Thứ Tư, 21 tháng 7, 2010

Ghé Thăm Các Blog

“Ghé thăm các Blog” là một mục mới của Diễn Đàn Thế Kỷ, nhằm giới thiệu với bạn đọc những ý kiến đáng chú ý của anh chị em Blogger khắp nơi về những vấn đề thời sự, phần nhiều liên quan đến Việt Nam. Khi mạn phép các bạn Blogger đăng bài vở từ Blog các bạn, chúng tôi tin là các bạn không lấy làm phiền lòng, vì sẽ có nhiều người hơn được chia sẻ các ý kiến và thông tin độc đáo của các bạn. Sau đây mời quý độc giả của DĐTK theo dõi những bài đầu tiên...

http://dailyvnews.wordpress.com/2010/07/17/miệng-quan-tron-trẻ/
Miệng-quan-tron-trẻ - [ 17/07/2010VnDailyNews ]

Giấc mơ xanh

Đọc bài phỏng vấn ông Thạch Như Sỹ- Chánh Thanh tra Sở Giao thông Vận tải Hà Nội- mà tôi cứ buồn cười. Ông này phát biểu, giao thông tại các ngã tư ở Hà Nội nên “vừa mở, vừa bịt”, nghĩa là ban ngày đông người đi thì bịt lại, đêm vắng người thì mở ra. Chà, thật chí lý, chí lý!!!

Lại còn kết luận rằng vấn đề này rất khó nên giải pháp nào chỉ cần có một người đồng tình thì đã là thành công rồi! Thế thì mấy triệu người dân Hà Nội còn lại, ông ta vứt đi đâu?

Bộ trưởng Giao thông Vận tải Hồ Nghĩa Dũng lần này có vẻ thận trọng hơn khi trả lời báo chí, chẳng dám nhận xét giải pháp nào hay, giải pháp nào dở, thôi thì cứ trả lời chung chung rằng “vấn đề này cần nghiên cứu kỹ”. Ối giời, sao ông ta không nghiên cứu kỹ rồi hãy nhận chức Bộ trưởng ấy?

Thấy chuyện xử lý giao thông cứ rối tung như canh hẹ, nên tốt nhất mấy vị quan chức đùn đẩy trách nhiệm bằng cách “trưng cầu dân ý”. Chắc lại bắt chước ông chủ tịch Uỷ ban nhân dân thành phố Nguyễn Thế Thảo đây. Ông này bắt cậy hết gạch đang còn tốt xung quanh hồ Gươm để lát đá xanh. Chẳng hiểu thợ làm thế nào mà sau khi đá được lát, nước cứ đọng thành vũng và đá lại đẹp quá, trơn quá nên dân ta đi hay bị “vồ ếch” suốt. Bị phản đối gay gắt, ông này bèn nghĩ ra cái chiêu “trưng cầu dân ý” để vờ xin ý kiến dân xem có nên lát đá tiếp hay không.

Tôi lấy làm lạ là các vị quan chức giở chiêu này khi đã tự ý thực hiện chán chê rồi. Việc bịt ngã tư và tắt hết đèn xanh đèn đỏ đã được tiến hành từ cách đây hơn một năm. Tôi còn nhớ hồi đó giải pháp này được báo, đài ca ngợi ghê lắm, nào là “sáng kiến”, kết quả của bao nhiêu “chất xám”, nào là “trí tuệ của tập thể”… giờ đây gặp bế tắc thì lại đổ cho ý dân.

Xem ra biện pháp “trưng cầu dân ý” lợi hại thật! Cái gì làm không xong thì “trưng cầu dân ý”, chuyện chẳng đâu ra đâu cũng “trưng cầu dân ý”. Tại sao những chuyện lớn, quyết định vận mệnh của cả đất nước mà có bao giờ thấy “trưng cầu dân ý” đâu? Quyết định mở rộng Thủ đô- trái tim của cả nước- sao không thấy đem ra “trưng cầu dân ý”? Hiệp định Bắc Bộ ký với Trung Quốc chi tiết như thế nào dân cũng chẳng được biết. Rồi dự án Bauxit, cho thuê rừng đầu nguồn không thấy ai hỏi ý kiến của dân cả. Một việc tày đình như vấn đề đa nguyên, từ xưa đến nay thử hỏi dân đã bao giờ được phát biểu ý kiến? Thế mà ông Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng ngang nhiên tuyên bố với báo chí rằng “Hiện nay chưa đến lúc thấy có nhu cầu phải đa đảng”. Không hiểu ông ta lấy cái nhu cầu ấy ở đâu ra? Từ số liệu nào? Nghiên cứu nào, thăm dò nào nói vậy? Hay đó chỉ là nhu cầu của cá nhân ông ta và cái Đảng của ông ta mà thôi? Với cương vị là Chủ tịch Quốc hội, ông ta cũng chẳng bao giờ đưa vấn đề này ra xin ý kiến Quốc hội chứ chưa nói gì đến xin ý kiến người dân.

Đáng thương cho ông Thạch Như Sỹ, ông này than thở “Thành phố Hà Nội nay phát triển về phía Đông, mai lại phát triển về phía Tây”, đâm ra các vị quan chức chẳng biết thế nào mà lần. Cho nên cả ông ta lẫn ngài Bộ trưởng Giao thông Vận tải chỉ còn biết kêu trời bởi giải pháp giao thông nào cũng chỉ là “giải pháp tình thế” mà thôi.

Ngẫm lại, không riêng gì Giao thông, mọi chuyện ở nước ta từ trước đến nay cũng đều theo cái kiểu “giải pháp tình thế” cả. Nghĩa là, người ta chỉ có thể giải quyết vấn đề ở cái ngọn chứ không triệt để từ gốc của vấn đề. Vì sao? Vì nhìn lại sự phát triển đất nước mấy chục năm nay, có cái gì là bền vững đâu? Ngay như ngành Giáo dục, một ngành được coi là “trăm năm trồng người”, mà cứ vài năm người ta lại thay đổi chương trình học phổ thông và sách giáo khoa một lần. Cách thức ra đề thi tốt nghiệp và đề thi đại học cũng thay đổi xoành xoạch mỗi năm theo ý thích của các vị Bộ trưởng Giáo dục làm phụ huynh và con em chúng ta cứ chóng hết cả mặt. Còn trong phát triển Kinh tế, người ta từ chỗ chống tư sản mại bản, gọi tất cả bọn họ một cách miệt thị là “con phe”, “con buôn”, thì đến nay lại tung hô, ca ngợi là “Nhà Doanh nghiệp”. Đến mức hàng năm, người ta còn tổ chức ra những giải thưởng “Sao Vàng Đất Việt” cho giới doanh nhân mà tôi vẫn gọi đùa “Sao Tiền Đất Việt” bởi bất cứ ai chỉ cần đút lót tiền cho Ban tổ chức là sẽ được lọt vào danh sách đoạt giải và tha hồ lên Truyền hình vênh mặt với đời. Nghe đâu, người ta còn sáng tác ra cả Ngày Doanh nghiệp, sánh ngang với Ngày Nhà giáo, Ngày quốc tế Phụ nữ, Ngày Thầy thuốc, Ngày Thương binh liệt sỹ… nữa.

Nước ta từ một nền kinh tế theo cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, dân ta phải xếp hàng dài dằng dặc từ sáng đến tối để đổi mấy cái mẩu tem phiếu lấy chút gạo hẩm hay bo bo, rồi lâu lâu lại bị nhà nước đổi tiền, làm mất sạch bao nhiêu của nả tích cóp được. Đến khi đất nước “mở cửa”, đi theo “kinh tế thị trường”, thì vẫn những người dân ấy, giờ lại được coi “khách hàng là thượng đế”. Ấy vậy mà vẫn chưa yên, được vài năm sau, Đảng ta lại tung ra khẩu hiệu “Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”. Chẳng hiểu “định hướng xã hội chủ nghĩa” là thế nào nhưng “thượng đế” thì muôn năm vẫn chỉ là khái niệm rỗng tuyếch vì “thượng đế” có bao giờ được tự quyết định cái gì đâu? Đảng cho gì ăn nấy, bảo sao thì biết vậy thôi mà!

Cả một quá trình mấy chục năm, Đảng giải thích sự thay đổi của mình và tình trạng nghèo khổ của đất nước bằng cụm từ “thời kỳ quá độ tiến lên chủ nghĩa xã hội” hay “Việt Nam là nước đang phát triển”. Dân ta chỉ còn biết ngậm ngùi, oán trách ông trời sao để đất nước “quá độ” lâu đến vậy? Cái Chủ nghĩa xã hội “làm theo năng lực, hưởng theo nhu cầu” mãi sao chẳng thấy, mà Việt Nam còn “tiến lên” và “phát triển” đến đâu nữa trong khi cả thế giới sắp già hết rồi?

Đó là đối nội, còn đối ngoại thì sao? Thử nhìn vào quan hệ với phương Bắc, Đảng ta khi cần viện trợ sức lực, tiền bạc trong cuộc kháng chiến chống Mỹ thì gọi họ là “các đồng chí Trung Quốc anh em”, “môi hở răng lạnh”. Đến khi lấy được chính quyền, thống nhất đất nước xong lại quay ra coi Trung Quốc là kẻ thù số một trong Hiến pháp. Hồi đó, chính tai tôi được nghe đài hàng ngày cứ ra rả “Trung Quốc có chăng chỉ viện trợ cho chúng ta gió mùa đông bắc mà thôi”. Giờ đây, không rõ cơ duyên nào làm Đảng ta thay đổi 180 độ, lại ngọt ngào gọi Trung Quốc là “Láng giềng hữu nghị” để rồi “hợp tác toàn diện”. Còn với Mỹ, từ chỗ Đảng ta hằm hè “Đế quốc không đội trời chung”, dần dần ám chỉ tế nhị hơn “Thế lực thù địch”, và rồi mon men thân thiện “xoá bỏ quá khứ, hướng tới tương lai”. Nếu chú Sam mà không rủng rỉnh đô la trong túi thì chắc Đảng ta chẳng thay đổi thái độ nhanh như vậy đâu nhỉ?

Lại còn chuyện “lấy dân làm gốc” nữa chứ. Lúc bắt đầu gây dựng phong trào Cách mạng, Đảng nhắm vào tầng lớp “Bần cố nông” vì họ vốn liều mạng bởi chẳng có gì để mất, “chỉ mất xích xiềng nô lệ”. Đến khi thấy đội ngũ công nhân phát triển mạnh mẽ, Đảng tự phong cho mình là Đảng của giai cấp “Công- Nông”. Sang thời đại khoa học kỹ thuật, biết sức mạnh của tri thức có thể làm thay đổi cục diện trong tương quan lực lượng với các bác nông dân “cổ cày, vai bừa”, Đảng ta sáng suốt lập tức thay đổi chiến thuật, một sớm một chiều bỗng trở thành Đảng của “Công- Nông- Trí". Khi cơn lốc toàn cầu hoá đến Việt Nam, mọi xã hội và các nền kinh tế đều có ảnh hưởng qua lại lẫn nhau, Đảng ta nhận thấy sức mạnh của đồng tiền đi liền với quyền lực chính trị nhưng chẳng lẽ cứ kéo dài khẩu hiệu ra mãi, nên đành tự ca ngợi mình là “Đảng của toàn thể nhân dân lao động”. Thế là xong!

Đảng ta có vẻ giống con tắc kè hoa mà tôi được học trong môn Sinh vật từ hồi phổ thông quá. Con tắc kè này muốn tồn tại thì phải luôn luôn biến đổi màu sắc theo môi trường bên ngoài, đến nỗi kẻ thù và ngay cả đồng loại cũng khó nhận ra. Nhưng dù có biến đổi màu sắc tài tình đến đâu đi nữa, thì cái bản chất là một động vật cấp thấp của loài bò sát này chắc chắn không bao giờ thay đổi.


Vụ án Hà Giang
[ 16/07/2010VnDailyNews ] - Trung Điền



Ngày 5 tháng 7 năm 2010 vừa qua, Ủy ban kiểm tra trung ương đảng Cộng sản Việt Nam đã phổ biến bản thông báo về kết quả kiểm tra những sai phạm của cán bộ trong năm 2010. Trong bản thông báo này, Ủy ban kiểm tra đã tố cáo Nguyễn Trường Tô, Phó bí thư tỉnh ủy Hà Giang, Bí thư ban cán sự đảng, Chủ tịch ủy ban nhân dân tỉnh Hà Giang, từ năm 2005 đến nay đã có những vi phạm nghiêm trọng về đạo đức, sống buông thả, gây dư luận bất bình trong đảng và xã hội dưới sự bao che của Hoàng Minh Nhất, Ủy viên Trung ương đảng, Bí thư tỉnh ủy Hà Giang và Nguyễn Bình Vận, Thiếu tướng công an, giám đốc công an tỉnh Hà Giang.

Ủy ban kiểm tra đã đề nghị cách hết chức vụ của Nguyễn Trường Tô đồng thời buộc Hoàng Minh Nhất và Nguyễn Bình Vận phải làm kiểm điểm trước Tỉnh ủy một cách nghiêm khắc. Căn cứ theo đề nghị này thì cuộc đời chính trị của Nguyễn Trường Tô, Hoàng Minh Nhất và Nguyễn Bình Vận coi như chấm dứt.

Tuy nhiên, hai ngày sau khi bản thông báo nói trên phổ biến trong công luận, Trần Hải Dương, chánh văn phòng của Ủy ban nhân dân tỉnh Hà Giang đã cùng với một số cán bộ của Tỉnh mở cuộc họp báo tuyên bố rằng những kết luận của Ủy ban kiểm tra trung ương là chưa thỏa đáng vì chỉ căn cứ trên những tấm hình khỏa thân truy ra được từ điện thoại di động của một gái “bán dâm” để kết luận Nguyễn Trường Tô sống buông thả từ năm 2005 đến nay. Theo Tỉnh Hà Giang thì những kết luận của Ủy ban kiểm tra đưa ra chưa đủ chứng cứ và thiếu thuyết phục. Ông Dương cho biết là tỉnh ủy và ủy ban nhân dân tỉnh đang chờ quyết định của Ban bí thư trung ương đảng. Do đó mà tính đến hôm nay Nguyễn Trường Tô vẫn tham dự các Hội nghị quan trọng của tỉnh với tư cách chủ tịch Ủy ban nhân dân.

Nguyễn Bình Vận, Hoàng Minh Nhất, Nguyễn Trường Tô

Như vậy sau 4 năm “xung đột” quyền lực giữa một số phe nhóm ở trung ương với tỉnh Hà Giang, cuối cùng vụ án Hà Giang sẽ được quyết định tại Ban bí thư mà Trương Tấn Sang, thường trực ban bí thư sẽ ngồi ghế “chánh thẩm”. Đây là vụ án chính trị biểu hiện rõ nét nhất của tình trạng sứ quân trong đảng Cộng sản Việt Nam và những thủ đoạn triệt hạ lẫn nhau giữa các phe nhóm khi sắp đến thời điểm tuyển chọn nhân sự trung ương cho đại hội đảng. Vụ án Hà Giang không đơn thuần là vụ án “mua dâm nữ sinh” của một số cán bộ cao cấp trong tỉnh Hà Giang mà còn là những tranh chấp quyền và lợi giữa lãnh đạo tỉnh Hà Giang với một số cán bộ trong chính quyền Nguyễn Tấn Dũng qua công ty Sông Lô. Tại sao?

Vụ án Hà Giang bắt đầu bùng nổ vào tháng 9 năm 2009 khi một số phụ huynh đã tố cáo Sầm Đức Xương, hiệu trưởng trường trung học phổ thông Việt Lâm, Hà Giang có hành vi ép buộc nữ sinh bán dâm. Công an Hà Giang xúc tiến điều tra và đã xác định có hai nữ sinh Nguyễn Thị Thanh Thúy sinh năm 1991 và Nguyễn Thúy Hằng sinh năm 1992 liên hệ tới vụ án. Ngày 6 tháng 11 năm 2009, tòa án nhân dân huyện Vị Xuyên tuyên phạt Sầm Đức Xương 10 năm và 6 tháng tù giam vì tội mua dâm nhiều lần với trẻ vị thành niên, phạt hai nữ sinh Thanh Thuý và Thuý Hằng, mặc dù tòa xác định là “nạn nhân” mua vui cho hiệu trưởng, nhưng lần lượt đã bị kêu án 6 năm và 5 năm tù về tội môi giới mại dâm. Vào lúc này tên của Nguyễn Trường Tô bị xì ra là có liên hệ đến vụ án mua dâm nhưng không báo chí nào dám nêu tên ông ta vì bị áp lực từ phía Tỉnh ủy.

Sau phiên tòa, cả ba người nói trên kêu oan. Đặc biệt là hai nữ sinh Thúy và Hằng đã viết đơn tố cáo nhiều lần bị hiệu trưởng Sầm Đức Xương bắt ép đi phục vụ tình dục cho khoảng hơn 10 cán bộ cao cấp của Tỉnh trong đó có Nguyễn Trường Tô. Đơn tố cáo của hai nữ sinh này đã được luật sư biện hộ phổ biến rộng rãi và nộp lên Hội đồng xử phúc thẩm tỉnh Hà Giang vào ngày 27 tháng 1 năm 2010. Căn cứ trên đơn tố cáo này, ngày 1 tháng 2 năm 2010, tòa án nhân dân tỉnh Hà Giang tuyên bố hủy án sơ thẩm xử tại tòa án ở huyện Vị Xuyên vì tòa cho rằng cấp sơ thẩm đã sai phạm nghiêm trọng về thủ tục và vụ án còn nhiều vấn đề phải làm rõ. Nói cách khác là tòa án tỉnh Hà Giang đã buộc phía công an phải điều tra lại và lập thủ tục truy tố mới đối với Sầm Đức Xương và hai nữ sinh Thúy và Hằng. Lần này thì có Bộ công an được chỉ định dính vào vụ điều tra, không để cho công an Tỉnh Hà Giang làm một mình.

Trong khi vụ án mua dâm nói trên đang được điều tra và chưa xét xử trở lại thì Ủy ban kiểm tra trung ương đảng đã ra tay trước đối với Nguyễn Trường Tô. Điều này cho thấy là Trung ương đã “chặt” Nguyễn Trường Tô và vây cánh tại Hà Giang trước khi tiến hành vụ xử với mục tiêu không để đám sứ quân Hà Giang chi phối bản án một lần nữa. Câu hỏi được đặt ra là tại sao Ủy ban kiểm tra Trung ương đảng không đưa ra kết luận từ năm 2006 sau khi công an thị xã Hà Giang bắt được gái mãi dâm Nguyễn Thị Dung và truy tìm trong điện thoại di động của Dung có 13 tấm hình trần truồng nằm trên giường của Nguyễn Trường Tô. Nghĩa là công an và ủy ban kiểm tra trung ương đã biết Nguyễn Trường Tô “sống buông thả” từ năm 2005 theo như báo cáo mà vẫn làm ngơ?

Nguyễn Trường Tô nổi tiếng không chỉ vụ mua dâm nữ sinh mà còn dám “dọa nạt” đại biểu quốc hội Lê Văn Cuông của tỉnh Thanh Hóa vì ông Cuông đã chất vấn Nguyễn Tấn Dũng tại quốc hội vào tháng 11 năm ngoái, rằng ông Tô đã không thèm chấp hành lệnh của ông Dũng giải quyết vụ khiếu nại của công ty Sông Lô ở Hà Giang. Ông Lê Văn Cuông nói rằng Nguyễn Tấn Dũng đã chỉ thị nhiều lần phải giải quyết vụ tiền bạc của công ty xây dựng Sông Lô, nhưng Nguyễn Trường Tô lờ không chấp hành. Lúc đó Nguyễn Tấn Dũng đã trả lời rằng ông ta muốn theo gương Phạm Văn Đồng không muốn kỷ luật bất cứ ai. Tuy nhiên ông Cuông thì bị Nguyễn Trường Tô và những đại biểu quốc hội thuộc Tỉnh Hà Giang gọi điện thoại chất vấn và hăm dọa đủ điều về sự việc nói trên. Điều mà người ta thắc mắc là tại sao Lê Văn Cuông, đại biểu ở tỉnh Thanh Hóa, không có liên hệ gì với tỉnh Hà Giang mà lại đứng lên chất vấn “thủ tướng” một vấn đề khá tế nhị ở một địa phương khác. Cuộc chất vấn này lại xảy ra ngay vào thời điểm diễn ra phiên tòa mua dâm nữ sinh có liên hệ đến ông Tô, tháng 11 năm 2009.

Với sự kiện nói trên, người ta thấy hình ảnh Nguyễn Trường Tô quả là một “lãnh chúa” vùng Hà Giang mà chính Nguyễn Tấn Dũng không đụng vào được. Theo tin tức thì công ty Sông Lô đã trực tiếp thầu xây dựng khoảng 16 dự án tại tỉnh Hà Giang như xây dựng công viên nước Hà Phương, dự án đường Tùng Ba – Na Sơn, dự án đường Tráng Kìm – Đường Thượng, dự án đường cây số 9 – Quốc lộc 4 đi xã Thái An, Dự án tường kè chắn đất bờ Đông Sông Lô v…v… lên đến hàng trăm ngàn tỷ đồng. Tuy nhiên theo khiếu nại của công ty Sông Lô thì Nguyễn Trường Tô đã không trả tiền một số dự án lên đến hàng chục tỷ đồng với lý do là thi công sai hay không hoàn thành đúng thời hạn. Nguyễn Tấn Dũng đã ra nhiều văn thư chỉ thị tỉnh Hà Giang phải giải quyết, đồng thời cử cả tổ công tác thanh tra chính phủ đến làm việc nhưng Ủy ban nhân dân tỉnh Hà Giang vẫn làm ngơ.


Sau khi vụ chất vấn của đại biểu Lê Văn Cuông nổ ra ở quốc hội và vụ án mua dâm đem ra xét xử vào tháng 11 năm 2009, Nguyễn Tấn Dũng đã “thân hành” đến Tỉnh Hà Giang họp với ban lãnh đạo tỉnh trong hai ngày 9 và 10 tháng 1 năm 2010 để yêu cầu giải quyết vụ trả tiền cho công ty Sông Lô. Sau khi Nguyễn Tấn Dũng ra về, lãnh đạo Tỉnh chần chừ chưa muốn giải quyết; nhưng khi tòa án tỉnh Hà Giang ra lệnh hủy bỏ bản án sơ thẩm vụ án mua dâm nữ sinh và bắt xử lại từ đầu vào đầu tháng 2 thì Nguyễn Trường Tô ra lệnh cho đàn em của mình là Hoàng Đình Châm, Ủy viên thường vụ tỉnh ủy, phó chủ tịch ủy ban nhân dân tỉnh, tham dự cuộc đối thoại với đại diện công ty Sông Lô qua sự trung gian tổ chức của tổ thanh tra chính phủ vào ngày 11 tháng 3 năm 2010. Trong cuộc đối thoại này, Tỉnh Hà Giang đồng ý trả 26 tỷ đồng nợ cho công ty Sông Lô.

Sau khi công ty Sông Lô nhận được số tiền nói trên vào cuối tháng 3 thì bốn tháng sau, Nguyễn Trường Tô, Hoàng Minh Nhất, Nguyễn Bình Vận… những lãnh chúa của Hà Giang đã bị trung ương đề nghị lột chức, khiển trách trong thông báo ngày 5 tháng 7 của Ủy ban kiểm tra. Đây có thể coi như sự phủi tay của một thế lực nào đó ở Trung ương đã từng che chở cho các lãnh chúa Hà Giang nhưng nay phải rút lại vì thấy nhóm Hà Giang đã thua cuộc trong vụ đấu với phe Nguyễn Tấn Dũng qua vụ công ty Sông Lô. Điều này cho thấy là việc Ủy ban kiểm tra trung ương dựa trên các tấm hình trần truồng của Nguyễn Trường Tô để đề nghị kỷ luật một số cán bộ tại Hà Giang chỉ dựa vào ngọn của vấn đề. Tức là dựa trên sự suy đồi đạo đức của cán bộ để tung ra biện pháp kỷ luật nhằm che dấu sự xung đột gay gắt về đặc quyền, đặc lợi giữa các phe trong nội bộ. Chính cán bộ tỉnh Hà Giang trong cuộc họp báo cũng thấy lý cớ mà Ủy ban kiểm tra đưa ra không thuyết phục vì không dám nói thật.

Nếu chịu khó suy nghĩ ta sẽ thấy: sự kiện tòa án tỉnh Hà Giang tuyên bố hủy kết quả sơ thẩm vụ án mua dâm nữ sinh bắt điều tra và xử lại từ đầu, vụ đưa Lê Văn Cuông – đại biểu quốc hội Thanh Hóa – ra chất vấn Nguyễn Tấn Dũng về thái độ ngang bướng của Nguyễn Trường Tô, đặc biệt là vụ Tỉnh Ủy Hà Giang họp báo tuyên bố bất phục kết luận của Ủy ban kiểm tra trung ương, cho thấy là cả một chuỗi những sự dàn dựng của một số phe nhóm để tìm cách triệt hạ lẫn nhau. Nhiều phần, quyết định của Ban bí thư đảng sẽ dựa trên kết luận của Ủy ban kiểm tra, tức là bộ ba Tô – Nhất – Vận sẽ ra đi; nhưng vụ án Hà Giang một lần nữa cho thấy là sự đấu đá giữa trung ương và địa phương đã trở nên gay gắt, nghiêm trọng.

Ngày 17/7/2010


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét