Thứ Năm, 1 tháng 7, 2010

GIÓ MÙA ÐÔNG BẮC

Trần Thanh Mậu và Bùi Ðức Tâm là hai anh có nhiều dịp tiếp xúc với các anh em nội trú ban Tú Tài sắp ra trường. Ðây là các anh lớn, có nhiều suy tư về thời cuộc, vận nước, đã muốn hun đúc cho đàn em có tinh thần quốc gia yêu nước. Tâm và Mậu vì thế đã được móc nối với những người có tâm huyết ở Sài Gòn. Triệu và một số anh em thân tín thường chia phiên đến nhà các nhân sĩ để học hỏi. Luật sư Diệp Ba ở Tân Ðịnh là nơi có nhiều tài liệu của Kỳ Ngoại Hầu Cường Ðể từ Nhật gởi về. Triệu đã từng được nghe danh Hoàng thân Cường Ðể, người đã được Phan Bội Châu tổ chức bí mật xuất ngoại sang Nhật.


Hoàng thân Cường Ðể đã có lần can đảm dám trở về xứ, bí mật di chuyển sống trên ghe nhiều tháng ở Nam kỳ để vận động dân chúng. So với Kỳ ngoại hầu Cường Ðể, Hồ Chí Minh sau ngày rời Việt Nam ở bến Nhà Rồng ngày 5 tháng 6 năm 1911 để đáp tàu Amiral Latouche Tréville sang Pháp, cho mãi đến thập niên 1940, chẳng bao giờ Hồ Chí Minh dám đặt chân trở về xứ để hoạt động.

Chỉ đến sau 1940, Hồ Chí Minh mới dám thập thò ở biên giới Hoa Việt trước khi về ẩn trú ở hang Pắc Bó. Qua các tài liệu đọc được ở nhà luật sư Diệp Ba, Triệu được biết cóù cuộc họp thành lập Việt Nam Phục Quốc Ðồng Minh Hội vào tháng 3 năm 1939. Ðức Cường Ðể được bầu làm Ủy viên trưởng. Những lời kêu gọi của Hoàng thân Cường Ðể đã được đóng rất khéo, lồng trong các sách Việt hoặc các sách của Thống chế Pétain khi ông này lên cầm quyền ở nước Pháp bại trận. Sau này Diệp Ba lại đổi ýù đi theo chủ trương Cộng sản khi Pháp trở lại chiếm miền Nam.

Mặc dầu còn ở tuổi thiếu niên, Triệu và các bạn cũng có dịp chứng kiến những cuộc vận động bầu cử Hội đồng thành phố Sài Gòn và Hội đồng Quản hạt. Ðặc biệt là cuộc bầu cử ngày 30-4-1939 khi liên danh Tranh Ðấu gồm Tạ Thu Thâu, Phan Văn Hùm, Trần Văn Thạch thắng các liên danh Dân Chúng của Nguyễn Văn Tạo, Nguyễn An Ninh, Dương Bạch Mai hay các liên danh Nguyễn Phan Long hoặc Lê Quang Liêm của đảng Lập Hiến. Tên tuổi các nhà làm cách mạng thời đó đã được các bạn Triệu để tâm theo dõi. Triệu nghe theo lời các bạn, đã nhân dịp nghỉ vào các buổi chiều thứ Năm, đến các trường tư như Lê Bá Cang, Chấn Thanh để nghe Tạ Thu Thâu lưu loát dạy Khoa học, hoặc Trần Văn Thạch dạy Pháp văn, Hồ Hữu Tường dạy Toán... Ðặc biệt, Triệu say mê các buổi giảng Pháp văn của Trần Văn Thạch vì rất hào hứng với những lời giải thích, phê bình độc đáo so với một giáo sư người Việt có vợ đầm ở Petrus Ký, dạy văn chương Pháp nhưng suốt cả giờ chỉ bàn về văn phạm (grammaire)!

Qua năm sau, vào khoảng tháng Tư, 1940, Triệu và các bạn bàng hoàng đọc tin tòa Sài Gòn xử tù các nhóm Ðệ Tam và Ðệ Tứ về tội “khuấy rối trị an và lập hội không xin phép”. Tạ Thu Thâu, Trần Văn Thạch, Hồ Hữu Tường, Nguyễn Văn Tạo, Nguyễn An Ninh, Dương Bạch Mai, Nguyễn Văn Nguyễn, Nguyễn Văn Sâm... đều lãnh án tù từ 5 đến 3 năm cộng thêm 10 năm biệt xứ!

Cuộc sống ở ngôi trường gốc rộng lớn Petrus Ký này đang trôi chảy êm đềm như vậy, phút chốc đã bỗng nhiên bị thời cuộc đưa đến những biến chuyển lớn lao. Vận nước đã bắt đầu thay đổi.

Khoảng tháng 9, 1940, tướng Nhật Nakamura tấn công Pháp tại Lạng Sơn và Ðồng Ðăng. Hai vị trí này của Pháp đều thất thủ với nhiều thiệt hại. Hải Phòng cũng bị Nhật giội bom cảnh cáo. Triệu và các bạn rất hãnh diện khi được luật sư Diệp Ba cho biết tin là trong cuộc tấn công Lạng Sơn, có sự tham dự bên cạnh Nhật của lãnh tụ Kiến Quốc Quân Việt Nam, tên Trần Trung Lập. Trong Sư Ðoàn 5 này của Nhật có một đơn vị phụ lực Việt, do Shibata hay Trần Phước An điều khiển. Trần Trung Lập là một trong các cấp chỉ huy. Về sau, khi Nhật và Pháp điều đình xong việc biến cố Lạng Sơn, Trần Trung Lập quyết định ở lại chống Pháp. Việt Nam Kiến Quốc Quân là bộ phận quân sự của tổ chức Phục Quốc của Cường Ðể. Trần Trung Lập về sau bị Pháp bắt và kết án tử hình!

Trong khi đó, Thái Lan dựa hơi Nhật đòi Pháp phải định lại biên giới Ðông Dương và đòi Pháp phải trả lại tỉnh Battambang. Không khí chiến tranh đã khởi sự bao trùm miền Nam. Các đèn điện ở phòng các sinh viên nội trú đã được sơn xanh dương đậm, hoặc phải có chụp che ánh sáng, theo chương trình Phòng thủ Thụ động.

Anh Bùi Ðức Tâm, một chiềàu Chủ nhật đã về trường cho Triệu và Trần Thanh Mậu một tin mà anh bắt phải tuyệt đối giữ kín, thề không được tiết lộ: “Ðảng Cộng sản đã quyết định khởi nghĩa chống Pháp ở một phiên họp ở Bà Ðiểm”.

Trong khi đào hầm trú ẩn tránh bom theo kế hoạch Phòng thủ Thụ động ở phần đất trống sau trường, rất nhiều quan tài chôn từ xưa đã được quật lên. Vùng sau trường được dân Sài Gòn đặt tên là vùng mả Ngụy vì nơi đây là mồ chôn tập thể quân lính theo Lê Văn Khôi, con nuôi của Thượng công Lê Văn Duyệt. Lê Văn Khôi đã nổi lên chống triều đình Huế nên đã cùng binh sĩ dưới quyền bị nhà Nguyễn giết không thương tiếc. Thây được chôn vội tập thể ở vùng này, nơi mà dân chúng còn gọi là vùng “ mả loạn”. Về đêm, nhất là khi có mưa, học sinh nội trú Petrus Ký ở lầu cao thường hay có lệ mở cửa sổ để xem “đèn ma” do các chất lân tinh cháy lên từ bãi mả loạn. Một vài bạn có tin thần địa phương thường hay thốt lên: “Tụi tao không ưa các vua chúa Nguyễn vì họ đã xây được cơ đồ do dân miền Nam, nhưng sau khi thành công đã giết người miền Nam như vậy. Họ còn sợ hình ảnh miền Nam hơn Huế nên đã tháo gỡ thành Sài Gòn, xây nhỏ lại, chuyển vật dụng, kèo cột được chạm trổ, về Huế xây cất dinh thự!”


Một vài học sinh đã lấy ván đóng hòm vừa được khơi quật, đẽo thành hình trái tim, dưới gắn ba viên đạn tròn để có thể dùng làm bàn “xây ma”. Lúc ban đầu, trong các vụ gọi hồn người chết như vậy, các câu hỏi thường thường thuộc về thời sự, có khi vui nhộn nhưng lần lần về sau, không biết có ai cố tâm không, những câu chuyện gọi hồn lại toàn bàn về lịch sử nước nhà, về các chiến sĩ chết khi chống xâm lăng Pháp. Việc khơi dậy tinh thần thương dân, thương nước trong giới học sinh nội trú đã có thể nói là do các buổi “xây ma”, gọi hồn những nhà ái quốc đã mất này. Vũ khí tuyên truyền độc đáo này không biết có bàn tay bí mật nào chỉ huy không, hay là do tinh thần yêu nước của số đông người tham dự?

Bãi tha ma “mả Ngụy” rộng lớn này còn có được một tên khác là “Ðồng tập trận” vì quân đội Pháp ở Thành Ô Ma dùng nơi đây để huấn luyện quân sự. Các buổi tập quân nhạc hay thổi kèn được học sinh thường hay đến xem vì thường xảy ra vào chiều thứ Năm là buổi chiều được nghỉ ra phố của dân nội trú. Còn nhớ một hôm, Triệu và các bạn nghe được một huấn luyện viên người Pháp dạy lính thổi bài kèn tiễn biệt chiến sĩ khi hạ huyệt. Bài có một âm điệu chậm, hơi kèn kéo dài, rất não lòng.

Trần Thanh Mậu bỗng cao hứng nói cho người huấn luyện viên biết: “Nơi ông đang đứng là mồ chôn tập thể chiến sĩ Việt, xin ông thổi lại bài tưởng niệm các linh hồn này”. Người huấn luyện viên đã cảm hứng thổi trở lại bài kèn tiễn người quá cố. Anh em chung quanh đã có nhiều người rướm lệ. Từ đó trở về sau, các bạn Triệu đã thấy người huấn luyện viên này, không biết vô tình hay cố ý, thường trổi điệu kèn tiễn hồn chiến sĩ, khi ông kết thúc các buổi dạy!

Trong kỳ nghỉ hè sau hai năm theo Trung học, Triệu lại có được cơ hội đưa ông ngoại đi Sài Gòn chữa bịnh. Mặc dầu nhà đã có những khó khăn sinh kế buổi hồi hưu, nhưng Triệu đã đưa ngoại đến bác sĩ Trần Quang Ðệ, một y sĩ đã đậu nội trú các bịnh viện Paris và đã nổi tiếng là người có phẫu thuật giỏi trong y giới miền Nam. Ông Ðệ là người làng Mỹ Long (Sa Ðéc) có bà con với bên bà nội của Triệu. Vì liên hệ gia đình, ông vẫn săn sóc miễn phí cho thân quyến. Rất may là bịnh của ngoại chưa cần phải giải phẫu. Hai ông cháu vui mừng thả bộ từ phòng mạch bác sĩ Ðệ ở đường Blansubé gần nhà thờ Sài Gòn để cùng dạo phố Catinat (Ðường Tựï Do) và đường Charner (Nguyễn Huệ) mà ngoại vì quen miệng nên thường gọi là đường Kinh Lấp. Ngày xưa, nơi đây là một con kinh đào từ sông Sài Gòn đến trước Tòa Ðô Sảnh. Con kinh này đã được lấp đi để xây thành đường Charner. Ði dạo Chợ Cũ Sài Gòn là một cái thú của người dân có dịp đến Ðô thành. Vùng Chợ Cũ lại còn có quán Cháo cá đã nổi tiếng qua nhiều thập niên.

Khi Triệu cùng ngoại đến trạm buýt cuối cùng ở đường Boulevard de la Somme (Ðường Hàm Nghi), chợt thấy xe cộ đã phải ngừng lại hai bên đường, nhường cho các quân xa quân đội Nhật di chuyển lên từ bến tàu Khánh Hội . Sau khi đã ép Pháp đồng ý cho vượt biên giới ở Bắc Việt, nay quân đội Nhật lại bắt đầu đổ bộ vào miền Nam. Triệu vẫn còn nhớ ngày lịch sử cuộc đổ bộ của Quân Ðoàn 25 Nhật xuống Vũng Tàu và Sài Gòn vì đã xảy ra nửa tháng sau ngày lễ quốc khánh 14 tháng 7 năm 1941 của Pháp.

Dân chúng Việt đứng nhìn trong tâm trạng băn khoăn, những quân xa chở đầy lính Nhật, quân phục kaki xanh, đầu hoặc để trần, cạo bóng loáng, hoặc đội nón xếp lưỡi trai. Có rất nhiều xe chở toàn những khuông hình rất lớn, có lẽ là các bản đồ hành quân. Ngoại tuy đã về hưu nhưng đã phục vụ cả đời trong nghành Ðịa chánh đã đoán chắc là các quân xa đã chở bản đồ quân sự vì kích thước thông thường đều như thế. Ngoại nói nhỏ với Triệu: “Mầy còn nhớ các anh Nhật bán đồ chơi ngày trước không? Những anh đi bán dạo ở Lục tỉnh cho Dainan Koosi (Ðại Nam Công Ty) ngày trước là bọn đi do thám cho Nhật đó”.

Triệu lúc ấy mới sực nhớ lại là ngày trước, lúc ngoại còn là công chức ở Vĩnh Long: những lần có lễ lớn, nhất là lễ Giáng Sinh, Triệu vẫn thường ngóng trông các ông Nhật đến nhà bán các đồ chơi, hoặc xe, hoặc tàu tự động di chuyển v.v...Các người bán dạo này thường mang theo một va ly rất lớn vì ngoài đồ chơi cho trẻ em họ còn bán cả các loại ly, dĩa, bộ đồ trà bằng sứ mỏng cho các gia đình.
Hôm nay Triệu mới được cơ hội lần đầu tiên thấy một quân đội hành quân qua phố phường, một quân đội toàn người da vàng như mình, từ sĩ quan đến binh lính. Người nào cũng vạm vỡ, cao lớn, quân phục gọn ghẽ. Thế là danh từ “người lùn” Nhật Bản trước kia chỉ là một cách nói kiêu căng của Âu Tây? Ðặc biệt sắc diện của các sĩ quan, phần đông đeo kính trắng, nghiêm nghị nhìn thẳng về phía trước, đã khiến Triệu có riêng trong tâm khảm ít nhiều kính phục. Triệu cảm thấy hãnh diện lây, vì một dân tộc Á Ðông nay lại có được một quân đội như vậy. Dân chúng hai bên đường mặc dầu ắt hẳn có chút băn khoăn về thời cuộc, nhưng chắc cũng có những cảm giác hãnh diện cho một quốc gia Á đông, nay có được một bước tiến quân sự trên bình diện quốc tế. Một câu thơ hô hào đồng bào Việt nên cảnh tỉnh của Phan Sào Nam bỗng vang dội lên trong đầu Triệu:

“ Á Tế Á (Asia) năm châu là bậc nhất,
Người nhiều hơn mà đất cũng rộng hơn...”



 Vì nước nhà vẫn còn bị người Pháp đô hộ, đâu đâu cũng có hình bóng mật thám dò la nên dân chúng nhìn quân đội Nhật di chuyển mà không có ai dám có một cử chỉ thân thiện, một lời hoan hô, mặc dầu trong thâm tâm vẫn thấy hãnh diện lây vì một dân tộc bạn đã mở mặt mở mày trong hoàn vũ.
Xen kẽ trong các người xem quân đội Nhật đổ bộ, cũng có không ít người Pháp. Họ nhìn các binh sĩ Nhật với nét mặt không mấy thiện cảm, đôi khi còn thoáng thấy một ít khinh khi. Trong không khí dường như có lẫn lộn những ý nghĩ ngột ngạt, hoặc như đánh dấu những ngày tàn sắp đến của chế độ thực dân, hoặc những mong ước thầm kín mong Nhật sẽ bại trận trong tương lai để họ trở lại thời ăn trên ngồi tróc như cũ.

Triệu nói nhỏ với ngoại:
-Mấy anh Tây này coi bộ ghét Nhật dữ tợn!

Ngoại đáp:
-Ông Bác và ông Nội mầy bị Tây đày Từ Hà Tĩnh vô Sa Ðéc vì phong trào Ðông Kinh Nghĩa Thục, không biết mấy ổng nghĩ ra sao. Riêng tao thì được biết, người Nhật khi đã chiếm Cao Ly, họ xử sự tàn nhẫn với dân chúng không thua gì thực dân Pháp ở đất mình. Nhật bây giờ đến Sài Gòn, tao ngán lắm. Thằng Tây chỉ thích ăn bơ, sữa, bánh mì, thịt bò bíp tết. Mắm ruốc, mắm đồng tụi nó chê. Còn dân Nhật bổn cũng ăn cơm như mình, rau muống, dưa mắm họ cũng thích. Sợ dân mình rồi đây không còn món gì họ chừa để bỏ vô bụng nữa!


1    2

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét