Thứ Tư, 7 tháng 7, 2010

Hạnh phúc trong tác phẩm Nhất Linh

Đặng Tiến


Nhớ Vũ Khắc Khoan, người đi trước


- Trời muốn trở rét...

Nói xong và nghe tiếng mình nói, Trúc nhớ lại rằng câu ấy chàng đã thốt ra nhiều lần, năm nào cũng vậy. Sự rung động êm ái và hiu hắt buồn trước cơn gió lạnh đầu tiên khiến vẻ mặt Trúc trở nên dịu dàng và thoáng trong một giây chàng sống lại hết cả những ngày mới trở rét trong đời.

(...)Tuy đã cuối tháng chín nhưng đối với Trúc cứ lúc nào trời đổi gió heo may mới thực là lúc bắt đầu mùa thu (1).

Với một nhà văn lớn, viết là sống, và sống cuộc đời sâu thẳm nhất của mình. Nghệ thuật thể hiện trên trang giấy là hơi thở của tâm hồn, hơi thở hồn nhiên, dồn dập hay thanh thản. Với Nhất Linh, viết là một nhu cầu, một hạnh phúc. Trước khi viết cho người khác đọc, ông viết cho chính mình; đọc Nhất Linh ta có cảm tưởng tác giả hưởng thụ văn mình, hưởng thụ cảm giác những lời văn gợi ra, như đó không phải là lời văn của chính mình nữa. Nhất Linh hô hấp không khí trong tác phẩm mình một cách lạc thú như người ta hô hấp một không gian hằng mơ ước; một văn nghệ phẩm, nhìn dưới khía cạnh nào đó, bao giờ cũng là giấc mơ sự thật, Nhất Linh sống sự thật của những giấc mơ mà mình thể hiện trên trang giấy.

Do đó đề tài hạnh phúc là chủ đề căn bản trong tác phẩm Nhất Linh, là nguyên lý cấu tạo, hình thành và thể hiện tác phẩm, ít nhất cũng là trong tương quan với tác giả; quan hệ này được xác nhận qua mối gắn bó mật thiết, chung thủy giữa tâm hồn tác giả và tác phẩm, từ một Nhất Linh mới bước vào văn giới đến Nhất Linh lúc lìa đời. Quan niệm nghệ thuật Nhất Linh từ Đoạn Tuyệt, 1935, tới Đôi Bạn 1936, cách nhau một năm, hay về sau, từ Đôi Bạn đến Xóm Cầu Mới quả có thay đổi, nhưng quan niệm hạnh phúc của Nhất Linh từ những đêm trăng của Nho Phong, 1924, đến buổi bình minh trong Vọng Quốc, 1961, vẫn nhất quán.

Vì hạnh phúc là chiều hướng của tiềm thức; người ta có thể thay đổi quan điểm của ý thức, ai làm sao xoay chiều được ý hướng của thâm tâm?



*



Hạnh phúc là một cảm giác, là một chiều hướng; trước khi là một quan niệm. Và quan niệm hạnh phúc, trong mỗi người là nguồn gốc của thái độ nhân sinh; nói khác đi, nhân sinh quan không phải là tổng số, mà là hàm số của cảm giác.

Chiều hướng hạnh phúc trong tiểu thuyết Nhất Linh nghiêng theo độ dốc của thiên nhiên. Nhất Linh sống trong nỗi hoài nghi êm ả của Lão Trang, và nói theo Lâm Ngữ Đường, thì nhân vật Nhất Linh “tự lấy làm mãn nguyện trong một thế giới không hoàn mỹ” (2). Đó là yếu tố cơ bản mở rộng tâm hồn Nhất Linh thành một sự chờ đón mông mênh. Tư tưởng Lão Trang đã phảng phất trong không gian buồn nhẹ, êm ái trong Đôi Bạn; đến Bướm Trắng, 1939 ảnh hưởng ấy đã hiện hình rõ rệt qua đề tài của tác phẩm, qua thái độ con người trước cõi sống và cõi chết, trước sự phân biệt thị phi, tốt xấu, và ngay tiêu đề của tác phẩm cũng đã chất chứa hình ảnh của một loài Bướm Trắng chuyên chở cuộc sống về biên giới của hư vô, chập chờn trong giấc mộng Trang sinh. Khuynh hướng siêu thoát, đợi đến giai đoạn cuối đời, Nhất Linh mới thừa nhận trực tiếp: trong cuộc sống ông đã đi tìm thanh thái trong những đóa lan rừng bên dòng suối Đa-mê. Trong nghệ thuật, ông thể hiện ý hướng thoát tục qua nhân vật Ngọc và Lan trong Giòng sông Thanh Thuỷ. Thật ra ý hướng siêu thoát của Nhất Linh, từ đầu đã mang hơi hướm Lão Trang, tan loãng trong thời gian; nhân vật Nhất Linh chưa bao giờ có quan niệm vị kỷ của Dương Chu, cũng không theo hệ thống giáo điều của Nam hoa kinh. Ở đây, Nhất Linh thoả hiệp nét cường tráng, dấn thân của Mạnh Tử và cái vô vi, thoát tục của Trang Chu trong một nhân sinh quan Á Đông, gần với dân gian, hay tư tưởng Việt Tộc, thời Lý Trần, hơn là những Chu Liêm Khê hay Trương Hoành Cừ thời Tống Nho. Nói khác đi, Nhất Linh đã quan niệm hạnh phúc chỉ ở lòng mình, hạnh phúc chỉ ở sự yên tĩnh của tâm hồn (3). Câu này Nhất Linh viết khoảng 1935, và suốt đời ông, ông vẫn quán hạ. Con người nghệ sĩ của nhà văn Nhất Linh nghiêng về khuynh hướng thoát tục của Lão Trang hơn là khuynh hướng nhập thế của Khổng Mạnh, và khi con người chính trị trong Nhất Linh lùi bước, khi Nhất Linh ngán ngẩm thế quyền ước ao rời bỏ chính trường, thì ông cho những nhân vật dấn thân, chiến đấu, của Giòng sông Thanh Thủy ngâm thơ Tào Đường, còn chính bản thân ông thì đi tìm trong những đoá lan rừng một chút hương thơm mộng, một thoáng mơ tiên thoảng xuống trần (4).

Giai đoạn cuối của đời ông, khuynh hướng xuất thế đã nhuốm màu sắc thần tiên của đạo giáo.



Nhưng người công dân Nhất Linh, chính khách Nguyễn Tường Tam vẫn dấn thân vào thời cuộc, nhận lãnh trách nhiệm trước lịch sử và tự chọn cái chết. Làm nhớ nhân vật Kyo trong Thân phận làm Người , La Condition Humaine, 1933, của nhà văn - chính khách André Malraux:
“Anh vẫn hằng nghĩ rằng: thật đẹp khi chọn cái chết của mình, cái chết đồng dạng với kiếp sống. Và chết là thụ động, nhưng tự vẫn là hành động” (Il a toujours pensé qu’il est beau de mourir de sa mort, d’une mort qui ressemble à sa vie. Et mourir est passivité, mais se tuer est acte.» (5)

Trên nền tảng trung hoà giữa minh triết và vô vi đặc biệt của đông phương này, nhiều lớp phù sa mới đã bồi vào thế hệ Nhất Linh; nhiều người trực tiếp hay gián tiếp chịu ảnh hưởng của văn hào Pháp quan trọng thời đó là André Gide. Trong văn nghiệp, tuy thỉnh thoảng có nhắc qua tên Gide, Nhất Linh chưa bao giờ bày tỏ cảm tình đặc biệt nào với Gide, như là với Leon Tolstoi, hay Somerset Maugham... Nhưng Nhất Linh sang Pháp khoảng 1927-1930, giữa giai đoạn khí hậu văn học Pháp đang thịnh hành tư trào gọi là gidisme, giải phóng nhục cảm, và giữa lúc Nhất Linh đang sống tuổi hai mươi niềm nở, hăng say. Trong tâm hồn Nhất Linh, và giới trí thức tân học thời đó, khuynh hướng vô ngã của Đông phương đã cọ xát với cá nhân chủ nghĩa sôi nổi của Tây phương, cái nhìn viên hoạt hiếu hoà của Lão Trang, phải thử thách với sinh lực hiếu động của Nietzsche.



Cuộc hôn phối ngang trái giữa hai nguồn tư tưởng ngược chiều này đã tạo ra hạnh phúc diễm lệ trong tác phẩm Nhất Linh.

Hạnh phúc theo Lão Trang là thái độ vô vi; trái lại Gide chủ trương tra tấn cuộc đời mới chiếm đoạt được hạnh phúc, thứ hạnh phúc toàn diện, tuyệt đối xây dựng trên một số mệnh được khắc phục. Trực tiếp hay gián tiếp, Nhất Linh học được của Gide giá trị của cảm giác, phương pháp khai thác, phát triển ngũ quan để tiếp nhận, để tận hưởng hương vị của trần thế. Nhất Linh học của Tây phương lối hưởng thụ tự do, ngoài sự ràng buộc của hôn nhân, những ràng buộc sẽ làm tê liệt cảm giác, giam hãm tâm trí, đày đoạ thời gian. Nhất Linh học được của Gide cách đầu tư tâm hồn vào việc phân tích, tra vấn cảm xúc, cách bắt chợt hạnh phúc đang qua, cách chờ đợi hạnh phúc đang đến, cách thụ hưởng đến tối đa những niềm vui nhỏ bé nhất. Gide bảo:
“Nathanael, tôi sẽ dạy anh say sưa... Nathanael, lòng thèm muốn đến đâu, tôi sẽ đi đến đấy... Nathanael, hãy ngắm nhìn những nơi anh đi qua, nhưng đừng bao giờ dừng lại... Điều quan trọng ở trong cái nhìn của anh chứ không phải ở vật anh nhìn... Nathanael, nói thật với anh rằng những ham muốn làm tôi lạc thú hơn là khi đạt tới điều ham muốn... Hãy đi vào vườn lạc thú với những phương tiện ít ỏi nhất. Không nên sở hữu gì cả. Không nên chọn lựa, vì chọn lựa là từ chối, là không bao giờ hưởng được những cái còn lại, mà muôn ngàn cái còn lại sẽ có giá trị hơn một đơn vị anh lựa chọn.

Nathanael, mỗi phút chờ đợi, trong anh khoan là một ham muốn, nhưng hãy là một thái độ sẵn sàng tiếp nhận; hãy chờ những gì đang đến với anh; nhưng chỉ nên ước muốn những gì thuộc về anh, những gì của anh...

Nathanael, đừng phân biệt Thượng đế với Hạnh phúc” (6).

Giáo điều của André Gide đã trở thành một thứ thánh kinh cho một thế hệ thanh niên nào đó. Lời khuyên của Gide sẽ ngân vang trong một thời đại, và dư âm xa xôi còn vọng từ Pháp sang các nước thuộc địa, như trong tác phẩm Nhất Linh hay tùy bút Nguyễn Tuân những năm 1940. Dĩ nhiên là đến Nhất Linh, âm hưởng ấy đã phôi pha rất nhiều, đã phân hoá trong điều kiện xã hội Việt Nam, tinh thần của Nhất Linh. Nhưng đọc Đôi Bạn, Bướm Trắng, Giòng sông Thanh Thủy..., qua những im lắng đón chờ hạnh phúc, ta không thể nào không nghĩ đến Lương thực trần gian (Les Nourritures Terrestres) của André Gide (1869-1951).

Có thể, đối với Nhất Linh, Gide không phải là tri kỷ, nhưng ít ra, Gide cũng là một thời đại. Tolstoi, cũng đã làm nên một thời đại, lại có một ảnh hưởng quyết định khác, trong tư tưởng Nhất Linh, ảnh hưởng mà Nhất Linh đã nhiều lần công nhận một cách mãn nguyện. Thật ra, Nhất Linh chỉ nhận mình chịu ảnh hưởng của Tolstoi về kỹ thuật tiểu thuyết. Nhưng, trên nguyên tắc “văn tức là người” chúng ta tự hỏi tại sao Nhất Linh lại yêu mến “văn” Tolstoi đến không ngớt lời ca tụng trong Viết và đọc tiểu thuyết. Kỳ thật là vì Nhất Linh tự yêu mình qua tâm hồn Tolstoi, và qua văn Tolstoi. Khí hậu trong tiểu thuyết Tolstoi mang đến cho Nhất Linh nỗi u hoài hiu hắt và êm ái của đợt nắng cuối năm lảng vảng trên các ngọn đồi. Nhất Linh trên con đường tìm đến hạnh phúc, đã gặp Tolstoi trong niềm im lặng quạnh hiu của cánh đồng thảo nguyên cỏ chạy đến chân trời. Hai tâm hồn đã gặp nhau trên hạt sương long lanh đọng ở đầu đọt lá. Stefan Zweig đã mô tả nghệ thuật của Tolstoi bằng những lời lẽ, nếu áp dụng vào nghệ thuật Nhất Linh có lẽ cũng không sai bao nhiêu:
“Nghệ thuật ấy, có thể gọi được là nghệ thuật của mùa thu: mỗi đường nét in rõ rệt như cắt trên chân trời không núi đồi của những cánh đồng cỏ nước Nga, và mùi hương xót xa của những nhân vật đang úa héo, đang tàn phai phảng phất trong những khu rừng mờ nhạt; không thấy mặt trời, chỉ đoán chừng là có nắng...

Trong thiên nhiên của Tolstoi, người ta luôn luôn có cảm giác mùa thu; mùa thu sắp chuyển sang đông, cái chết sắp tràn vào vũ trụ, và con người, con người muôn đời trong mỗi chúng ta sắp ngừng sống. Thế giới Tolstoi là thế giới không mơ mộng, không ảo giác, một thế giới trống trải đến tàn nhẫn, thế giới không có Thượng đế”
(7).

Hạnh phúc trong Tolstoi là niềm vui nhẹ nhàng của con người chấp nhận những điều kiện của trần gian, niềm vui đơn sơ của những tâm hồn mộc mạc sống với thiên nhiên, không bao giờ ao ước một đời sống khác hay tra vấn thân phận để tìm ý nghĩa cuộc sống. Nhất Linh học được của Tolstoi lẽ tương đối của luật tiến hoá để biết rằng con người ngàn năm vẫn không thay đổi. Nhân vật Nhất Linh cũng như nhân vật Tolstoi không có những băn khoăn siêu hình xa lìa cuộc sống mà chỉ sống cuộc đời thản nhiên, bình dị. Nhưng hạnh phúc của Tolstoi là một thứ hạnh phúc u trầm, lạnh nhạt, Nhất Linh nghĩ nghệ thuật của Tolstoi đã gần tới được tuyệt đích song còn thiếu chút duyên của nụ cười quyến rũ (8).

Dĩ nhiên là Tolstoi không có được nụ cười hiền triết của đông phương, nụ cười mà Nhất Linh đã đi tìm mà không gặp trong cuốn Đi Tây, nụ cười đó chỉ mới duyên dáng trên môi của Trúc trong Đôi Bạn sẽ trở thành hồn nhiên quyến rũ trên môi Ngọc trong Giòng sông Thanh Thủy. Một nét nghệ thuật phúng thế, nét u mặc, uy mua (humour) vẫn có trong tâm hồn Việt Nam.

Nhất Linh gặp Tolstoi ở ý hướng gửi gắm hình ảnh của mình vào nhân vật. Nhân vật của Tolstoi thường mang khuôn mặt của tác giả, từ Olénine trong les Cosaques, đến Pierre trong Guerre et Paix, Lénine trong Anna KarénineSaryzine trong La Lumière dans les Ténèbres. Trong tác phẩm của Nhất Linh, người đọc bắt gặp rất nhiều lần khuôn mặt của tác giả qua Dũng và Trúc trong Đôi Bạn, Trương trong Bướm Trắng, Ngọc, Tường, Ninh, Thanh trong Giòng sông Thanh Thủy; và nhiều nét quen thuộc trong các truyện ngắn từ Hai Buổi Chiều Vàng, 1934, đến Mối Tình Chân, 1948. Hạnh phúc của nhân vật chính là hạnh phúc của bản thân Nhất Linh, một cánh bướm trắng từ tư tưởng Lão Trang nương theo những cơn gió mới của Tây phương bay đi tìm Thiên Thai của lòng mình.



Sau khi truy tầm những yếu tố đã cấu tạo hay ảnh hưởng đến quan niệm hạnh phúc Nhất Linh, chúng ta sẽ xét những đặc tính của hạnh phúc đó trong không gian, trong thời gian, và trong nhân gian.

Hạnh phúc, trước hết là cảm giác tự mãn trong một không gian không hoàn mỹ. Hạnh phúc của Dũng trong Đôi Bạn là cuộc khám phá thầm lặng vẻ đẹp của một thế giới không tuyệt mỹ.

Nhân vật Nhất Linh mở cả năm giác quan để đón đợi sự khám phá đó, trải rộng đời sống cho mối tiếp xúc giữa tâm hồn và ngoại cảnh. Cảm giác phải bén nhạy, phải căng thẳng, một “không gian như có dây tơ” đón chờ cơn gió nhẹ thổi qua, như mặt nước hồ im, ghi nhận những xao xuyến nhẹ nhàng của ánh nắng, như bầu trời trong, thật trong, tựa hồ không có nữa, để nâng hờ một mùi hương không tên nhẹ thoảng. Ngũ quan phải được giáo dục thẩm mỹ tinh vi, tinh vi đến chỗ không còn phân biệt được một cảm xúc, một cảm giác và một cảm tưởng: tất cả đều xoá nhòa trong vạt nắng nghiêng từ nội tâm đến ngoại giới.

Bóng chiều xẫm dần, không khí mỗi lúc một trong hơn lên, trong như không có nữa, mong manh như sắp tan đi để biến thành bóng tối. Một mùi thơm nhẹ thoảng đưa, hương thơm của tóc Loan hay hương thơm của buổi chiều? Mắt Loan lặng nhìn Dũng; nàng nói:
- Em nghe thấy tiếng sáo diều ở đâu đây (9).


Đặc tính của không gian hạnh phúc bắt nguồn từ thực tế của cảm giác mà đồng thời phải xa lìa thực tế đó để đồng hoá trong tâm linh, để tan thành niềm vui. Ánh sáng phải sắp sửa không còn là ánh sáng nữa, mùi hương mơ hồ như không còn là mùi hương nữa, tiếng sáo chợt quên xuất xứ; không gian loang ra, tan đi, mờ dần để không còn là một không gian nữa mà trở thành sự hoà hợp dìu dặt giữa nội tâm và ngoại giới trong niềm vui bất tận của cuộc sinh tồn nhất thể.

Mùi hoa khế đưa thoảng qua, thơm nhẹ quá nên Dũng tưởng như không phải là hương của một thứ hoa nữa (10).

Phải, đó chỉ là niềm vui của tâm hồn tan ra trong trời đất và đậu lại trên một cánh hoa. Không phải là hương hoa khế, hay hương tóc Loan hay hương buổi chiều, mà chỉ là hơi thở của tâm hồn dừng lại giữa biên giới của thực tế và hư vô. Tâm hồn Nhất Linh là giao thoa giữa trăm vạn mùi hương, hương hoa khế, hoa cau, hương gỗ mục và đất mới xới, hương cốm, hương lúa chín, hương lá hồi vò nát trong tay, hương vỏ cam, hương ngâu, hương lài, hương lan rừng, hương bưởi, hương khói pháo một đêm trừ tịch...

Những mùi hương cường độ khác nhau luôn luôn phảng phất. Hương là bản chất của thực tế nhưng của một thực tế không còn cụ thể nữa mà đang vượt vật thể để thăng hoa thành trừu tượng, để trở thành yếu tính. Hương là bản chất của ngoại giới, nhưng của một ngoại giới không còn vị trí nữa, mà đang tan thành cảm giác. Hương là bản chất của không gian nhưng của một không gian không còn kích thước đang trở thành thời gian lăn chậm.

Hương là niềm vui vừa thành hình vừa tan biến, vừa tự hủy để còn tồn tại mãi mãi.

Đó là một thứ hương lạ để đánh dấu một khoảng thời khắc trong đời. Dũng thấy trước rằng độ mười năm sau thứ hương đó sẽ gợi chàng nhớ đến bây giờ, nhớ đến cái phút chàng đứng với Loan ở đây. Cái phút không có gì lạ ấy sẽ ghi mãi trong lòng chàng cũng như hương hoa khế hết mùa này sang mùa khác thơm mãi trong vườn cũ (11).

Hương là yếu tính của hạnh phúc. Một thứ hạnh phúc trọn vẹn, ảo biến, không thể phân tích, không thể xác định, không thể từ chối cũng không thể gìn giữ. Mùi hương di chuyển từ một hình thể này sang một hình thể khác.

Hai người đi qua một quãng đường nức mùi thơm của một cây bưởi gần đó. Trời im gió nên ra khỏi chỗ hương hai người tưởng như vừa ra khỏi một đám sương mù làm bằng hương thơm của hoa bưởi đọng lại (12).

Mùi hương đổi toạ độ giác quan, đi từ cảm giác này sang cảm giác khác:
Những bó lúa mới gặt về để ngổn ngang một góc sân; gió thổi bụi lúa bay toả lên rồi tan dần đi trong không khí mát lạnh. Một mùi thơm tựa như mùi cốm non phảng phất lẫn với bụi, với gió, với ánh nắng (13).

Những cảm giác mà tri thức còn phân biệt được là những cảm giác còn xa lạ, còn ở ngoài tâm giới, còn ở ngoài biên giới của hạnh phúc. (Nathanael, tout ce que tu gardes en toi de connaissances distinctes restera distinct de toi jusqu’à la consommation des siècles. Gide).

Từ linh cảm đó, hạnh phúc không phân biệt cảm giác với ảo giác. Tất cả các đoạn trích trong Đôi Bạn ở trên đều có một chữ như - chữ như chìa khoá đưa vào không gian Nhất Linh. Phải thân mật với chữ như, môi giới giữa sắc và không, mới hé thấy cái tương đối của tương đối.

Nhân vật Nhất Linh không lẩn thẩn tự hỏi họ có thật sự hạnh phúc, hay họ chỉ tưởng như hạnh phúc. Hạnh phúc là một cảm giác mong manh, và trong tâm hồn con người viên hoạt, không có chân lý nào ngoài cái-tưởng-là-chân-lý. Nhân vật Nhất Linh không có những băn khoăn triết lý, siêu hình dày vò; họ chấp nhận sống với một tư tưởng trắng: Thà cứ để vậy, sống trong ảo tưởng đẹp đẽ, một ảo tưởng đẹp đẽ mà trọn đời Dũng mong vẫn là ảo tưởng (14).

Chúng ta cần xác định rõ là Nhất Linh thuộc về một thế hệ khác với thanh niên ngày nay. Con người hôm nay bôi xoá mọi ảo tưởng để tìm thực chất của cảm giác. Nhưng không nên vì thế mà phê phán Nhất Linh không đủ can đảm sống trong thực tế. Vì biết đâu Nhất Linh thiếu can đảm hay chính chúng ta thiếu khả năng sống trong ảo tưởng? Vì muốn sống trong ảo tưởng, trước tiên phải có cái ảo-tưởng-rằng-mình-sống-trong-ảo-tưởng, và trong lịch sử của tâm hồn nhân loại, không phải ai cũng thấy được mình là bướm, và vui làm bướm, như Trang Chu.

Nhờ khả năng đó mà nhân vật Nhất Linh sống trong không gian không phải hoàn toàn là ngoại giới; mà còn sống trong không gian của nội tâm: Dũng của Đôi Bạn sống cùng một lúc, trong mùa thu đã đi qua, mùa thu chưa đi tới và một mùa thu có thể không bao giờ có trong trời đất. Trong không khí chật hẹp, tù túng của một buổi tế mừng thọ, Dũng chỉ cần chống mũi giày xuống nền gạch xoay mạnh người hẳn một vòng là có thể bay bổng đến bầu trời của lòng mình:
Nền trời lúc đó, Dũng thấy như một tấm lụa trong; một con bướm trắng ở vườn sau vụt bay lên cao rồi lẫn vào màu trời. Dũng tự nhiên nghĩ đến một bãi cỏ rộng trên đó có Loan và chàng, hai người cùng đi ngược lên chiều gió; nàng mặc một tấm áo lụa trắng và gió mát thơm những mùi cỏ đưa tà áo nàng phơ phất chạm vào tay chàng êm như những cánh bướm (15).

Tương quan giữa nội tâm và ngoại cảnh là giao thoa hai chiều. Dũng có thể vừa nội-hoá chân trời thì ngược lại cũng có thể ngoại-hoá tâm hồn, trong hai nguyên lý vừa tương đồng vừa tương hợp.

- Kìa chị Loan, đương mong chị thì chị đến.

Dũng có cái cảm tưởng rằng thời khắc ngừng hẳn lại; ánh nắng lấp lánh trên lá cây cũng thôi không lấp lánh nữa. Lòng chàng thốt nhiên êm ả lạ lùng; chàng và cả cảnh vật chung quanh như không có nữa, chỉ có một sự yên tĩnh mông mênh, trong đó tiếng Loan vang lên như có một nàng tiên đương gieo bông hoa nở (16).

Không gian chỉ là khoảng trống trong lòng người, và lòng Nhất Linh là một bầu trời bình thản, một bầu trời không đổi màu suốt ba mươi năm. Từ Nắng Thu viết năm 1934 đến những tác phẩm cuối cùng trước khi Nhất Linh qua đời vào mùa hè 1963, Nhất Linh vẫn chung thuỷ với một màu trời. Màu trời đó từ vùng quê Xuân Lữ, Cẩm Giàng… đến miền thượng du Bắc bộ, đến miền đồi núi Vân Nam vẫn một màu xanh lơ, trong suốt. Thế giới của Nhất Linh là tia nắng hắt hiu trong khu vườn bình thản, cơn gió thổi ngược vào mái tóc, những vồng cải tươi tắn, những nia cau sậm màu trong nắng quái, những manh áo phong phanh trong gió ban mai, những cô gái giặt áo đem phơi; đôi khi thiên nhiên bình dị trong một bát canh rau ngót, chợt thoáng trên khuôn mặt cô gái chau mày...

Chỉ có thế, suốt ba mươi năm trầm luân, qua bao nhiêu biến thiên của hoàn cảnh, ngữ vựng thiên nhiên của Nhất Linh không hề thay đổi. Ông sống kinh niệm của bản thân, đồng thời cũng là bài học của Tolstoi, mà sau này các nhà dân tộc học như Levi Strauss sẽ xác nhận, là con người không thay đổi bao nhiêu; thời gian không vùi lấp được nét ngây thơ trong sáng của bản chất nhân sinh. Và Nhất Linh nhớ lời Gide, «điều quan trọng ở trong cái nhìn chứ không phải ở ngoại cảnh» (Nathanael que l’importance soit dans ton regard et non dans la chose regardée). Trần gian có hoàn mỹ hay không là tùy cách nhìn, hơn là tùy vào sự vật bày ra trước mắt. Suốt đời, Nhất Linh chuyên chú giáo dục tầm nhìn, tập tành cho nhân vật nhìn đời.

Cái nhìn ấy đến khi khép lại vẫn còn trong suốt, như là toại nguyện.

Hạnh phúc, thứ đến, là niềm viên mãn trong một thời gian không vĩnh cửu.

Tác phẩm Bướm Trắng có giá trị nhân đạo quyết định vì đã đặt con người trước cái chết. Nhân vật Trương bị ho lao, bác sĩ cho sống một năm là cùng, và Trương tin như thế. Vấn đề là tìm một hạnh phúc trong giới hạn thời gian còn lại. Nới rộng ra, vấn nạn không phải là chỉ riêng đặt ra cho một bệnh nhân sắp chết, mà cho mọi người. Vì nói như Sartre, sống thêm một giờ hay một trăm năm không quan hệ gì, khi con người bất chợt ý thức được là mình không vĩnh cửu.

Chủ đề cô đọng trong Bướm Trắng thật ra đã bàng bạc trong các tác phẩm viết trước. Người ta bắt đầu chết từ lúc ra đời, nói theo Montaigne; và Nhất Linh đã thầm giải quyết cái chết từ những tác phẩm đầu tay. Nhất Linh biết đời sống không vĩnh viễn nên đã tập yêu những vẻ đẹp phôi pha, tập yêu không gian qua tương quan với thời gian; ông đã tập yêu những ánh trăng thượng tuần về sáng, những chiều cuối năm tha hương hiu quạnh. Biết cuộc đời không vĩnh cửu, ông tập yêu những nét phôi pha. Ông yêu một vẻ đẹp không phải mặc dù nó mong manh mà chính vì nó mong manh. Trong Đôi Bạn, nhân vật Trúc yêu vẻ đẹp bệnh hoạn của một cô gái ho lao:
Hai con mắt long lanh sáng và đôi gò má đỏ tươi trong bộ mặt xanh và hơi gầy của Hà làm chàng nghĩ tới vẻ đẹp của nhiều người con gái ho lao mà chàng được thấy. Chàng nghiệm rằng người nào cũng có một thứ duyên quyến rũ và gợi cho người ta nghĩ đến những vẻ đẹp mong manh có nhiễm cái buồn xa xôi của những sự thương tiếc không bao giờ nguôi. Chàng thấy có cái cảm giác mới lạ không hẳn là buồn hay vui, hình như trong lòng chàng vừa nở ra một bông hoa màu biếc, sắc hoa gần lẫn với bóng tối lờ mờ tím, một buổi chiều đông nào đã xa và rất buồn.

Bên cạnh một chiếc bể con, mấy cái chĩnh sành trên úp những tấm mo cau cuốn tròn làm Trúc nghĩ đến những người con gái đội mấn yên lặng đi theo sau một chiếc áo quan (17).

(Còn tiếp)


Chú thích:
1. Đôi Bạn, 1937, câu đầu, tr. 19, Đời Nay tái bản, 1961, Sài gòn.
2. Lâm Ngữ Đường, Sống Đẹp, bản dịch Nguyễn Hiến Lê, Tao Đàn, 1965.
3. Hai Buổi Chiều Vàng, Phượng Giang tái bản, 1965, tr. 88.
4. Thơ vịnh Lan của Nhất Linh, 1957, trích đầu Giòng sông Thanh thuỷ, 1960-1961.
5. André Malraux, La Condition humaine, 1933, Sách bỏ túi, 1946, tr. 246.
6. André Gide - Les Nourritures Terrestres. 1897, N.R.F.
7. Stefan Zweig, Tolstoi, Victor Attinger, Paris, 1928.
8. Viết và Đọc Tiểu thuyết, tr. 87, Đời Nay, 1961.
9. Đôi Bạn, Ấn bản Đời Nay, 1961, tr. 110.
10. Đôi Bạn, tr. 24.
11. Đôi Bạn, tr. 26
12. Đôi Bạn, tr. 83.
13. Đôi Bạn, tr. 103.
14. Đôi Bạn, tr. 194.
15. Đôi Bạn, tr. 44.
16. Đôi Bạn, tr. 60.
17. Đôi Bạn, tr. 166.



Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét