nam vì vô tình giết người, Thái vì không biết làm gì nữa...
Họ tham dự tranh đấu mỗi người với một ẩn tình riêng, không ai giống ai cả. Nhưng vấn đề là từ những lý do khác nhau đó, vì sao họ chọn một giải pháp giống nhau là thoát ly đi đấu tranh chống Pháp? Có lẽ hoàn cảnh đã tạo nên một tiềm thức chung cho một thế hệ thanh niên - mà CG. Jung gọi là conscience collective - và tiềm thức tập thể đã đưa thế hệ ấy lên đường. Nói một cách khác người kháng chiến, dưới mắt tác giả Nhất Linh, không oai hùng gì cả, vì họ không thể không làm, và sống khác đi. Và tác phẩm Nhất Linh cũng làm nổi bật cái bình thường của đời sống cách mạng.
Đã có lần tôi nói với anh về kiếp con người và cái guồng máy, mỗi người đều có một kiếp, mọi hành động đều do những sức mạnh ngấm ngầm trong con người mình thúc đẩy. Cuộc đời của mình, nghĩa là cuộc đời anh, cuộc đời tôi, cũng như đời Tứ, Nghệ, đời của chị Nam y tá ... Văn Sơn, đi vào con đường nào đều do sức thúc đẩy mà không ai tự biết, tuy ai vẫn tưởng chính mình lựa chọn (28).
Có người tưởng và tự hào rằng mình đã chọn lựa con đường tranh đấu, kỳ thật có khi họ bị Lịch sử chọn lựa, và đưa vào Guồng máy. Trên ý thức khiêm tốn đó, nhân vật hư cấu của Nhất Linh đi vào chính trị một cách tự nhiên, và danh từ «tự nhiên» là một chìa khoá khác của hạnh phúc Nhất Linh. Ngọc, khác với tác giả Nhất Linh, là một bản chất nghệ sĩ, nên làm chính trị một cách nghệ sĩ. Sở dĩ nghệ sĩ mà không chuyên vẽ hay làm thơ không thôi, mà lại vừa vẽ, làm thơ lại vừa làm lịch sử, đó chẳng qua là tình cờ của hoàn cảnh đưa đẩy. Nhân vật tiểu thuyết Nhất Linh tình cờ làm lịch sử, họ là những con người «lạc đường vào lịch sử», nói theo cách ai đó, một người cùng thế hệ với Nhất Linh.


Hạnh phúc vẫn là cách sống thật với chính mình. Ngọc là nghệ sĩ, yêu vẻ đẹp của không gian; cho nên khi đi công tác - một công tác cực kỳ nguy hiểm - Ngọc cố ý chọn con đường thấp vì con đường cao có nhiều phong cảnh đẹp chàng để dành khi nào được cùng đi với Thanh (29).
Ngọc còn là một bản chất si tình, nên dù là cán bộ tin cẩn của Việt Quốc, anh vẫn yêu Thanh là cán bộ Việt Minh, trong khi hai đảng chống đối nhau một mất một còn. Đi công tác về, mặc dù biết đảng bộ đợi chờ, chàng ghé lại thăm Thanh để uống cà phê trước, rồi mới về đảng bộ. Lúc các đồng chí nghi ngờ, Ngọc thẳng thắn xác định.

Chị đừng vơ đũa cả nắm. Đối với tôi công việc là công việc. Tình yêu là tình yêu. Chị thử nhìn vào mắt tôi, chị sẽ hiểu (30).
Như vậy vấn đề đã rõ rệt. Chính trị và hạnh phúc là hai câu chuyện khác nhau. Đặt vấn đề hạnh phúc trong tương quan chính trị như tôi đang làm là đặt một giả vấn đề, làm cái việc vơ đũa cả nắm có tính cách thuyết trình giáo khoa.
Điểm sâu sắc và cảm động nhất của Giòng sông Thanh Thuỷ là hạnh phúc của con người tranh đấu vẫn nằm ở ngoài phạm vi chính trị, và con người chiến đấu một cách thích thú vì những giá trị nằm ngoài cái thắng và cái bại, nghĩa là vì những giá trị không phải là chính trị.
Nhà văn Nhất Linh vẫn hồ nghi Lịch sử, vì con người ngàn năm vẫn không thay đổi. Và trần gian chỉ có một giá trị là cái đẹp.
Sau này còn đâu Việt Quốc, Việt Minh, nhưng bóng trăng lòng sông Xích Bích những câu phú hay của Tô Đông Pha muôn thuở còn mãi. Lâu bền nhất, thực nhứt chỉ là cái Đẹp.
Nhất Linh, tín đồ chung thủy của mỹ đạo, trong Giòng Sông Thanh Thủy, đã dùng con đường mang tên Lịch sử để đi tìm vẻ đẹp của trần gian, một trần gian không toàn thiện cũng không toàn mỹ, nhưng là quê hương duy nhất của hạnh phúc.
Chúng mình bỏ không làm cách mạng nữa mà cũng chẳng cần đi tìm Thiên Thai cho tốn công. Thiên Thai là cái nhà này...
Thiên Thai cũng là hư vô (31).

Chúng ta đã theo Nhất Linh, mong mỏi tìm được một vài cao điểm trong tâm hồn ông. Một tâm hồn nghệ sĩ giàu văn hóa dân tộc và dân gian, phảng phất thiền tông và đạo giáo, đã vượt khỏi tôn giáo và triết học để đạt tới hạnh phúc giữa hiện hữu và hư vô. Không phải là thứ hạnh phúc trừu tượng, sách vở, mà niềm vui cụ thể, bình dân, trong đời sống hằng ngày: tô phở chua, bát phở cừu, bữa cháo lòng, ốc sống, điếu thuốc thơm, ly rượu đượm, tách cà phê thật đậm, bát canh rau ngót, tô bún riêu, chiếc bánh lá gai bến đò Gió... Nhất Linh thèm những hương vị tầm thường nhất của trần gian và yêu khuôn mặt dung dị nhất của đời sống. Nhân vật Nhất Linh không yêu đàn bà đẹp: Ngọc đã chọn Thanh tuy Thanh không đẹp bằng Phương, cũng như Trương chọn Thu không phải vì nữ sắc mà vì một vẻ gì là lạ của tâm hồn. Nhân vật của Nhất Linh, như Ngọc, xem cuộc đời là một cuộc ngao du dài, như Trúc xem đời là một cuộc du lịch không bờ bến, các nhân vật đó không bao giờ nhốt hạnh phúc trong vòng hôn nhân với gia đình, không nhốt dòng suối Améles trong chậu, như lời Platon. Do đó, nảy sinh những mối tình không trọn vẹn, và đẹp trong sự dang dở: Ngọc yêu Thanh vì hai người thuộc hai đảng đối lập, khó đi đến hôn nhân, Trương yêu Thu bên này bên kia biên giới của cõi sống-chết, Dũng yêu Loan vì Loan đã đính hôn với người khác, Trúc yêu Hà ở phút chia ly ngoài hàng dậu. Tình yêu ngoài ràng buộc hôn nhân đó mang tính cách lý tưởng, pla-tô-níc, nghĩa là không có sự cọ xát của làn da, mà chỉ là cái nhìn trong suốt, có khi không có lời tỏ tình, mà chỉ là cái nhìn thầm lặng.
Thấy Dũng bắt gặp mình đang nhìn trộm, Loan vội nhắm mắt lại làm như ngủ, song biết là Dũng đã trông thấy rồi, nàng lại vội mở mắt ra, rồi qua những ngọn lá cỏ rung động trước gió, hai người yên lặng nhìn nhau (32).
Hạnh phúc của Nhất Linh chỉ thu gọn trong một tia nhìn. Bài học Nhất Linh khép mở trong chớp mắt của Loan, chớp mắt chứa đựng một ngàn chân lý đang nuôi dưỡng cuộc sống.
Kích thước của tâm hồn Nhất Linh đã được đo bằng không gian của Đôi Bạn thời gian của Bướm Trắng. Nhân gian trong Giòng sông Thanh Thủy là chu kỳ thứ ba trong thông điệp Nhất Linh và đồng thời cũng là lời nói cuối cùng của một nhà hiền triết. Hơi thở Nhất Linh đã mãn nguyện nên đã dừng lại ở lời nói cuối cùng mà dư âm còn vọng lại:
Thanh tự nhiên thấy mình vui mê man không hiểu vì lẽ gì; tâm hồn nàng phiêu diêu trong một niềm vui và cảm thấy niềm vui ấy như không bao giờ hết nữa khiến nàng rờn rợn có cái cảm giác tưởng rằng cái gì cũng không thật. Đời sống chỉ là mơ, niềm vui cũng chỉ là mơ. Thanh tự nghĩ nếu có chết nàng sẽ hoá thành một giấc mơ vui rồi khi giấc mơ ấy tan đi là chết là hết. Nàng chắc cả vũ trụ này đến ngày tận thế cũng vậy cũng biến thành một niềm vui bao la rồi cứ thế hoà loãng tan dần đi trong cái mênh mông của hư vô, không có sự chết không có sự sống và ngay đến cái hư vô cũng không có nữa.
Thanh bỏ rơi bông hoa trà cầm ở tay rồi nhìn theo: bông hoa rơi, rơi mãi cho đến khi không thấy nó đâu nữa. Nàng nói:
- Thế là hoa đã biến vào vực thẳm, biến vào hư vô. Lúc nãy tôi muốn nhẩy xuống là để biết vực thẳm, hư vô ra sao, chắc tôi cũng có cái thú của một hạt muối tan trong nước (33).
Làm sao sống được giây phút cuối cùng trong tâm hồn Nhất Linh để biết những cảm giác của ông giờ lìa xa cuộc sống? Có thể là cảm giác một hạt muối tan trong nước. Khi đọc lại những suy tư của Thanh trong đoạn trên, tôi vẫn băn khoăn không hiểu cái chết của Nhất Linh là một hành động chính trị hay chỉ là một thí nghiệm của hư vô? Người đọc sẽ bảo: bức thư tuyệt mệnh của Nhất Linh còn đó.
Nhưng tôi muốn hỏi thật các nhà văn còn sống: có tác phẩm văn nghệ nào không phải là một lá thư tuyệt mệnh? Có di chúc nào thành thật hơn một văn nghệ phẩm dù được sáng tác trong thời kỳ dồi dào sinh lực nhất của một đời người? Di chúc của loài tằm không phải là xác nhộng, mà là những sợi tơ.
Hạnh phúc trong tác phẩm Nhất Linh là những sợ tơ lấp lánh mà trong Đôi Bạn Nhất Linh gọi là những sợi tơ vừa tan đi cùng ánh sáng.
Hơi thở của Nhất Linh đã truyền cái khí hậu nồng ấm của Gide vào không gian tê tái của Tolstoi, đã làm tan phấn bướm Trang Chu vào cõi chân không tịch mịch.
Trên những kinh nghiệm của ý thức và tâm cảm đó, Nhất Linh tạo một thứ hạnh phúc vừa với vóc dáng mình, cái vóc dáng trong một không gian không hoàn mỹ, một thời gian không vĩnh cửu và một nhân gian không toàn thiện. Như người thợ may tinh tế kia suốt đời chỉ may có một tấm áo lụa mỏng phong phanh, một chiếc áo cho chính bản thân. Người đời sau đừng nên cho rằng nghệ thuật sống đó chỉ phù hợp với Nhất Linh, với những điều kiện tinh thần và thể chất của riêng một Nhất Linh. Hay của một thời đại. Vì đó cũng chính là điều Nhất Linh muốn truyền đạt.
Những gì siêu việt nhất trong nghệ thuật sống của Nhất Linh nép trong kinh nghiệm tầm thường này: co giãn tự nhiên, hồn nhiên, và thản nhiên. Thản nhiên, hồn nhiên, tự nhiên tôi muốn nghe lập lại ngàn lần lời nói từ đỉnh núi vòi vọi của thời đại vọng đi. Tôi muốn nhắc lại với thâm tâm tôi rằng thảm kịch của cô Loan trong Đoạn Tuyệt không phải ở sự tranh chấp giữa hai xã hội mới và cũ như người ta thường hiểu, mà ở một điểm mâu thuẫn ở nội tâm mà Loan không giải quyết được lúc vào đời. Loan, đối với bản thân Nhất Linh, là sự đoạn tuyệt các giằng co, Loan là giai đoạn con tằm trở thành bướm trắng bay tự nhiên. Từ Đôi Bạn Loan bay hồn nhiên, bay thản nhiên trong vòm trời hạnh phúc.
Hạnh phúc của một loài bướm không tên bay qua không gian, bay qua thời gian, bay qua nhân gian, hay chính là cái không gian, cái thời gian và cái nhân gian đó. Bao giờ con Bướm Trắng bay đến hư vô thì hư vô sẽ là hạnh phúc.
Con bướm trắng một đêm khuya đã bay vào phòng tôi, qua khung cửa sổ bỏ quên. Bên này triền cửa sổ là hạnh phúc nhỏ bé của căn phòng; bên kia là Nhất Linh.
Về phía bên kia cánh đồng, ánh đèn nhà ai mới thắp, yếu ớt trong sương trông như một nỗi nhớ xa xôi đang mờ dần... (34).

Trời muốn trở rét...

Đà Lạt, 18 - 6 - 1965
Đọc lại, Orléans, ngày giỗ Nhất Linh, 7-7-2010



Chú thích:

18. Bướm Trắng, Ấn bản Đời Nay, 1961 và 1966, tr. 65.
19. Bướm Trắng, tr. 217.
20. Bướm Trắng, tr. 148.
21. Bướm Trắng, tr. 84.
22. Bướm Trắng, tr. 245.
23. Bướm Trắng, tr. 226.
24. Bướm Trắng, tr. 81.
25. Đôi Bạn, tr. 30.
26. André Gide - Les nourritures terrestres, NRF, nxb Gallimard.
27. Bướm Trắng, tr. 250.
28. Giòng sông Thanh Thủy, I, tr. 130.
29. Giòng sông Thanh Thủy, III, tr. 143.
30. Giòng sông Thanh Thủy, II, tr. 159.
32. Đôi Bạn, tr. 205.
33. Giòng sông Thanh Thủy, II, tr. 140
33. Câu cuối của bài khảo luận là câu cuối của Đôi Bạn.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét